1984 Lời người dịch



tải về 1.54 Mb.
trang14/19
Chuyển đổi dữ liệu05.08.2016
Kích1.54 Mb.
1   ...   11   12   13   14   15   16   17   18   19
Winston đã lấy lại đủ bình tĩnh để lên tiếng. "Các ông không làm thế được !" anh thều thào nói.
"Anh muốn nói gì với nhận xét đó, Winston ?"
"Các ông không thể tạo được một thế giới như ông vừa tả. Đó là một giấc mơ. Nó không thể có được."
"Tại sao ?"
"Không thể dựng được một nền văn minh trên sự sợ hãi, hận thù và bạo tàn. Nó không thể sống lâu."
"Tại sao không ?"
"Nó sẽ không có sức sống. Nó sẽ tan rã. Nó sẽ tự sát."
"Bậy nào. Anh còn ấn tượng rằng hận thù làm kiệt sức hơn tình yêu. Làm sao lại phải thế ? Mà nếu vậy thì đã sao ? Cho là chúng tôi muốn kiệt sức nhanh hơn. Cho là chúng tôi thúc mau nhân sinh tới độ con người đã già vào cỡ ba mươi. Vẫn vậy thì đã làm sao ? Anh không thể hiểu rằng cái chết của cá nhân không phải là chết ư ? Đảng bất tử."
Như thường lệ, giọng nói đã đập Winston vào thế bất lực. Hơn thế nữa, anh e sợ O'Brien sẽ vặn đồng hồ trở lại nếu anh khăng khăng phản đối. Ấy thế mà anh không thể im lặng được. Một cách yếu đuối, dù không có luận cứ, không có gì hỗ trợ anh ngoài sự ghê rợn không thốt ra được của anh đối với những điều do O'Brien khẳng định, anh tấn công trả lại.
"Tôi không biết — tôi bất cần. Thế nào các ông cũng sẽ thất bại. Sẽ có cái gì đánh bại các ông. Đời sống sẽ đánh bại các ông."
"Chúng tôi kiểm soát đời sống ở mọi mức độ, Winston à. Anh đang tưởng tượng có cái gì gọi là nhân bản sẽ bị xúc phạm bởi việc làm của chúng tôi và sẽ phản công lại chúng tôi. Nhưng chúng tôi tạo ra nhân bản. Con người dễ dát vô cùng. Hay có lẽ anh đã quay về ý cũ của anh cho rằng dân đen hay nô lệ sẽ nổi dậy lật đổ chúng tôi. Anh dẹp ý tưởng đó đi. Họ bất lực, tựa như súc vật. Nhân loại là Đảng. Những kẻ khác ở ngoài — không đáng nhắc tới."
"Tôi bất kể. Tận cùng họ sẽ đánh bại các ông. Sớm muộn gì họ cũng sẽ thấy rõ bộ mặt thực của các ông, và lúc đó họ sẽ phanh thây các ông ra từng mảnh."
"Anh có thấy dấu hiệu nào chỉ rằng điều đó sẽ xảy ra không ? Hay lý do nào khiến nó sẽ phải xảy ra chăng ?"
"Không. Tôi tin vậy. Tôi biết các ông sẽ thất bại. Có một cái gì trong vũ trụ — tôi không rõ, kiểu như tinh thần, hay nguyên lý — các ông không bao giờ chế ngự nổi."
"Anh có tin có Chúa Trời không, Winston ?"
"Không."
"Thế thì cái nguyên lý sẽ đánh bại chúng tôi là gì vậy ?"
"Tôi không biết. Thần linh của Giống Người."

"Thế anh có coi chính anh là người không ?"


"Có."
"Nếu anh là người, Winston ạ, anh là con người cuối cùng. Loại người như anh đã tuyệt giống; chúng tôi là kẻ thừa kế. Anh có hiểu rằng anh cô độc không ? Anh ở ngoài lịch sử, anh không hiện hữu." Điệu bộ O'Brien thay đổi và ông nói xẵng hơn: "Chắc hẳn anh coi anh có luân lý hơn chúng tôi vì chúng tôi lừa dối và ác độc ?"
"Phải, tôi cho tôi hơn các ông."
O'Brien không nói. Hai giọng khác lên tiếng. Sau một lúc Winston nhận ra một giọng chính là giọng mình. Đó là bản thâu thanh câu chuyện giữa anh và O'Brien đêm anh gia nhập Hội Tình Thân. Anh nghe thấy mình hứa sẽ nói dối, ăn cắp, giả mạo, ám sát, khuyến khích sự nghiện ngập và mãi dâm, truyền bá bệnh hoa liễu, tạt cường toan vào mặt trẻ nít. O'Brien hơi có một cử chỉ sốt ruột, ý như muốn bảo sự chứng minh không mấy xứng đáng. Rồi ông ta ấn vào một nút và hai giọng kia ngưng.
"Đứng dậy ra khỏi giường," ông ra lệnh.
Dây buộc tự tháo ra. Winston cúi người xuống sàn và chập choạng đứng dậy.
"Anh là con người cuối cùng," O'Brien nói. "Anh là kẻ gìn giữ thần linh của giống người. Anh sẽ thấy anh thực sự ra sao. Cởi quần áo ra."
Winston tháo sợi dây nối liền bộ áo liền quần của anh. Khóa kéo của bộ quần áo đã bị giựt đi từ lâu. Anh không nhớ từ khi anh bị bắt đã có lần nào anh cởi hết quần áo cùng một lúc chưa. Dưới bộ áo liền quần cơ thể anh được quấn với giẻ vàng úa bẩn thỉu, khó nhận ra được là quần áo lót sót lại. Đương lúc tuột cả xuống đất, anh thấy có một tấm gương ba mặt ở tận cuối phòng. Anh tiến lại gần nó, rồi bỗng dừng phắt chân lại. Một tiếng kêu không chủ ý buột khỏi miệng anh.
"Tiến lên," O'Brien nói. "Đứng giữa hai cánh gương. Anh sẽ thấy thêm cả hình nghiêng."
Anh đã dừng bước vì anh khiếp sợ. Một vật xám, khom, giống như bộ xương người đang tiến về phía anh. Hình dáng nó đáng sợ thật, chứ không phải chỉ sự anh biết đó chính là anh làm anh sợ. Anh tiến lại gần tấm gương hơn. Khuôn mặt của sinh vật gồ ra vì thân hình còng lại. Một khuôn mặt thiểu não của kẻ tù tội với vừng trán hói rút về một cái đầu trọc, với cái mũi lệch cùng đôi gò má hóp ở dưới một cặp mắt hung dữ chòng chọc. Má thì nhăn nheo, miệng gần như mím lại. Chắc chắn đấy là khuôn mặt của chính anh, nhưng anh thấy nó thay đổi nhiều hơn tinh thần anh. Những xúc cảm ghi trên nó có vẻ khác những xúc cảm đã xâm nhập anh. Anh đã đâm hói đầu. Thoạt đầu anh còn tưởng anh đã bạc đầu, nhưng hóa ra da đầu anh màu xám. Trừ tay và một vòng trên mặt anh, khắp thân thể anh xám xịt vì ghét lưu cữu, bám chặt. Đó đây dưới ghét bụi có nhiều vết thương đỏ lòm, và ở gần đầu gối vết loét giãn tĩnh mạch là một khối sưng vù tróc da từng mảnh. Nhưng điều thật hãi hùng là sự hốc hác của thân thể anh. Lồng ngực anh hẹp như lồng xương sườn: cẳng anh thóp lại khiến đầu gối anh to hơn đùi anh. Bây giờ anh hiểu O'Brien ám chỉ gì khi bảo anh nhìn hình nghiêng. Đường cong của xuơng sống anh coi lạ lùng. Đôi vai mỏng còng ra trước như để làm khoang cho ngực, cái cổ trơ xương trĩu xuống gấp hai dưới sức nặng của sọ. Ước chừng anh có thể nói đó là thân thể của một ông già sáu mươi, đang bị hành bởi một chứng bệnh nan y.
"Thỉnh thoảng anh vẫn cho rằng mặt tôi — mặt của một thành viên Đảng Trong — coi vẻ già nua," ông nói. "Anh nghĩ gì về bộ mặt của chính anh đây ?"
Ông ta nắm vai Winston, quay người anh lại cho ông ta nhìn thẳng vào mặt anh.
"Hãy xem tình trạng anh !" ông ta nói. "Hãy xem lớp bụi phủ khắp người anh. Xem chất ghét giữa ngón chân anh. Xem vết loét ghê tởm lan rộng trên chân anh. Anh có biết anh hôi như trù không ? Có lẽ anh hết để ý đến điều ấy. Xem sự hốc hác của anh. Anh thấy không ? Tôi có thể lấy ngón tay tôi vòng bắp tay anh. Tôi có thể bẻ gẫy cổ anh như bẻ cà rốt. Anh có biết anh sụt mất hai mươi nhăm ký từ khi anh lọt vào tay chúng tôi không ? Cả tóc anh cũng rụng mất từng nắm. Coi !" Ông ta vò đầu Winston lấy ra một mớ tóc. "Há miệng ra nào. Còn có chín, mười, mười một cái răng. Anh có bao nhiêu cái khi anh vào đây với chúng tôi ? Mà mấy cái còn lại sắp rớt khỏi đầu anh. Xem này !"
Ông ta bắt một chiếc răng cửa còn lại của Winston giữa hai ngón tay cái và tay trỏ mạnh mẽ của ông. Một cơn đau nhói xuyên qua hàm Winston. O'Brien đã vặn rứt rễ chiếc răng long. Ông ta quẳng nó qua xà lim.
"Anh đang mủn thối," ông ta nói. "Anh đang rã mục. Anh là gì ? Một cái bị dơ dáy. Xoay người lại rồi nhìn vào gương lần nữa đi nào. Anh có thấy cái vật trước mặt anh không ? Đó là con người cuối cùng đấy. Nếu anh là người, nhân loại thế đấy. Thôi, mặc quần áo trở lại."
Winston mặc quần áo vào với những cử động chậm chạp cứng đờ. Tới bây giờ hình như anh chưa nhận thấy mình gầy yếu đến chừng nào. Chỉ có một ý nghĩ xoay vần trong óc anh: chắc anh đã ở chốn này lâu hơn anh tưởng. Rồi bất thình lình đương lúc ngắm mớ giẻ quanh anh, một nỗi thương tâm đối với tấm thân điêu tàn của mình tràn ngập anh. Trước khi biết mình làm gì anh đã ngã sụp xuống một chiếc ghế đẩu nhỏ cạnh giường òa lên khóc. Anh ý thức sự xấu xí kệch cỡm của mình, một đống xương bận áo lót bẩn thỉu ngồi khóc dưới ánh đèn trắng toát: nhưng anh không dằn được. O'Brien đặt một tay trên vai anh, gần như ái ngại.
"Không mãi mãi thế này đâu," ông nói. "Anh có thể thoát cảnh này khi nào anh muốn. Mọi sự tùy thuộc anh."
"Ông xui ra thế !" Winston sụt sùi. "Ông dìm tôi vào trạng thái này."
"Không, Winston, chính anh tự dìm anh vào đó. Đấy là sự anh chấp nhận khi anh bắt tay chống lại Đảng. Mọi sự được chứa trong hành động đầu tiên ấy. Không có gì xảy ra mà anh không biết trước."
Ông tạm ngưng rồi tiếp tục:
"Chúng tôi đã đánh bại anh, Winston. Chúng tôi đã hủy hoại anh. Anh đã thấy thân thể anh ra sao. Tinh thần anh cũng cùng tình trạng. Tôi không cho là anh có thể còn nhiều kiêu hãnh. Anh đã bị đấm, bị quật, bị chửi, anh đã hét vì đau đớn, anh đã lăn lộn trên sàn trong máu và chất mửa của anh. Anh đã khóc lóc xin tha, anh đã phản bội mọi người, mọi sự. Anh có thể nghĩ được ra một hành động đê tiện chưa do anh làm không ? "
Winston đã ngưng khóc mặc dầu anh vẫn nhỏ nước mắt. Anh nhìn lên O'Brien.
"Tôi đã không phản Julia," anh nói.
O'Brien trầm ngâm nhìn xuống anh. "Không," ông bảo; "không; điều đó hoàn toàn đúng. Anh đã không phản Julia."
Lòng tôn kính đặc biệt đối với O'Brien, mà không có gì có vẻ diệt nổi, tràn ngập trở lại tim Winston. Thông minh biết bao, anh nghĩ, thông minh biết bao ! Bao giờ O'Brien cũng hiểu những điều nói với ông. Ai khác trên thế gian cũng đã nhanh nhẩu trả lời rằng anh đã phản Julia. Vì có gì mà chúng chẳng vặn khỏi anh dưới cực hình ? Anh đã nói cho chúng mọi điều anh biết về nàng, những thói quen của nàng, tính nết nàng, quá khứ của nàng; anh đã khai với từng chi tiết tầm thường nhất mọi sự xảy ra trong những cuộc họp mặt của anh với nàng, mọi điều anh nói với nàng và nàng với anh, những bữa cơm chợ đen của hai người, tình yêu vụng trộm của anh và nàng, những mưu toan mơ hồ của hai người chống Đảng — mọi sự. Song le, theo nghĩa anh dùng cho danh từ, anh đã không phản nàng. Anh đã không ngưng yêu nàng; tình cảm của anh đối với nàng vẫn y nguyên. O'Brien đã hiểu anh muốn nói gì không cần anh giải thích.
"Xin ông cho biết khi nào tôi bị bắn ?" anh hỏi.
"Có thể còn lâu," O'Brien nói. "Anh là một ca khó. Nhưng đừng thất vọng. Rồi ai cũng khỏi bệnh chẳng sớm thì muộn. Sau cùng chúng tôi sẽ bắn anh."
Anh khỏe hơn. Ngày ngày, nếu nói về ngày thích đáng, anh mập và lớn ra.
Ánh đèn trắng và tiếng ù ù vẫn như trước. Nhưng xà lim hơi có tiện nghi hơn các xà lim anh đã từng ở khác. Có một chiếc gối và một tấm nệm trên giường phản, cùng một chiếc ghế đẩu để ngồi. Chúng đã cho anh tắm một lần và cho phép anh rửa ráy khá thường xuyên trong một chậu kẽm. Chúng cho anh cả nước nóng để rửa. Chúng đã cho anh quần áo lót mới cùng một bộ áo liền quần sạch sẽ. Chúng đã xoa dầu chỉ thống trên vết loét giãn tĩnh mạch của anh. Chúng đã nhổ những răng còn lại của anh và cho anh một bộ răng giả mới.
Hàng tuần hay hàng tháng chắc đã trôi qua. Bây giờ có thể tính được thời gian qua, nếu anh muốn làm vậy, vì anh được nuôi ăn tuồng như cách quãng đều. Theo anh ước chừng, thì mỗi hai mươi tư tiếng anh được ăn ba bữa; thỉnh thoảng anh tự hỏi anh đang ăn cơm sáng hay tối. Thức ăn ngon kỳ dị, cứ ba bữa thì một bữa có thịt. Có lần có cả một gói thuốc lá. Anh không có diêm, nhưng tên lính canh không bao giờ mở miệng mang cơm đến cho anh đã cho anh lửa. Lần đầu tiên anh thử hút, thuốc làm anh khó ở, nhưng anh kiên trì, và kéo dài được lâu gói thuốc bằng cách hút có nửa điếu sau mỗi bữa ăn.
Chúng đã cho anh một tấm đá bảng trắng với một mẩu bút chì buộc nơi góc. Thoạt đầu anh không dùng nó. Ngay khi anh tỉnh anh cũng hoàn toàn đờ đẫn. Anh hay nằm từ bữa cơm này sang bữa cơm kia, không nhúc nhích, lúc ngủ, lúc thức trong mơ màng không chịu phiền mở mắt. Đã từ lâu anh quen ngủ với ánh đèn sáng chói trên mắt. Hầu như có đèn hay không chẳng khác gì, ngoài sự giấc mơ mạch lạc hơn. Suốt thời gian này anh nằm mơ nhiều hơn, và đó luôn luôn là giấc mộng đẹp. Anh ở Xứ Vàng, hay anh ngồi giữa những phế tích tắm nắng, hiển hách, đồ sộ, cùng với mẹ anh, với Julia, với O'Brien — không làm gì cả, chỉ ngồi dưới nắng, nói chuyện êm đềm. Những tư tưởng đến với anh khi anh thức tỉnh phần đông liên quan đến giấc mơ của anh. Anh dường như mất khả năng hoạt động trí óc, vì bây giờ không còn sự kích thích của đau đớn. Anh không buồn phiền, anh không muốn nói chuyện hay giải trí. Chỉ ở một mình, không bị đánh đập hay tra hỏi, có đủ ăn, được sạch sẽ khắp mình, thế là đủ làm anh hoàn toàn hài lòng.
Dần dần anh ít mất thì giờ ngủ, nhưng anh vẫn không thấy có xung động ra khỏi giường. Anh chỉ muốn nằm yên và nghe sức khỏe tập trung trong cơ thể anh. Anh thường lấy ngón tay rờ chỗ nọ chỗ kia trên người, để trắc nghiệm sự bắp thịt anh tròn hơn và da anh căng hơn không phải là ảo tưởng. Cuối cùng không còn nghi ngờ gì, đúng anh mập ra; đùi anh bây giờ dày hẳn hơn đầu gối anh. Sau đó, tuy mới vào ngần ngại, anh bắt đầu tập thể thao đều đặn. Sau một thời gian ngắn, anh có thể đi bách bộ ba cây số trong xà lim, và đôi vai còng của anh thẳng dần lại. Anh luyện thử nhiều động tác thể dục chế biến hơn, và lạ lùng cùng lấy làm nhục khi thấy những điều anh không làm nổi. Anh không đi nhanh được, anh không thể thẳng tay cầm ghế đẩu, anh không đứng được lò cò một chân mà không té nhào. Anh ngồi sụp xuống gót, và thấy mình phải chịu đau nhừ nơi đùi và bắp chân mới nhấc người đứng lên nổi. Anh nằm sấp trên bụng và cố lấy tay đưa khối nặng của mình lên. Vô vọng, anh không nhấc nổi người lên được một phân. Nhưng vài ngày sau — thêm một ít bữa cơm nữa — ngay kỳ công đó cũng được thực hiện. Tới lúc anh có thể làm như thế đến sáu lần liền. Anh bắt đầu thực sự hãnh diện về cơ thể mình và ôm ấp niềm tin gián đoạn rằng mặt mũi anh cũng sắp bình thường trở lại. Chỉ những khi anh tình cờ sờ tay trên mảng da đầu trọc lóc của anh anh mới nhớ tới khuôn mặt nhăn nheo, tàn tạ nhìn lại anh từ trong gương.
Tâm trí anh đâm hoạt động hơn. Anh ngồi trên giường phản, lưng tựa vào tường với tấm đá bảng trên gối, cố ý bắt tay vào việc tự giáo dục cải tạo.
Anh đã đầu hàng, điều này đã được chấp nhận. Thực ra, như anh hiện thấy, từ lâu trước khi quyết định anh đã sẵn sàng đầu hàng. Từ lúc anh vào trong Bộ Tình Yêu — và phải, ngay trong những phút anh và Julia đứng bất lực trong khi giọng nói đanh đảnh từ máy truyền hình ra lệnh này nọ cho hai người, anh đã am hiểu tính cách phù phiếm, nông cạn của sự toan tính dấn thân vào việc chống đối quyền lực của Đảng. Nay anh biết trong bẩy năm trời Cảnh Sát Tư Tưởng đã quan sát anh như thể bọ hung dưới kính hiển vi. Không một hành động cụ thể nào, không một tiếng nói lớn nào mà chúng không ghi, không một chuỗi tư tưởng nào mà chúng không thể suy ra. Ngay cả hạt bụi trăng trắng trên bìa nhật ký của anh chúng cũng để lại cẩn thận. Chúng đã quay lại băng nhựa cho anh nghe, chúng đã cho anh xem hình. Vài tấm là hình chụp anh với Julia. Đúng, ngay... Anh không thể còn chống đối lại Đảng. Vả lại, Đảng có lý. Phải như thế; làm sao bộ óc tập thể, bất tử có thể lầm lẫn đụợc ? Lấy ngoại chuẩn gì mà kiểm điểm được những phán xét của Đảng ? Sự lành mạnh thuộc phạm vi thống kê. Đó chỉ là một vấn đề tập nghĩ như người ta. Chỉ thế — !
Bút chì cảm như dày và lóng cóng trong ngón tay anh. Anh bắt đầu ghi lại những tư tưởng xuất hiện trong óc anh. Anh viết trước bằng chữ cái vụng về:
TỰ DO LÀ NÔ LỆ
Rồi gần như liên tiếp anh viết ở dưới:
HAI VỚI HAI LÀ NĂM
Nhưng tới đây có một sự rụt rè. Tâm trí anh, như thể tránh điều gì, có vẻ không tập trung nổi. Anh biết anh biết điều gì tiếp theo, nhưng hiện anh không thể nhớ ra. Khi anh nhớ lại, đó chỉ là do anh cố tâm suy luận ra điều tất phải nối tiếp: nó không tự dưng đến. Anh viết:
THIÊN CHÚA LÀ QUYỀN LỰC
Anh chấp nhận mọi sự. Quá khứ có thể biến đổi. Quá khứ không bao giờ biến đổi. Đại Dương đánh nhau với Đông Á. Đại Dương không bao giờ đánh nhau với Đông Á. Jones, Aaronson và Rutherford có phạm những tội buộc cho họ. Anh không hề nhìn thấy tấm hình phủ nhận tội họ. Nó không bao giờ có, anh đã bịa ra nó. Anh nhớ anh từng nhớ nhiều điều trái ngược, nhưng đó là những ký ức sai lầm, sản phẩm của sự tự kỷ ám thị. Tất cả dễ làm sao ! Chỉ cần đầu hàng là mọi sự khác theo sau. Y như bơi ngược một dòng nước cứ quét mình trở lại dù mình chống cự mạnh thế nào chăng nữa, và rồi bỗng quyết định bơi theo chiều nước thay vì ngược dòng. Không có gì thay đổi ngoài thái độ của chính mình: việc phải đến thế nào rồi cũng đến. Anh khó hiểu tại sao anh đã từng phản nghịch. Mọi sự thật giản dị, ngoại trừ — !
Cái gì cũng có thể đúng. Những thứ gọi là định luật thiên nhiên vô nghĩa lý. Định luật về sức hấp dẫn vô nghĩa lý. "Nếu tôi muốn," O'Brien có nói, "tôi có thể rời sàn này mà bay phất phới như bọt xà phòng". Winston nghiền ngẫm câu đó. "Nếu ông ta nghĩ ông ta bay lơ lửng trên sàn, và nếu đồng thời mình nghĩ mình nhìn thấy ông ta làm thế, sự kiện sẽ xảy ra như vậy." Bỗng nhiên, như một khối vật chìm trôi dạt phá vỡ mặt nước, ý nghĩ này vụt hiện trong óc anh: "Điều đó không thực sự xảy ra. Ta tưởng tượng ra nó. Đó là một ảo giác." Anh dẹp ngay tư tưỏng này đi. Sự sai lầm thật hiển nhiên. Nó giả định rằng đâu đó, ngoài con người, có một thế giới "thật" trong đó xảy ra sự kiện "thật". Nhưng làm sao một thế giới như thế có thể có được ? Đâu có sự hiểu biết nào ngoài trung gian của trí óc ? Mọi hiện tượng đều nằm trong trí óc. Điều gì cũng xảy ra trong óc, thực sự xảy ra.
Bác bỏ ý nghĩ sai lầm không khó khăn gì đối với anh, và không có nguy anh không cưỡng nổi nó. Tuy nhiên, anh hiểu đáng nhẽ nó không bao giờ được đến với anh. Trí óc phải khai triển một tấm màn kín bưng mọi tư tưởng nguy hiểm tự nhiên xuất hiện. Quá trình phải tự động, do bản năng. Chặn tội, đó là danh từ chỉ việc này trong Ngôn Mới.
Anh bắt tay vào việc luyện phép chặn tội. Anh tự đưa ra những đề xuất như: "Đảng bảo trái đất bẹt", "Đảng bảo đá nặng hơn nước" — và tập cho mình không thấy hay không hiểu những lý lẽ chống lại những lời phát biểu ấy. Việc làm không dễ dàng. Nó đòi hỏi nhiều khả năng lý luận và ứng biến. Những vấn đề số học do một mệnh đề như "hai với hai là năm" nêu ra, chẳng hạn, vượt tầm trí thức anh. Nó còn cần một thứ thể thao tâm trí, một khả năng sử dụng luận lý một cách hết sức tinh tế, xong rồi lại không để ý đến những lỗi lầm luận lý thô thiển nhất. Óc ngu xuẩn cần thiết ngang trí thông minh, và cũng khó đạt chẳng kém.
Suốt trong khi đó, một phần óc anh tự hỏi bao giờ chúng sẽ bắn anh. "Mọi sự tùy thuộc anh," O'Brien có nói; nhưng anh biết không một hành động ý thức nào của anh có thể khiến cái chết lại gần anh hơn. Có thể mười phút nữa, hay mười lăm nữa. Chúng có thể giữ anh hàng năm trong cảnh giam hãm đơn độc, chúng có thể đưa anh đến một lao trại, chúng có thể thả anh ra một thời gian, như chúng thỉnh thoảng làm. Rất có thể trước khi anh bị bắn, toàn tấn bi kịch bắt bớ và tra hỏi sẽ lại trọn tái diễn. Điều chắc chắn nhất là cái chết không bao giờ đến đúng lúc chờ đợi. Theo truyền thống — cái truyền thống không thành lời: sao đó anh biết là vậy tuy không nghe thấy ai kể — chúng bắn sau lưng, luôn luôn vào gáy, không hề báo trước, đương lúc phạm nhân đi dọc hành lang từ xà lim này qua xà lim kia.
Một hôm — nhưng "một hôm" không phải là danh từ đúng; hẳn có thể lúc đó là vào nửa đêm: một lần — anh rơi vào một giấc mơ lạ lùng, êm đẹp. Anh đang bước dọc hành lang chờ đợi viên đạn. Anh biết nó sắp tới. Mọi sự đã được an bài, san phẳng, hòa giải. Không còn nghi ngờ, không còn luận cứ, không còn đau đớn, không còn sợ hãi. Thân thể anh khỏe khoắn, mạnh mẽ. Anh bước chân dễ dàng, vui vẻ trong cử động, với cảm tưởng bước trong ánh nắng. Anh không còn ở trong các hành lang trắng hẹp của Bộ Tình Yêu, anh ở trên một con đường cái lớn trãi nắng, rộng một cây số, trên đó anh hình như bước trong cơn mê sảng vì bị thuốc quá độ. Anh ở trong Xứ Vàng, noi theo con đường mòn băng qua cánh đồng xưa bị thỏ gặm. Anh cảm thấy được đệm cỏ ngắn mềm dẻo dưới chân anh và ánh nắng dịu trên mặt anh. Tại bờ cánh đồng có cây du non rung rinh, và đâu đó bên kia là dòng suối có cá vàng bơi trong vũng nước xanh dưới vòm cây liễu.
Bỗng dưng anh giật mình khiếp sợ. Mồ hôi tua trên xương sống anh. Anh nghe thấy mình kêu to:
"Julia ! Julia ! Julia, em yêu ! Julia !"
Trong một lúc anh đã có một ảo giác mãnh liệt về sự có mặt của nàng. Nàng tựa như không chỉ ở với anh, mà còn ở trong anh. Như thể nàng lọt vào kết cấu của da thịt anh. Lúc ấy anh yêu nàng hơn xa những lúc anh từng yêu nàng khi hai người ở cùng nhau và được tự do. Lại nữa anh biết rằng nàng còn sống đâu đó và đang cần sự giúp đỡ của anh.
Anh nằm lại trên giường và cố tự trấn tĩnh. Anh đã làm gì thế ? Anh đã kéo dài thêm bao năm chuỗi ngày nô lệ của anh với phút yếu đuối kia ?
Một lát sau anh nghe thấy tiếng giầy ống nện bên ngoài. Chúng không thể không trừng phạt một sự tai tiếng như vậy. Bây giờ chúng biết, nếu chúng chưa biết, anh đã xóa bỏ hiêp định mà anh đã thỏa với chúng. Anh tuân lệnh Đảng, nhưng anh vẫn ghét Đảng. Hồi xưa anh giấu một tinh thần dị giáo dưới một bề ngoài tuân thuận. Nay anh đã lui một bước xa hơn: trong trí óc thì anh đầu hàng, nhưng anh hy vọng giữ được thâm tâm bất khả xâm phạm. Anh biết thế là sai, nhưng anh thích sai lầm. Chúng sẽ hiểu thế — O'Brien sẽ hiểu thế. Tất cả đã được thú nhận trong độc tiếng kêu điên rồ kia.
Anh sẽ phải bắt đầu hết trở lại. Sự việc có thể kéo dài hàng năm. Anh quét tay qua mặt, cố làm quen với hình thù mới của mình. Có luống sâu trên má, gò má cảm như cao, mũi thì bẹt xuống. Ngoài ra, từ lần cuối anh nhìn thấy mình trong gương, anh đã được cấp một bộ răng mới đầy đủ. Không dễ giữ vẻ thản nhiên nếu không biết mặt mình ra sao. Thế nào chăng nữa, kiểm soát nét mặt không đủ. Lần đầu tiên, anh nhận thức rằng nếu muốn giữ một điều bí mật, phải giấu nó với chính mình. Lúc nào cũng phải biết nó nằm đó, nhưng cho tới khi cần không bao giờ để nó hiện trong ý thức dưới bất cứ hình thức nào có thể được gọi tên. Kể từ giờ trở đi, anh không chỉ nghĩ đúng, anh phải cảm thấy đúng, mơ mộng đúng. Và trong khi đó anh phải khóa chặt nỗi căm hờn của anh trong lòng anh như thể một hòn vật chất vừa là thành phần anh mà vừa không liên hệ gì đến anh, một loại u nang.
Có ngày chúng sẽ quyết định bắn anh. Không thể biết khi nào chuyện đó xảy ra, nhưng vài giây trước có thể đoán được. Bao giờ cũng từ sau lưng, khi mình đương đi dọc hành lang. Mười giây sẽ đủ. Lúc đó thế giới trong anh sẽ đảo lộn. Và bỗng nhiên, không thốt một tiếng, không ngưng một bước, không đổi một nét mặt — bỗng nhiên sự ngụy trang sẽ được hạ bỏ và păng ! ụ pháo cừu hận của anh sẽ bung nổ. Thù hận sẽ choán đầy anh như một ngọn lửa gầm vĩ đại. Và gần đúng lúc đó păng ! viên đạn sẽ bay, quá chậm hay quá sớm. Chúng sẽ đã bắn tan óc anh trước khi giằng lại được nó. Tư tưởng dị giáo sẽ không bị trừng trị, không được hối tiếc, vĩnh viễn vượt tầm tay chúng. Chúng sẽ đục bắn một lỗ hổng trong chính sự toàn mỹ của chúng. Chết trong sự căm hờn chúng, đó là tự do.
Anh nhắm mắt lại. Việc đó khó hơn sự chấp nhận một kỷ luật tinh thần. Đấy là một vấn đề tự hạ mình, tự hủy hoại mình. Anh phải ngập mình trong sự nhơ nhớp cùng cực. Cái gì ghê gớm nhất, buồn nôn nhất ? Anh nghĩ tới Bác. Khuôn mặt to lớn (vì thường thấy nó trên bích chương, anh luôn luôn có ấn tượng nó rộng một thước vuông), với bộ râu đen chắc nịch và cặp mắt láo liên theo dõi người ta, tuồng như tự dưng lơ lửng trong óc anh. Cảm tình thực sự của anh đối với Bác ra sao ?
Có tiếng giầy ống nặng nề nện trong lối đi. Cánh cửa thép mở toang ình. O'Brien bước vào xà lim. Sau ông là tên sĩ quan mặt sáp và mấy tên lính canh mặc đồng phục đen.
"Đứng dậy," O'Brien nói. "Lại đây."
Winston đứng trước mặt ông ta. O'Brien khép vai Winston trong đôi tay vạm vỡ của ông ta và nhìn anh chằm chặp.
"Anh đã có những tư tưởng lừa dối tôi," ông ta nói. "Thật ngu xuẩn. Đứng thẳng dậy. Nhìn thẳng vào mặt tôi."
Ông tạm ngưng rồi nói tiếp bằng một giọng ôn tồn hơn:
"Anh đang cải thiện. Về mặt tinh thần anh ít sai lầm. Anh chỉ thiếu tiến bộ về phương diện cảm xúc. Nói cho tôi nghe, Winston — và nhớ, không được nói dối: anh biết tôi luôn luôn phát hiện được ra lời giả dối — nói cho tôi nghe, cảm tình thật sự của anh đối với Bác ra sao ?"
"Tôi ghét Bác."
"Anh ghét Bác. Tốt. Vậy đã đến lúc anh đi bước cuối cùng. Anh phải yêu Bác. Tuân lệnh Bác không đủ: anh phải yêu Bác."
Ông buông Winston ra và đẩy anh lại phía lính canh.
"Phòng 101," ông ta nói.
Vào chặng nào anh cũng biết, hay hầu như biết, chỗ anh bị giam cầm trong tòa nhà không cửa sổ. Có thể có chút khác biệt trong áp suất không khí. Các xà lim chứng kiến lính canh đánh anh ở một tầng dưới đất. Căn phòng trong đó anh bị O'Brien tra tấn ở tít gần mái. Nơi đây ở nhiều thước dưới hầm, sâu hết sức sâu.
Căn phòng lớn hơn các xà lim anh đã từng ở. Nhưng anh khó nhận ra cảnh xung quanh. Vẻn vẹn anh chỉ thấy được hai chiếc bàn nhỏ trước mặt anh, mỗi bàn đều có khăn xéc xanh phủ trùm. Một bàn chỉ cách anh có một hai thước, bàn kia xa hơn, gần cửa. Anh bị trói thẳng người trên ghế, chặt đến nỗi anh không cử động được gì, kể cả đầu anh. Một thứ nùi móc ghìm đầu anh từ phía sau, ép anh nhìn thẳng trước mặt anh.
Anh ở một mình một thời gian, rồi cánh cửa mở để cho O'Brien bước vào.
"Có lần anh hỏi tôi phòng 101 có gì," O'Brien nói. "Tôi có bảo anh rằng anh thừa biết câu trả lời. Ai cũng biết nó. Cái ở trong phòng 101 là cái gớm ghê nhất thế giới."
Cánh cửa lại mở. Một tên lính canh đi vào, cầm theo một vật gì bằng dây thép, một hộp hay giỏ gì đó. Hắn đặt nó xuống chiếc bàn ở xa. Vì bị O'Brien đứng che, Winston không nhìn được rõ vật đó là gì.
"Cái gớm ghê nhất thế giới," O'Brien nói, "thay đổi với từng cá nhân. Nó có thể là bị chôn sống, bị đốt chết, bị chết đuối, hay bị cọc đâm xuyên người, hoặc năm chục kiểu chết khác. Có trường hợp nó là một vật rất tầm thường, không hề nguy hại."
Ông hơi xê dịch sang một bên, khiến Winston nhìn thấy rõ hơn vật để trên bàn. Đấy là một cái lồng sắt thuôn dài, có quai xách ở trên. Đóng vào mặt tiền lồng là một cái gì giống như một tấm mặt nạ dùng để đấu gươm, với phần lồi hướng ra ngoài. Mặc dầu nó cách anh ba bốn thước, anh có thể nhận thấy chiếc lồng được ngăn ra làm hai theo bề dài, mỗi ngăn chứa một loại sinh vật. Chúng là chuột.

"Trong trường hợp anh," O'Brien nói, "cái ghê gớm nhất thế giới xét ra là chuột."


Một cơn run động báo hiệu, một nỗi ghê sợ không rõ lý do, đã xuyên qua mình Winston ngay khi anh thoạt nhìn thấy cái lồng. Nhưng lúc này ý nghĩa của tấm mặt nạ che mặt tiền lồng bỗng nhập óc anh. Lòng dạ anh hầu như nhũn ra thành nước.
"Ông không thể làm thế !" anh thét run lên. "Ông không thể, ông không thể ! Không thể làm thế."
"Anh có nhớ cái cơn khủng hoảng thường ngoi lên trong giấc mơ của anh không ?" O'Brien nói. "Có một bức tường đen tối trước mặt anh, có một tiếng gầm vang trong tai anh. Có một vật khủng khiếp ở bên kia bức tường. Anh biết anh biết nó là gì nhưng anh không dám lôi nó ra ngoài ánh sáng. Vật ở bên kia bức tường chính là chuột."
"O'Brien !" Winston vừa nói vừa cố kiềm chế giọng mình. "Ông biết không cần phải làm thế. Ông muốn tôi làm gì nào ?"
O'Brien không trả lời thẳng. Khi lên tiếng ông ta lấy cái vẻ thầy đồ mà ông thỉnh thoảng mượn. Ông trầm tư mặc tưởng nhìn vào xa xăm, như thể nói với một cử tọa ở đâu đó sau lưng Winston.
"Tự nó, sự đau đớn không bao giờ đủ," ông nói. "Có những lúc con người chống lại được cơn đau, ngay cho tới mức chết. Nhưng mọi người ai cũng có một điều không chịu đựng nổi — một điều không thể lặng ngắm nổi. Không liên quan gì tới lòng can đảm hay hèn nhát. Nếu từ cao ngã xuống, bám vào giây thừng không có nghĩa là hèn. Nếu từ nước sâu nhô lên, hít không khí vào ngực không có nghĩa là hèn. Đó chỉ là một bản năng không thể hủy diệt được. Với chuột cũng vậy. Đối với anh chúng bất khả kham. Chúng là một hình thức áp lực anh không đương đầu nổi, dù anh có muốn. Anh sẽ thi hành điều đòi hỏi nơi anh."
"Nhưng đó là gì, đó là gì ? Tôi sẽ thi hành sao được nếu tôi không biết đó là gì ?"
O'Brien nhấc lồng lên mang nó qua bàn ở gần. Ông ta cẩn thận đặt nó trên tấm khăn bàn xéc. Winston nghe được tiếng máu rì rầm trong tai anh. Anh có cảm tưởng mình ngồi trong cảnh cô đơn toàn vẹn. Anh ở giữa một đồng bằng rộng lớn trống rỗng, một bãi sa mạc phẳng dãi nắng, nghe mọi tiếng động băng tới tai anh từ mênh mông xa xẳm. Song le cái lồng chuột không xa anh quá hai thước. Đó là giống chuột kếch sù. Chúng tới cái tuổi mõm chúng trồi ra thô tợn và lông chúng đổi xám thành nâu.
"Giống chuột," O'Brien vẫn nói như hướng về một cử tọa vô hình, "tuy thuộc loại gặm nhấm, là một giống ăn thịt. Anh biết thế. Chắc anh đã từng nghe kể những chuyện xảy ra trong các xóm nghèo thuộc thành phố này. Tại vài đường phố, phụ nữ không dám để con nhỏ một mình trong nhà, dù trong năm phút. Kẻo chắc chắn chuột sẽ tấn công đứa bé. Nội một thời gian ngắn chúng sẽ lột xương đứa nhỏ. Chúng cũng tấn công người ốm hoặc kẻ hấp hối.Chúng tỏ ra thông minh lạ lùng trong sự hiểu biết khi nào con người bất lực."
Có tiếng thé từ lồng vang lên. Tiếng kêu như dội lại tai Winston từ xa thẳm. Chuột đang đánh nhau; chúng đang gắng lăn xả vào nhau qua vách ngăn. Anh lại nghe thấy một tiếng rên xiết vì thất vọng. Tiếng này cũng dường như từ xa vọng lại.
O'Brien nhấc lồng lên, và đồng thời bấm một nút gì trong đó. Có tiếng cạch nhọn. Winston hoảng loạn cố gắng giứt mình khỏi ghế. Vô vọng; mọi phần cơ thể anh, kể cả đầu anh, bị giữ chặt. O'Brien xích lồng lại gần hơn. Nó cách mặt Winston dưới một thước.
"Tôi đã bấm vào đòn bẩy đầu," O'Brien nói. "Anh biết lối đóng lồng này. Tấm mặt nạ sẽ chùm kín đầu anh không chừa lối thoát. Khi tôi bấm vào đòn bẩy thứ hai, cửa lồng sẽ tuốt lên. Mấy hung thú đói sẽ tựa viên đạn bắn ra. Anh đã từng thấy chuột băng qua không trung chưa ? Chúng sẽ nhẩy vào mặt anh, tuôn tuột vào trong. Có khi chúng tấn công mắt trước. Có khi chúng đào má rồi cấu xé lưỡi."
Cái lồng đến gần hơn; nó sáp lại. Winston nghe thấy một tràng tiếng rít tuồng như thốt ra từ không trung trên đầu anh. Nhưng anh mãnh liệt chống đối cơn khủng hoảng. Suy nghĩ, suy nghĩ, dù chỉ còn nửa giây nữa — suy nghĩ được là hy vọng duy nhất. Bất thình lình mùi tanh nồng của hung thú đập vào mũi anh. Cơn buồn nôn nổi lên dữ dội trong người anh, và anh gần như mê man. Mọi sự đen sầm lại. Trong giây lát anh là một con thú gầm hét điên loạn. Song anh thoát khỏi sự đen tối với một ý nghĩ bám lấy anh. Chỉ có một cách tự cứu, một cách duy nhất. Anh phải đặt một người khác, thân thể của một người khác, giữa anh và chuột.
Lúc này vòng mặt nạ đủ to để bít mọi hình ảnh khác. Cánh cửa lưới sắt cách mặt anh có hai tấc tay. Mấy con chuột biết điều gì sắp tới. Một con nhẩy lên nhẩy xuống, một con, là chuột cống già có da thành vẩy, đứng thẳng, chân trước màu hồng bám vào song cửa, dữ dằn hít không khí. Winston thấy rõ mấy râu mép với cỗ răng vàng. Lại nữa, cơn khủng hoảng tối đen xâm nhập anh. Anh mù lòa, bất lực, ngây dại.
"Đây là hình phạt thông thường tại Trung Hoa dưới hoàng triều," O'Brien nói với vẻ mô phạm hơn bao giờ.
Tấm mặt nạ kề mặt anh. Dây thép cọ má anh. Và rồi — không, đó không phải là sự giải cứu, chỉ là một niềm hy vọng, một tia hy vọng nhỏ. Quá chậm, có lẽ quá chậm. Nhưng anh đã bỗng hiểu rằng trong toàn thể thế giới chỉ có một người anh có thể truyền cho hình phạt của anh — chỉ một thân thể anh quẳng được ra giữa anh và chuột. Và anh hét loạn lên, hét đi hét lại.
"Hành Julia ấy ! Hành Julia ấy ! Không hành tôi ! Julia ấy ! Tôi bất cần ông làm gì nàng. Cứ xé toạc mặt nàng, lột xương nàng. Không hành tôi ! Julia ấy ! Không hành tôi !"
Anh ngã ra sau, rơi vào những cõi sâu thẳm, xa lìa giống chuột. Anh vẫn bị trói trên ghế nhưng anh đã rớt xuyên sàn, xuyên tường tòa nhà, xuyên lòng đất, xuyên biển cả, xuyên quyển khí, vào trong không gian vời vợi, vào trong các vịnh giữa sao — mãi mãi xa lìa, xa lìa giống chuột. Anh xa cách chúng hàng năm ánh sáng, nhưng O'Brien vẫn đứng cạnh anh. Vẫn có dây thép lạnh cọ má anh. Nhưng qua đám tối bao trùm anh, anh nghe thấy một tiếng kim cạch khác và hiểu rằng cửa lồng đã cạch đóng chứ không mở.
Quán Cây Lật gần như trống rỗng. Một tia nắng xuyên chéo qua cửa sổ rớt xuống mặt bàn bụi bậm. Đó vào lúc vắng vẻ, hồi mười lăm giờ. Một điệu nhạc đanh đảnh tuôn ra từ những máy truyền hình.
Winston ngồi tại xó thường lệ, đăm đăm nhìn một cốc cạn. Thỉnh thoảng anh ngước nhìn một khuôn mặt to lớn ngó anh từ tường trước mặt. BÁC ĐANG NHÌN BẠN, câu chú ghi như vậy. Không cần gọi, một người bồi bàn tới rót rượu gin Chiến Thắng đầy cốc anh, và lắc vào trong đó vài giọt rỉ từ ống nút một chai khác. Đó là đường tinh ướp đinh hương, đặc sản của quán nước.
Winston lắng nghe máy truyền hình. Hiện nó chỉ phát thanh nhạc, nhưng có thể có thông báo đặc biệt của Bộ Hòa Bình vào bất cứ lúc nào. Tin tức về mặt trận Phi Châu hết sức đáng lo ngại. Cả ngày cứ chốc chốc anh lại phập phồng về chuyện đó. Một quân đoàn Âu Á (Đại Dương đánh nhau với Âu Á: Đại Dương bao giờ cũng đánh nhau với Âu Á) đang tiến về phía nam với một tốc độ dễ sợ. Thông báo hồi trưa không nêu đích xác khu nào, nhưng có lẽ cửa miệng sông Congo đã thành một bãi chiến trường. Brazzaville và Leopoldville lâm nguy. Không cần phải xem địa đồ mới biết thế nghĩa là gì. Đó không chỉ là vấn đề mất vùng Trung Phi Châu; lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến, chính lãnh thổ Đại Dương bị đe dọa.
Một cơn xúc động mạnh, không hẳn là sợ hãi mà là một thứ kích động không biệt hóa, bốc lên trong người anh, rồi lại biến mất. Anh ngưng nghĩ về chiến tranh. Dạo này anh không bao giờ chú tâm được vào việc gì quá vài phút. Anh nâng cốc lên uống cạn một mạch. Như mọi lần rượu gin làm anh rùng mình và cả hơi buồn nôn nữa. Cái chất thật tởm. Đinh hương với đường tinh, tự chúng đã đủ gớm như thuốc đắng rồi, không cải được mùi dầu nhạt nhẽo; tệ nhất là cái mùi rượu cứ dính chặt lấy anh đêm ngày, pha lẫn rối răm trong óc anh với mùi ấy —

Anh không bao giờ gọi tên thứ ấy, ngay cả trong tâm tư anh, và anh hết sức tránh không bao giờ cho nó hiện hình. Đấy là một thứ anh nhận thức nửa chừng, nó lởn vởn kề mặt anh, mùi nó bám lấy lỗ mũi anh. Khi rượu gin bốc lên trong anh từ đôi môi thâm của anh thoát ra một tiếng ợ. Anh mập ra từ hồi được tha, và đã lấy lại được diện sắc cũ — thực ra, anh hơn cả lấy lại nó. Nét mặt anh dày ra, da mũi và gò má anh đỏ thô, ngay cả cái đầu trọc của anh cũng hồng thẫm. Một người bồi bàn, cũng không cần được gọi, mang lại cho anh bàn cờ và số Thời Báo trong ngày đã được giở sẵn nơi trang có mục bài cờ. Rồi, thấy cốc Winston cạn, anh ta mang chai gin lại rót đầy rượu vào cốc. Không cần sai khiến. Họ biết thói quen của anh. Bàn cờ luôn luôn chờ đợi anh, góc bàn của anh luôn luôn được dành cho anh; ngay khi quán đông người, anh vẫn được giữ riêng phần góc ấy vì không ai thiết ngồi quá gần anh. Anh còn không bao giờ buồn đếm số cốc anh uống. Cách quãng đều nhà hàng đưa anh một tờ giấy bẩn bảo là hóa đơn, nhưng anh có cảm tưởng họ luôn luôn tính hạ cho anh. Nếu họ làm ngược lại cũng chẳng hề gì. Ngày nay anh có đầy tiền. Anh có cả một công ăn việc làm thật nhàn, lương cao hơn chỗ làm xưa kia của anh.


Tiếng nhạc từ máy truyền hình ngưng lại, được thay thế bởi một tiếng nói. Winston ngẩng đầu lên nghe. Tuy nhiên, không có thông báo từ chiến khu. Đó chỉ là một thông cáo ngắn của Bộ Sung Túc. Tam cá nguyệt trước, té ra định suất dây giầy ống trong Kế Hoạch Ba Năm Thứ Mười đã được hoàn thành vượt mức tới 98 phần trăm.
Anh xét bài cờ và đặt quân cờ. Đó là một bài cuối ván gai góc vận dụng một đôi mã. "Quân trắng đi hai nước thì thắng." Winston ngẩng nhìn chân dung Bác. Quân trắng luôn luôn thắng, anh ngẫm nghĩ với một lòng sùng tín mơ hồ. Luôn luôn, không ngoại lệ, sự thể được sắp đặt như vậy. Từ thuở khai sáng thế giới đến giờ, chưa một bài cờ nào để cho quân đen thắng. Điều này chẳng tượng trưng cho sự đắc thắng vĩnh hằng, bất biến của Thiện trên Ác là gì ? Khuôn mặt vĩ đại nhìn lại anh, đầy uy quyền bình thản. Quân trắng luôn luôn thắng.
Tiếng nói từ máy truyền hình tạm ngưng rồi tiếp tục bằng một giọng khác trầm hơn. "Các bạn được khuyến nên đón một tin quan trọng vào mười lăm giờ ba mươi. Mười lăm giờ ba mươi ! Đấy là tin tối quan trọng. Coi chừng khỏi đón hụt. Mười lăm giờ ba mươi !" Tiếng nhạc leng keng lại trổ lên.
Tim Winston xao xuyến. Đấy là bản tin tiền tuyến, linh tính bảo anh tin dữ sắp đến. Suốt ngày, ý tưởng về một sự thất bại nặng nề tại Phi Châu lởn vởn trong tâm anh, làm anh khẽ rùng mình vì xúc động. Anh hầu như thực thấy quân đội Âu Á tràn qua biên giới chưa từng bị xâm phạm để rồi đổ ào vào mũi Phi Châu như một cột kiến. Tại sao lại không thể tấn công chúng từ phía sau lưng ? Đường nét bờ biển Tây Phi hiện rõ trong óc anh. Anh nhấc quân mã cho nó băng qua bàn cờ. Đấy là nước đúng. Đương lúc anh thấy bầy quân đen phóng xuống miền nam, anh thấy một lực lượng khác, đã được bí mật tập hợp, bất thình lình cắm sau lưng chúng, cắt đứt đường liên lạc bộ và thủy của chúng. Anh cảm như với ý chí anh có thể khiến cái lực lượng khác kia ra đời. Nhưng phải hành động nhanh. Nếu chúng nắm được toàn cõi Phi Châu, nếu các phi trường và căn cứ tàu ngầm tại Cape vào tay chúng, chúng sẽ cắt Đại Dương ra làm hai. Sự thể này có mọi ý nghĩa: thất bại, sụp đổ, thế giới bị phân chia lại, Đảng bị hủy diệt ! Anh thở dài. Một cảm giác hỗn hợp lạ lùng — nhưng đó không hẳn là một cảm giác hỗn hợp; đúng hơn đó là nhiều lớp cảm giác liền nhau, trong đó khó nói được lớp nào sâu hơn — tranh lấy người anh.
Chứng co cơ qua đi. Anh đặt quân mã trở lại chỗ cũ, nhưng trong một lúc anh không để tâm được vào sự nghiên cứu đứng đắn bài cờ. Tư tưởng anh lại lông bông. Gần như không ý thức, anh lấy ngón tay vẽ trên bụi bàn:
2 + 2 =
"Chúng không thể đi vào lòng mình," nàng có nói. Nhưng chúng đi nổi vào lòng người. "Sự gì xảy ra với anh nơi đây còn đó mãi mãi," O'Brien có nói. Lời này đúng. Có những điều, có những hành động của chính mình, khiến mình không bao giờ lành được. Cái gì đó đã bị hủy trong tim: bị thiêu đi, đốt mất.

Anh đã gặp nàng; anh đã cả nói chuyện với nàng. Không có gì nguy hiểm trong việc đó. Làm như linh tính cho anh biết rằng bây giờ họ hầu như không quan tâm đến hành động của anh. Anh có thể sắp đặt để gặp lại nàng nữa, nếu một trong hai người muốn. Thật ra thì hai người gặp nhau bữa đó vì tình cờ. Cuộc gặp mặt xảy ra trong Công Viên, vào một ngày tháng ba rét mướt, khi đất tựa như sắt và cỏ hình như chết, lúc không có một nụ nào nơi đâu ngoại trừ một vài đóa nghệ tây cố nhô đầu ra để bị gió bẻ gẫy. Tay cóng mắt ướt, anh đang vội đi thì thấy nàng cách anh khoảng dưới mười thước. Anh để ý ngay thấy nàng đã thay đổi một cách khó tả. Hai người gần như qua mặt nhau không một dấu hiệu, rồi anh quay trở lại bước theo nàng, không sốt sắng lắm. Anh biết không có gì nguy hiểm, không ai buồn chú ý đến anh. Nàng không nói gì. Nàng băng xéo qua cỏ làm như muốn đẩy anh đi, sau đó nàng dường như cam chịu để anh đi cạnh nàng. Bấy giờ họ đi giữa một khóm cây non không lá, chẳng có dụng tác che giấu họ cũng như che chở họ khỏi gió. Họ dừng chân. Trời lạnh buốt. Gió rít qua cành, quật vào mấy cây nghệ tây lơ thơ coi bẩn. Anh quàng tay quanh eo nàng.


Không có máy truyền hình, nhưng chắc có máy ghi âm ẩn: vả lại, họ có thể bị nhìn thấy. Không hề gì, không có gì quan hệ. Họ có thể nằm xuống đất và làm thế ấy nếu họ muốn. Thớ thịt anh giá băng vì ghê tởm tới ý nghĩ đó. Nàng không hề đáp lại sự xiết tay của anh; nàng không cả cố thoát người ra. Lúc này anh biết cái gì thay đổi trong nàng. Mặt nàng nhợt nhạt hơn, và có một vết sẹo dài, được tóc phủ một nửa, ngang trán và thái dương nàng; nhưng đấy không phải là điều thay đổi. Nó nằm ở chỗ eo nàng thô hơn, và chai cứng một cách bất ngờ. Anh nhớ lại một lần, sau vụ một trái bom lửa nổ, anh có phụ việc lôi một xác chết ra khỏi đống đổ nát, và đã ngạc nhiên làm sao không những trước sức nặng lạ thường của tử thi mà cả trước sự cứng đờ cũng như sự khó xê dịch của nó, khiến nó giống đá hơn là thịt. Thân thể nàng cho anh cảm giác hệt như vậy. Anh có ý tưởng cấu trúc da thịt nàng khác hẳn trước kia.
Anh không thử hôn nàng, và cả hai không nói gì. Đương lúc họ băng ngược lại bãi cỏ, lần đầu tiên nàng nhìn thẳng vào anh. Đấy chỉ là một cái nhìn thoáng, đầy vẻ khinh khi ghét bỏ. Anh không hiểu sự ghét bỏ này nguyên xuất phát từ quá khứ hay đã bị gợi bởi gương mặt phị và nước mắt cứ bị gió làm lã chã tuôn ra của anh. Họ ngồi xuống hai chiếc ghế sắt cạnh nhau nhưng không quá kề nhau. Anh hiểu rằng nàng sắp nói. Nàng xích chiếc giầy đóng vụng của nàng vài phân và rắp tâm giẫm lên một cành nhỏ. Anh để ý thấy chân nàng hầu như to ra.
"Tôi đã phản anh," nàng nói.
"Tôi đã phản em," anh nói.
Nàng lại ghét bỏ liếc nhìn anh.
"Có lúc," nàng nói, "chúng mang dọa mình một thứ — một thứ mình không đương đầu nổi, không dám nghĩ đương đầu với. Rồi mình xin: "Chớ làm thế cho tôi, làm thế cho người khác, làm thế cho người này người nọ." Có thể sau đó, mình ra điều đấy chỉ là một mánh khóe, mình chỉ nói thế để cốt chúng ngưng tay, nhưng thật ra mình không muốn thế. Nhưng không phải vậy. Lúc chuyện xảy ra mình quả muốn thế. Mình cho rằng không có cách tự cứu nguy nào khác, và hoàn toàn sẵn sàng tự giải nguy cách ấy. Mình muốn điều đó xảy ra cho người kia. Mình không màng gì đến sự đau khổ của người ta. Mình chỉ lo cho chính mình thôi."
"Mình chỉ lo cho chính mình thôi," anh lắp lại.
"Và sau đó, tình cảm của mình đối với ngưởi kia không còn như trước nữa."
"Không," anh nói, "tình cảm của mình không còn như trước nữa."
Họ làm như không còn gì nói với nhau nữa. Gió quật bộ áo liền quần mỏng mảnh gí vào người họ. Hầu như tức thì sự ngồi yên đó đâm làm họ bối rối: vả lại trời quá rét không ngồi yên được. Nàng nói gì đó về sự phải lấy Tàu Hầm rồi dứng dậy ra đi.

"Chúng mình phải gặp lại nhau," anh nói.


"Ừ, " nàng nói, " chúng mình phải gặp lại nhau."
Anh lưỡng lự nối gót theo nàng hơi xa, một nửa bước sau lưng nàng. Họ không lên tiếng nữa. Nàng không thực sự cố gạt đuổi anh, nhưng nàng đi đủ nhanh để tránh không cho anh sánh được bước cùng nàng. Anh đã rắp tâm tiễn nàng đến tận trạm Tàu Hầm, nhưng bỗng nhiên cái trò lê chân trong tiết lạnh hình như vô duyên không chịu đuợc. Một lòng thèm muốn tràn ngập anh, không hẳn lòng mong rời xa Julia mà là lòng muốn trở vê quán Cây Lật lúc này đối với anh có vẻ quyến rũ hơn bao giờ hết. Anh hình dung đầy nhớ nhung góc bàn của anh với tờ báo, bàn cờ và rượu gin không bao giờ vợi. Hơn hết, nơi đó sẽ ấm áp. Lát sau, không hoàn toàn ngẫu nhiên, anh cho phép anh cách xa nàng một đám người nhỏ. Anh thử đuổi kịp theo nàng nhưng không mấy sốt sắng, rồi anh đi chậm lại, quay gót và bước về lối cũ. Đi được năm mươi thước anh quay đầu nhìn lại. Phố không đông người, nhưng chưa gì anh đã không nhận ra nàng nữa. Bất cứ hình dáng nào trong tá người hấp tấp kia có thể là nàng. Có lẽ thân hình thô cứng của nàng không còn dễ nhận từ phía sau nữa.
"Lúc chuyện xảy ra," nàng có nói, "mình quả muốn thế." Anh đã muốn thế. Anh đã không chỉ nói thế, anh đã mong thế. Anh đã cầu mong cho nàng chứ không phải anh bị trao cho —
Có sự thay đổi trong tiếng nhạc dội từ máy truyền hình. Một điệu ngắt nhạo, một nốt vàng hiện trong đó. Rồi thì — có lẽ nó không xuất hiện, có lẽ nó chỉ là một ký ức nhập vào âm nhạc — một giọng hát cất lên:
"Dưới chòm cây lật
Anh bán em và em bán anh —"
Nước mắt anh trào ra. Một người bồi bàn đi qua thấy cốc anh cạn trở lại với chai gin.
Anh nâng cốc lên hít. Chất lỏng không giảm mà tăng gớm với mỗi hớp thêm của anh. Nhưng nó dã trở thành nguyên tố anh bơi trong đó. Nó là đời sống, cái chết và sự tái sinh của anh. Chính rượu gin dìu anh vào trạng thái tê mê mỗi đêm, và chính rượu gin làm anh sống lại mỗi sáng. Khi tỉnh giấc, ít khi trước mười một trăm, với mí dính rỉ, miệng bỏng và lưng rã rời, anh không thể hết nằm mà ngồi dậy nổi nếu không có chai chén để suốt đêm cạnh giường. Cả giờ trưa, anh ngồi đực mặt nghe máy truyền hình, với chai kề tay. Từ mười lăm giờ tới lúc đóng cửa anh đóng đô tại quán Cây Lật. Không ai để ý tới hành vi của anh nữa, không có tiếng huýt còi nào đánh thức anh, không có máy truyền hình nào cảnh cáo anh. Thỉnh thoảng, khoảng hai lần một tuần, anh tới một văn phòng bụi bậm, như bị lãng quên tại Bộ Sự Thật làm một chút việc, hay cái được gọi là việc. Anh đã được bổ vào một tiểu ban của một tiểu ban xuất phát từ một trong vô số ban lo giải quyết những khó khăn nhỏ gặp trong việc soạn thảo bộ Từ Điển Ngôn Mới Bản Thứ Mười Một. Họ có phận sự thảo một bản Tường Trình Tạm Thời, nhưng tường trình về gì anh không bao giờ thật sự khám phá nổi. Nó có gì liên quan đến vấn đề nét phẩy phải được đặt trong hay ngoài dấu ngoặc. Có bốn người khác trong tiểu ban, cả bốn đều giống như anh. Có những ngày họ gặp nhau rồi giải tán nhanh, thành thật công nhận với nhau thực ra không có việc gì để làm cả. Nhưng cũng có ngày khác họ gần như hăng hái xông vào việc, hết sức ra điều ghi chú phác thảo hàng trang sổ tay không bao giờ hết — có bữa cuộc tranh luận về điều họ coi như phải bàn đến trở thành thật rắc rối khó hiểu, với những sự mặc cả về định nghĩa, những sự tán rộng xa đề, những sự cãi vã, ngay cả dọa dẫm thưa lên thượng cấp. Rồi bất thình lình sinh khí rời bỏ họ và họ ngồi quanh bàn lờ đờ đưa mắt nhìn nhau như thể ma biến dạng vào lúc gà gáy.
Máy truyền hình lặng im một lúc. Winston lại ngẩng đầu lên. Bản thông tin ! Nhưng không, đó chỉ là chuyện thay đổi nhạc. Sau mí mắt anh hiện ra tấm bản đồ Phi Châu. Sự vận hành của quân đội là một biểu đồ: một mũi tên đen xuyên dọc xuống miền nam, và một mũi tên trắng vạch ngang về phía đông băng qua dưới mũi trên. Như để được trấn an, anh nhìn lên khuôn mặt điềm nhiên trong bức chân dung. Có thể tưởng tượng được rằng không có mũi tên thứ hai không ?

Mối quan tâm của anh lại lắng xuống. Anh uống một hụm gin khác, nhấc quân mã trắng lên thử đi một nước. Chiếu tướng. Nhưng rõ ràng đó không phải là nước cờ đúng vì —


Không khêu mà một ký ức thoảng qua óc anh. Anh thấy một căn phòng thắp nến với một cái giường có khăn phủ trắng và chính anh, một cậu bé độ chín, mười tuổi, ngồi trên sàn nhà lắc một hộp súc sắc cười thích chí. Mẹ anh ngồi trước mặt anh cũng cười.
Đó vào khoảng một tháng trước khi bà mất tích. Đó là một lúc hòa giải, khi cơn đói meo trong bụng anh bị lãng quên và tình trìu mến trước đây của anh đối với bà nhất thời sống lại. Anh nhớ rõ ngày ấy, một ngày mưa dầm dề với nước chảy dòng dòng dọc cửa sổ và ánh sáng quá mờ không cho phép đọc. Sự buồn bực của hai đứa nhỏ trong căn phòng tối hẹp đâm quá sức chịu đựng. Winston rên rỉ làu nhàu, tầm phơ đòi ăn, lăng xăng quanh phòng đẩy mọi thứ khỏi chỗ, chân đá vào lớp phủ tường cho tới khi hàng xóm đập tường phản đối, trong khi em anh thét lên từng cơn. Tận cùng mẹ anh nói: " Này ngoan đi con, rồi mẹ mua đồ chơi cho. Đồ chơi thích lắm — thế nào con cũng thích. "; và rồi bà đi dưới mưa đến một tiệm tạp hóa nhỏ còn mở lèo tèo gần đó, và bà trở về với một hộp bìa đựng một bộ Thang Rắn. Anh còn nhớ mùi bìa ẩm. Đó là một món đồ chơi xoàng xĩnh. Tấm bảng bị nứt, mấy con súc sắc bằng gỗ bị đẽo vụng đến nỗi khó đứng vững. Winston xịu mặt nhìn đồ chơi không chút hứng thú. Nhưng mẹ anh đốt một mẩu nến lên và mẹ con ngồi xuống sàn chơi. Chẳng bao lâu anh hưng phấn mạnh và phá lên cười khi mấy quân nhỏ leo thang với đầy hy vọng rồi tuột trở về điểm cũ nơi hang rắn. Mẹ con chơi tám ván, mỗi người thắng bốn ván. Em gái anh quá nhỏ không hiểu đó là trò chơi gì, cũng ngồi tựa vào gối mà cười vì người khác cười. Cả buổi chiều mẹ con sung sướng chơi với nhau như thuở ấu thơ xưa của anh.
Anh đẩy hình ảnh đó khỏi óc anh. Đó là một ký ức sai lầm. Thỉnh thoảng anh bị quấy rối bởi nhiều ký ức lệch lạc. Không có gì đáng lo nếu biết nhận ra tính cách của chúng. Có những điều đã xảy ra, có những điều đã không xảy ra. Anh quay trở lại bàn cờ và lại nhấc quân mã trắng lên. Gần như đồng thời nó rơi xuống bàn cái cách. Anh đã giật mình như thể có một mũi kim đâm vào anh.
Một trống kèn nhọn chói không gian. Bản tin đây ! Chiến thắng ! Bao giờ tiếng kèn gọi có trước bản tin cũng báo hiệu chiến thắng. Một cơn dao động như nhiễm điện truyền qua quán nước. Ngay mấy người bồi bàn cũng giật mình vểnh tai lên.
Tiếng kèn gọi vang dội rất lớn. Chốc thì một giọng hí hửng láu táu xuất từ máy truyền hình nhưng vừa bắt đầu nó đã chìm dưới một tràng hoan hô kêu từ ngoài quán. Tin lành đã chạy quanh các phố như có ma thuật. Những điều thốt ra từ máy truyền hình, anh chỉ nghe được đủ để hiểu rằng toàn sự thể đã xảy ra hệt như anh tiên đoán: một đại hạm đội được bí mật tập trung, một cuộc tấn công bất thình lình vào hậu quân địch, mũi tên trắng xé ngang đuôi mũi tên đen. Nhiều mẩu văn đắc thắng lọt qua tiếng ồn ào: " Cuộc thao diễn chiến lược lớn — sự phối hợp hoàn hảo — sự thất bại hoàn toàn — một nửa triệu tù binh — sự mất tinh thần trọn vẹn — kiểm soát toàn thể Phi Châu — đưa cuộc chiến tới chỗ chấm dứt nội một thời gian có thể ước chừng được — chiến thắng — chiến thắng lớn nhất trong lịch sử nhân loại — chiến thắng, chiến thắng, chiến thắng !"
Chân Winston co giật dưới bàn. Anh không rời ghế, nhưng trong tâm trí anh đang chạy, chạy nhanh, anh hòa mình với đám đông bên ngoài, hoan hô tới điếc. Anh lại nhìn lên chân dung Bác. Vị khổng lồ cưỡi thế giới ! Tảng đá ngăn chận lũ rợ Á Châu vô ích nhào tới ! Anh nghĩ sao mười phút trước — phải chỉ mười phút trước — trong lòng anh hãy còn hai mang khi anh tự hỏi tin từ chiến trường sẽ là chiến thắng hay thất bại. A, không chỉ quân đội Âu Á bị tiêu diệt ! Anh đã thay đổi nhiều từ cái ngày đầu tiên ấy tại Bộ Tình Yêu, nhưng sự thay đổi cuối cùng, cần thiết, chữa lành anh đến lúc này mới xảy ra.

Giọng nói từ máy truyền hình vẫn trút ra câu chuyện tù binh, chiến lợi phẩm và giết chóc, nhưng tiếng ồn bên ngoài đã lắng xuống một chút. Mấy người bồi bàn đã quay trở lại công việc. Một người lại gần anh với một chai gin. Winston ngồi đắm mình trong một mộng tưởng êm lành, không để ý đến cốc rượu được rót đầy. Anh không chạy hay hoan hô nữa. Anh quay về Bộ Tình Yêu, với mọi tội lỗi đã được tha thứ, tâm hồn trắng như tuyết. Anh ở trong khu bị cáo, thú nhận mọi tội, làm liên lụy mọi người. Anh bước dọc hành lang lát gạch trắng với cảm tưởng đi dưới ánh mặt trời, theo sau bởi một tên lính gác. Viên đạn được mong mỏi lâu ngày xuyên óc anh.


Anh nhìn lên khuôn mặt đồ sộ. Anh đã mất bốn mươi năm mới hiểu được ý nghĩa nụ cười giấu dưới bộ râu đen. Ôi sự hiểu nhầm ác nghiệt vô tích sự ! Ôi sự tự đọa đầy bướng bỉnh xa tấm lòng thương yêu ! Hai giọt nước mắt hôi mùi gin rỏ xuống hai sóng mũi anh. Nhưng tốt lành rồi, mọi sự tốt lành, cuộc đấu tranh đã chấm dứt. Anh đã thắng anh. Anh yêu thương Bác.
Ngôn Mới là ngôn ngữ chính thức của Đại Dương, đã được sáng chế để đáp ứng nhu cầu ý hệ Anh Xã hay Chủ Nghĩa Xã Hội Anh. Năm 1984 chưa có ai dùng Ngôn Mới làm dụng cụ thông tin độc nhất, dù là trong bài diễn thuyết hay bài văn. Những bài xã luận trong Thời Báo được viết bằng Ngôn Mới, nhưng đó là một công cuộc phi thường chỉ chuyên viên mới thực hiện nổi. Ngôn Mới được mong sẽ tận cùng thay thế Ngôn Cũ (hay Anh Ngữ thông dụng, như đáng nhẽ phải gọi nó) vào khoảng 2050. Trong khi chờ đợi nó kiên trì tiến bước, các Đảng viên càng ngày càng có khuynh hướng dùng các từ và lối kết cấu ngữ pháp Ngôn Mới trong lời nói hàng ngày của họ. Ngôn thể được dùng năm 1984 và được gồm trong Từ Điển Ngôn Mới Bản Thứ Chín và Thứ Mười, là một thể tạm thời, chứa đựng nhiều từ thừa và dạng cổ hủ sẽ bị gạt bỏ sau này. Nơi đây chúng ta bàn về thể hoàn hảo, cuối cùng, gồm trong bộ Từ Điển Bản Thứ Mười Một.
Mục đích của Ngôn Mới không những là cung cấp một phương tiện biểu lộ nhân sinh quan và tập quán tinh thần riêng của tín đồ Anh Xã, mà còn là khiến những lối tư tưởng khác không thể có được. Mục tiêu là khi Ngôn Mới được dứt khoát chấp nhận và Ngôn Cũ bị quên lãng, tư tưởng dị giáo — tức tư tưởng khác nguyên lý Anh Xã — sẽ không thể được nghĩ thành chữ, ít nhất trong chừng mực ý nghĩ lệ thuộc chữ. Ngữ vựng của Ngôn Mới được đặt cốt sao diễn tả đích xác và nhiều khi một cách rất tế nhị mọi ý tưởng một Đảng viên có thể muốn tỏ bày đúng, đồng thời khai trừ mọi ý nghĩa khác cũng như khả năng đạt tới những ý nghĩa đó nhờ một số phương sách gián tiếp. Điều ấy được thực hiện một phần nhờ sự sáng chế ra từ mới, nhưng đặc biệt nhờ sự loại trừ những từ không muốn dung nạp, cùng sự gạt bỏ khỏi những từ còn lại các ý nghĩa không chính thống và bất cứ nghĩa phụ nào, xa chừng nào đi nữa. Chỉ một thí dụ. Từ tự do sẽ được giữ trong Ngôn Mới nhưng nó chỉ sẽ được dùng trong những câu như "Con chó này tự do không có rận", "Cánh đồng này tự do không có cỏ dại" . Nó không thể được dùng theo nghĩa "tự do chính trị" hay "tự do tinh thần" như cũ vì sự tự do chính trị hay tinh thần không còn nữa, dù dưới hình thức khái niệm, và bởi vậy tất nhiên không được nêu tên. Ngoài hẳn sự hủy bỏ những từ thực dị giáo, sự thu gọn từ vựng được coi như một cứu cánh, và không một từ nào có thể miễn được có phép tồn tại. Ngôn Mới được soạn cốt không phải để mở rộng, mà để giảm bớt tầm tư tưởng, và mục đích này được trợ giúp gián tiếp bởi sự cắt xén số từ tới mức tối thiểu.
Ngôn Mới dựa trên Anh ngữ như chúng ta hiện biết, mặc dầu nhiều câu Ngôn Mới, tuy không chứa đựng từ mới sáng chế, chắc khó hiểu đối với một người nói tiếng Anh ngày nay. Từ Ngôn Mới được chia ra làm ba hạng khác biệt, gọi là từ vựng A, từ vựng B (cũng có tên là từ kép) và từ vựng C. Giản dị hơn là bàn riêng về mỗi hạng, song các đặc điểm ngữ pháp của Ngôn Mới có thể được nêu cả trong phần dành cho từ vựng A, vì cả ba hạng cùng chung quy tắc.

Từ vựng A. Từ vựng A bao gồm những từ cần thiết cho công việc hàng ngày — như ăn uống, làm việc, mặc quần áo, lên xuống cầu thang, đi xe, làm vườn, thổi nấu, đại loại. Nó gần như hoàn toàn gồm những từ sẵn có — kiểu như đá, chạy, chó, cây, đường, nhà, ruộng — nhưng so với từ vựng Anh ngữ ngày nay số từ ấy rất ít, trong khi ý nghĩa của chúng được xác định khắt khe hơn nhiều. Mọi nghĩa nước đôi và mọi nghĩa cạnh đều bị tiễu trừ. Trong chừng mực thực hiện như thế nổi, mỗi từ Ngôn Mới thuộc hạng A chỉ được là một âm ngắt diễn tả có một khái niệm rõ ràng. Hoàn toàn không thể dùng từ vựng A với chủ định làm văn chương hay để bàn cãi về chính trị hoặc triết lý. Nó chỉ cốt diễn tả những tư tưởng hữu ý đơn giản, thường bao hàm đồ vật cụ thể hay hành động thể xác.


Ngữ pháp Ngôn Mới có hai đặc điểm quan trọng. Thứ nhất là tính gần như hoàn toàn đổi lẫn giữa những phần câu khác nhau. Bất cứ từ nào trong ngôn ngữ (trên nguyên tắc điều này áp dụng cho cả những từ rất trừu tượng như nếu hay khi) cũng có thể được dùng hoặc làm động từ, danh từ, tĩnh tự hay phó từ. Giữa hình thể động từ hay danh từ không có sự khác biệt nào nếu hai từ cùng gốc, và quy tắc này bao hàm sự hủy bỏ nhiều hình thể cổ xưa. Ví dụ, từ ý nghĩ không có trong Ngôn Mới. Nó được thay thế bởi ý được dùng làm danh từ lẫn động từ. Nguyên lý từ nguyên không được áp dụng nơi đây: có khi danh từ gốc được chọn, có lúc động từ được giữ. Ngay trong trường hợp danh từ và động từ có nghĩa tương tự nhưng không có liên hệ gốc gác với nhau, một trong hai từ thường bị trừ khử. Thí dụ không còn chữ tựa như cắt, nghĩa của nó được bao trùm đủ trong động danh từ dao. Tĩnh từ được cấu tạo nhờ gắn tiền tố đầy vào động danh từ, và phụ từ nhờ gắn tiền tố cách. Ví như đầy tốc có nghĩa là "nhanh", và cách tốc có nghĩa là "một cách nhanh chóng". Một số tĩnh từ ngày nay như tốt, to, lớn, đen, mềm được giữ lại nhưng tổng số từ được giữ như vậy rất ít. Chúng không mấy cần thiết, vì hầu hết tính ý có thể thấu đạt nhờ thêm đầy vào động danh từ. Không có phụ từ hiện có nào được giữ trừ một số rất ít đã có thêm sẵn chữ cách: tiền tố cách không thay đổi. Thí dụ, chữ giỏi được thay bằng cách tốt.
Lại nữa, bất cứ từ gì — điều này trên nguyên tắc áp dụng cho mọi từ thuộc Ngôn Mới — cũng có thể bị phủ định nhờ thêm tiền tố không hay được tăng cường nhờ gắn tiếp tố hơn, hay tiếp tố bội hơn nếu muốn nhấn mạnh hơn nữa. Cho nên tỷ dụ không lạnh có nghĩa là "ấm", trong khi lạnh hơn và lạnh bội hơn có nghĩa tương ứng là "rất lạnh" và "hết sức lạnh". Cũng có thể, như trong Anh ngữ ngày nay, đổi nghĩa của hầu hết từ nhờ các phụ tố như trước, sau, trên, dưới, v.v. Với những phương pháp trên thấy rõ có thể đi đến một sự giảm bớt lớn lao từ vựng. Thí dụ từ tốt đã có, thì từ xấu không còn cần thiết, bởi ý nghĩa của nó có thể được diễn tả đúng chẳng kém — còn hay hơn nữa — bởi không tốt. Điều cần thiết là mỗi khi có hai từ họp thành một cặp đối lập nhau phải quyết định nên bỏ từ nào. Ví như tối có thể được thay bởi không sáng và sáng bằng không tối tùy sớ thích.
Đặc điểm đáng kể thứ hai của pháp ngữ Ngôn Mới là tính đều đặn của nó. Trừ một vài ngoại lệ được kê ở dưới, mọi biến tố đều theo cùng quy tắc. Cho nên mọi thời quá khứ đều được chỉ bởi tiền tố đã. Như quá khứ của ý là đã ý, các dạng khác như vốn, vừa, từng, vv. đều bị loại bỏ. Mọi số nhiều được biểu hiệu bởi tiền tố chúng. Như số nhiều của người là chúng người. Các dạng khác như các, những, mọi, vv. đều bị khai trừ. Các tĩnh từ so sánh đều được ghép với hơn, nhất, những dạng khác như trội, gấp, vượt, bị loại cả.
Những loại từ độc nhất còn được phép đổi dạng không đúng qui củ là đại từ, đại từ quan hệ, tĩnh từ chỉ định, và trợ động từ. Các loại từ này theo quy tắc cũ, trừ từ mà bị gạt đi vì không cần thiết, và những từ sẽ phải, chắc sẽ bị loại trừ vì mọi ý tương lai đã được bao gồm dưới từ sẽ. Cũng có vài chỗ trái phép trong sự cấu tạo từ ngữ xuất phát từ sự cần nói cho nhanh cho dễ. Từ nào khó phát âm hay có thể bị hiểu nhầm, bị coi tức thì là từ dở: thành thử thỉnh thoảng, viện cớ hài âm, có chữ thừa được lồng vào một từ hay có một hình thái cổ được lưu giữ. Nhưng nhu cầu ấy thể hiện rõ hơn trong quan hệ của nó với ngữ vựng B. Tại sao lại quy cho sự phát âm dễ dàng một tầm quan trọng lớn như vậy, điều đó sẽ được giải thích sau trong tiểu luận này.
Từ vựng B. Từ vựng B bao gồm những từ được định đặt với ý đồ chính trị, tức không những các từ liên can đến chính trị mà cả các từ nhằm áp đặt trạng thái tinh thần mong muốn trên kẻ sử dụng chúng. Nếu không am hiểu các nguyên lý của Anh Xã, khó sử dụng đúng những từ này. Đôi khi những từ này có thể được dịch ra Ngôn Cũ hay cả ra từ thuộc ngữ vựng A, nhưng nếu làm vậy thường phải dài dòng và luôn luôn bỏ mất vài sắc thái. Từ B là một thứ lời tốc ký, hay tóm cả loạt ý vào vài âm tiết, đồng thời lại chính xác và có sức thuyết phục hơn ngôn ngữ bình thường.
Từ B bao giờ cũng là từ kép . Nó gồm hai ba từ, hay phần từ, gắn lại với nha

u dưới một hình thức dễ đọc. Kết quả của sự tập hợp luôn luôn là một động danh từ, biến cách theo quy tắc thông thường. Chỉ lấy một ví dụ: từ ý tốt có nghĩa rất đại khái là "chính thống", hay là "nghĩ một cách chính thống" nếu muốn coi nó là một động từ. Biến cách của nó như sau: động danh từ, ý tốt; thời quá khứ và động tính từ quá khứ, đã ý tốt; động tính từ hiện tại, đang ý tốt; tĩnh từ, đầy ý tốt; phó từ, cách ý tốt; danh từ động, kẻ ý tốt.


Từ B không được kết cấu trên bình diện từ nguyên nào. Những từ cấu tạo ra nó có thể là bất cứ phần chữ nào, có thể được đặt theo bất cứ thứ tự nào, và có thể bị cắt xén theo mọi cách khiến nó được đọc dễ dàng cùng biểu thị căn nguyên của nó. Ví như trong từ tội ý (tội tư tưởng), chữ ý đi sau, nhưng nó đi trước trong từ ý đôi; và chữ cảnh sát mất đi một âm tiết trong từ cảnh ý (cảnh sát tư tưởng). Vì rất khó duy trì hài âm, thường có nhiều hình thái không đúng quy tắc trong ngữ vựng B hơn trong ngữ vựng A. Tỷ dụ, dạng tĩnh từ của Bộ Thật, Bộ Bình, Bộ Yêu đâm là của Bộ Thật, của Bộ Bình, của Bộ Yêu, chỉ vì đầy Bộ Thật, đầy Bộ Bình, đầy Bộ Yêu nghe hơi kỳ. Tuy nhiên, trên nguyên tắc, mọi từ B có thể biến cách, và đều biến cách một kiểu.
Có vài từ B có nghĩa rất tế nhị, thật khó hiểu đối với ai không thấu toàn diện ngôn ngữ. Hãy lấy làm thí dụ một câu điển hình trích trong một bài xã luận của Thời Báo như Kẻ ý cũ không bụng cảm Anh Xã . Được phiên dịch gọn nhất ra Ngôn Cũ nó sẽ thành: "Những kẻ ấp ủ tư tưởng thành hình trước Cách Mạng không thể cảm biết nguyên lý của Xã Hội Chủ Nghĩa Anh." Nhưng phiên dịch như vậy không đúng hẳn. Thứ nhất, muốn nắm trọn ý nghĩa của câu văn Ngôn Mới trích trên, phải có ý niệm rõ ràng về Anh Xã. Thêm vào, chỉ một người thật thông Anh Xã mới đánh giá được trọn vẹn mãnh lực của từ bụng cảm, một từ bao hàm một sự chấp nhận nhiệt thành khó tưởng tượng được ra ngày nay; hay hiệu lực của từ ý cũ, một từ trộn lẫn rối rắm với ý tưởng ác độc và suy đồi. Nhưng chức năng đặc biệt của vài từ Ngôn Mới trong đó có ý cũ không phải là tỏ nghĩa mà là loại nghĩa. Những từ ấy, tất nhiên không nhiều, có nghĩa rộng đến nỗi chứa đựng bên trong cả tràng từ nay, vì được bao trùm đủ ý dưới có một từ tổng quát, có thể bị gạt bỏ và quên lãng. Nỗi khó khăn lớn nhất mà nhà soạn thảo Từ Điển Ngôn Mới phải đương đầu với không phải là sáng tạo thêm từ mới, mà là làm sao nắm chắc được ý nghĩa của nó sau khi chế ra nó; tức là làm sao nắm chắc được số từ nó xóa bỏ đi bởi sự hiện hữu của nó.
Như chúng ta đã thấy trong trường hợp từ tự do, những từ đã từng có ý nghĩa dị giáo có khi được giữ lại vì tính cách tiện lợi của nó, nhưng sau khi các ý nghĩa bất khả dung đã bị tẩy trừ. Vô số từ khác như danh dự, công lý, đạo đức, quốc tế chủ nghĩa, dân chủ, khoa học, đạo giáo đơn thuần biến mất. Vài từ trùm gồm những từ ấy lại, và loại những từ ấy đi nhờ sự thâu tóm đó. Thí dụ, các từ tập quanh khái niệm tự do công bằng được khép trong mỗi một từ tội ý, trong khi các từ tập quanh khái niệm khách quan và duy lý được chứa trong mỗi từ ý cũ. Chính xác hơn sẽ nguy hiểm. Điều đòi hỏi nơi Đảng viên là một quan điểm giống như lối nhìn của người Do Thái xưa biết rằng, và không biết gì khác hơn, các dân tộc khác họ thờ "hư thần". Họ không cần biết những vị thần đó có tên là Baal, Osiris, Moloch, Ashtaroth hay gì khác; có lẽ họ càng biết ít, càng tốt cho lòng chính thống của họ. Họ biết Jehovah và những giáo điều của Jehovah: cho nên họ biết các thần có tên khác và thuộc tính khác đều là "hư thần". Có thể nói là tương tự như vậy, Đảng viên biết thế nào là cư xử đúng, và biết một cách hết sức mơ hồ, tổng quát, có thể trệch bước tới đâu. Ví dụ, đời sống sinh dục của họ hoàn toàn khuôn theo hai từ Ngôn Mới tội dục (sinh dục vô luân)) và dục tốt (trinh tiết). Tội dục gồm mọi hành vi xấu xa về sinh dục. Nó bao trùm sự thông dâm, ngoại tình, đồng tính luyến ái, cùng các trò dâm dục đồi bại khác, cộng thêm sự giao cấu bình thường nhằm mục đích giao cấu mà thôi. Không cần kể từng hành vi một, vì hành vi nào cũng đáng tội như nhau, và trên nguyên tắc tội nào cũng khiến tội phạm bị xử tử. Trong ngữ vựng C gồm các từ khoa học kỹ thuật, có thể cần nêu danh vài hành vi loạn dâm, nhưng thường dân không cần đến những từ ấy. Người dân thường biết thế nào là dục tốt — tức sự giao cấu bình thường giữa vợ chồng, với mục đích duy nhất là sinh con, người đàn bà không được cảm thấy thú nhục dục trong đó: mọi trò sinh dục khác thuộc tội dục. Với Ngôn Mới khó theo đuổi được một tư tưởng dị giáo quá khái niệm đó là tư tưởng dị giáo: xa hơn điểm này không có danh từ cần thiết.
Không một từ nào trong ngữ vựng B trung tính về mặt tư tưởng hệ. Nhiều từ là uyển ngữ. Ví dụ, có từ như trại vui (trại khổ sai) hay Bộ Bình (Bộ Hòa Bình, tức Bộ Chiến Tranh) có nghĩa gần như trái hẳn ý biểu lộ. Mặt khác, có từ bày tỏ một sự am hiểu miệt thị bản chất xã hội Đại Dương. Một thí dụ là từ dưỡng dân, chỉ cái trò giải trí đê tiện và những tin tức giả mạo mà Đảng ban cho quần chúng. Lại có những từ nước đôi, có nghĩa "tốt" khi đem áp dụng cho Đảng và nghĩa "xấu" khi mang gắn cho quân thù của Đảng. Nhưng thêm vào có rất nhiều từ thoạt coi chỉ là chữ tắt, có sắc thái ý hệ không phải do nghĩa mà do lối kết cấu.
Bất cứ ý tưởng gì có tính cách chính trị đều được cố sức ghép thành từ thuộc ngữ vựng B. Tên của các tổ chức, đoàn thể, học thuyết, xứ sở, thể chế, hay công thự luôn luôn bị cắt xén tới dạng bình dị; tức thành có một từ dễ đọc với thật ít âm song vẫn giữ được nguyên nghĩa. Ví như tại Bộ Sự Thật, Cục Văn Khố, nơi Winston làm việc, được gọi là Cục Khố, Cục Soạn Truyện được gọi là Cục Truyện, Cục Chương Trình Vô Tuyến Truyền Hình là Cục Trình Hình v.v... Phép thâu tắt này không chỉ nhằm mục đích tiết kiệm thì giờ. Ngay thời các thập niên đầu thế kỷ hai mươi, từ và câu lồng vào nhau đã là đặc điểm của ngôn ngữ chính trị; và người ta đã để ý thấy rằng khuynh hướng dùng tiếng vắn tắt kiểu đó nổi bật nhất tại các nước và tổ chức cực quyền. Điển hình là những từ ngữ như Nazi (Quốc Xã), Gestapo (Kiểm Cảnh), Comintern (Cộng Sản Quốc Tế), Inprecorr (Liên Lạc Viên Tiền Phong Quốc Tế ?), Agitprop (Khuấy Động Tuyên Truyền). Thoạt đầu lối ghép chữ này được chấp nhận làm như một cách tự nhiên, nhưng trong Ngôn Mới nó được áp dụng với một mục tiêu có chủ ý. Có sự nhận thức thấy rằng mỗi khi một từ bị rút ngắn, đồng thời nghĩa của nó bị thâu hẹp và biến đổi một cách tinh tế, vì mất đi đa số liên tưởng đáng nhẽ bám vào nó. Tỷ như các từ Cộng Sản Quốc Tế khêu gợi hình ảnh hỗn hợp của tình nhân loại, cờ đỏ, vật cản đường, Các Mác, Công Xã Ba Lê. Mặt khác, từ Cộng Tế (Comintern) chỉ gợi ý một tổ chức chặt chẽ và một bộ học thuyết xác định. Nó nhắc tới một thứ gần như cũng dễ nhận và cũng có nghĩa hạn định như một cái bàn hoặc cái ghế. Cộng Tế là một từ có thể được thốt ra không cần suy nghĩ, trong khi Cộng Sản Quốc Tế là một thành ngữ bắt người ta lần lữa ít nhất đôi chút. Cũng vậy, những liên tưởng được khích động bởi một từ như Bộ Thật ít hơn và dễ kiểm soát hơn những liên tưởng đi đôi với Bộ Sự Thật. Sự kiện này bảo đảm không những cho thói vắn tắt mỗi khi có dịp, mà cả cho tật chăm sóc hầu như quá đáng sự dễ phát âm của mỗi từ. Trong Ngôn Mới, ngoài câu thúc đúng nghĩa, luật hài âm thắng mọi quan điểm khác. Qui tắc văn phạm luôn luôn bị hy sinh cho nó nếu cần. Và thế là phải, bởi nhu cầu, trước hết vì mục tiêu chính trị, là những từ vắn tắt, có ý nghĩa rõ ràng, có thể được phát âm nhanh, lại gợi tối thiểu tiếng vang trong óc kẻ thốt ra chúng. Các từ thuộc ngữ vựng B còn thêm hiệu lực nhờ sự hầu hết chúng tương tự nhau. Gần như luôn luôn những từ ấy — ý tốt, Bộ Bình, dưỡng dân, tội dục, trại vui, Anh Xã, bụng cảm, cảnh ý và vô số từ khác — gồm hai hoặc ba âm, với sự nhấn mạnh chia đều giữa âm đầu và âm cuối. Sự sử dụng những từ này khuyến khích lối diễn văn hiếu thắng, tẻ ngắt, ngay đầu đã giật giọng. Và đấy đúng là đích nhắm. Dụng ý là khiến lời văn, nhất là văn bàn về một vấn đề hơi không trung tính trên phương diện ý hệ, hết sức tách rời khỏi tâm thức. Dĩ nhiên, trong đời sống hàng ngày bắt buộc hay thỉnh thoảng bắt buộc phải suy nghĩ trước khi nói, nhưng một Đảng viên được yêu cầu phán đoán về luân lý hay chính trị phải có khả năng tuôn ra quan điểm đúng đắn một cách tự động chẳng kém gì súng liên thanh xả đạn. Sự rèn luyện khiến họ thích ứng với việc làm này, ngôn ngữ cấp cho họ một dụng cụ gần như vượt mọi thử thách, và sự kết cấu của các từ, với âm thanh chát chói và cái bề thô sơ cố ý thích hợp với tinh thần Anh Xã, giúp cho quá trình diễn tiến xa hơn.
Đấy là hậu quả của sự có rất ít từ để chọn lựa. So với ngôn ngữ của chúng ta, ngữ vựng Ngôn Mới eo hẹp, và luôn luôn có sự tìm kiếm phương cách mới nhằm thu gọn nó lại. Quả vậy, Ngôn Mới khác các ngôn ngữ khác ở cái mỗi năm từ vựng của nó bị thu hẹp lại thay vì được nới rộng ra. Mỗi sự giảm sút là một vụ lợi, vì tầm chọn lựa càng hẹp, lòng rắp rem suy nghĩ càng mòn. Chót cùng là hy vọng khiến cho sự cấu âm phát sinh từ cổ họng, không cần dính líu đến các khu thần kinh cao cả. Mục tiêu này được thành thực thừa nhận trong từ Ngôn Mới nói vịt có nghĩa là "nói quặc quặc như vịt". Như nhiều từ khác trong ngữ vựng B, nói vịt có tính đôi chiều về ý nghĩa. Miễn quan điểm được quặc ra là quan điểm chính thống, từ đó không bao hàm gì hơn ý khen ngợi, và khi Thời Báo nhắc tới một diễn giả thuộc Đảng như một kẻ nói vịt tốt bội hơn, đó là báo có ý ban một lời khen đáng giá, nồng nhiệt.
Từ vựng C. Từ vựng C bổ sung hai từ vựng trên và toàn gồm các từ khoa học kỹ thuật. Loại từ này giống như các từ khoa học hiện dụng, và được cấu tạo trên căn bản tương tự, song như thường lệ việc định nghĩa khắt khe và việc loại trừ những ý nghĩa bất hảo rất được chăm sóc. Chúng theo cùng qui tắc với các từ thuộc hai từ vựng kia. Rất ít từ C được thông dụng trong văn hàng ngày hay văn chính trị. Nhân viên khoa học kỹ thuật nào cũng có thể tra các từ cần đến trong bảng mục lục dành riêng cho ngành của mình, nhưng hiếm khi được biết hơn chút khái niệm về những từ ghi trong các bảng khác. Chỉ có rất ít từ chung cho toàn thể các mục lục, và không có ngữ vựng biểu lộ năng chức của khoa học như một tập quán tinh thần, hay một phương pháp suy tưởng, không lệ thuộc riêng ngành nào. Vả lại, không có từ chỉ "Khoa học", mọi nghĩa có thể được nó đội đã do từ Anh Xã bao trùm đủ rồi.
Chiếu theo trên, ta thấy rằng trong Ngôn Mới, sự phát biểu quan điểm bất chính thống, quá một mức rất thấp, gần như không thể có được. Dĩ nhiên, có thể thốt ra một loại tà ngôn thật tục, một loại lời báng bổ. Ví như có thể bảo rằng Bác không tốt. Nhưng câu này, vào tai kẻ chính thống chỉ đượm tính phi lý hiển nhiên, không thể được dựa trên luận cứ nào, vì không sẵn có từ cần thiết. Những ý tưởng nghịch với Anh Xã chỉ có thể được nuôi dưỡng dưới một hình thức mơ hồ không tên, và chỉ có thể được nêu lên bằng những từ rất tổng quát kết khối với nhau nên nhờ đó không cần định nghĩa mà bít bí được hàng nhóm tà thuyết. Thực ra, chỉ có thể dùng Ngôn Mới nhằm mục tiêu bất chính thống bằng cách dịch lại một cách bất hợp pháp vài từ sang Ngôn Cũ. Ví dụ, Mọi người đều bằng nhau có thể là một câu Ngôn Mới, nhưng chỉ tựa như Mọi người đều tóc hung có thể là một câu Ngôn Cũ. Nó không sai văn phạm, nhưng diễn tả một sự sai ngoa dễ thấy — làm như nó cho rằng mọi người ai cũng bằng bề nhau, bằng cân nhau, bằng sức nhau. Khái niệm bình đẳng chính trị không còn nữa, cho nên nghĩa phụ này đã bị khử trừ khỏi từ bằng nhau. Năm 1984, khi Ngôn Cũ còn là phương tiện truyền thông bình thường, trên lý thuyết có mối nguy kẻ dùng từ Ngôn Mới có thể nhớ lại nguyên nghĩa của chúng. Trên thực tế, bất cứ ai vững ý đôi cũng tránh được chuyện đó, vả lại sau hai thế hệ ngay cái khả năng nhầm lẫn kia cũng sẽ biến mất. Một người sinh trưởng với Ngôn Mới làm ngôn ngữ độc nhất sẽ không còn biết rằng bằng nhau có thời có nghĩa phụ là "bằng nhau về mặt chính trị", hay biết rằng tự do có thời nghĩa là "tự do về mặt tinh thần", chẳng khác gì một người chưa từng nghe nói tới cờ sẽ không hiểu được nghĩa phụ của tướng và xe. Sẽ có nhiều trọng tội và điều sai lầm vượt khả năng phạm phải của họ, chỉ vì chúng không có tên và bởi vậy không thể tưởng tượng ra được. Và phải dự kiến rằng với thời gian các đặc tính của Ngôn Mới sẽ càng ngày càng hiển hiện — số từ ít dần, nghĩa của các từ thêm ngặt, khả năng dùng từ một cách không thích đáng mãi mãi suy giảm.
Một khi Ngôn Cũ bị thay thế hẳn, mối liên lạc cuối cùng với quá khứ sẽ bị cắt đứt. Lịch sử đã bị viết lại, nhưng nhiều mẩu văn chương thuộc quá khứ còn tồn tại đâu đó, không bị kiểm duyệt hết, và còn có người giữ được một chút hiểu biết về Ngôn Cũ, những mẩu đó còn có thể được đọc. Nay mai, dù những mẩu đó có cơ tồn tại, không ai hiểu nổi hay dịch nổi chúng. Không thể dịch được một đoạn Ngôn Cũ sang Ngôn Mới trừ phi nó liên quan đến một quá trình kỹ thuật hay một hành động hàng ngày thật đơn giản, hoặc nó đã sẵn có khuynh hướng chính thống (từ Ngôn Mới sẽ là đầy ý tốt). Trên thực tế như vậy là không có sách nào viết trước khoảng 1960 có thể được dịch trọn vẹn. Văn chương trước Cách mạng chỉ có thể được chuyển dịch theo ý hệ — tức bị biến nghĩa và biến lời. Hãy lấy làm ví dụ đoạn văn danh tiếng trích từ Bản Tuyên Ngôn Độc Lập:
Chúng tôi coi những sự thực sau đây là điều hiển nhiên: Rằng con người sinh ra ai cũng bằng ai, ai cũng được Thượng Đế ban cho một số quyền lợi bất khả di nhượng, rằng trong đó có quyền sinh sống, quyền tự do, và quyền theo đuổi hạnh phúc. Rằng để duy trì những quyền lợi ấy, các Chính Quyền đã được đặt trong nhân loại, rút quyền lực từ sự ưng thuận của những kẻ bị cai trị. Rằng mỗi khi một Chính Thể đi đến chỗ phá hủy mục đích trên, quyền của Dân Chúng là thay đổi hay loại bỏ Chính Thế đó để thiết lập một Chính Quyền mới...
Hoàn toàn không thể chuyển đoạn văn này sang Ngôn Mới mà vẫn giữ được ý nghĩa của nguyên bản. Phiên dịch sát ý nhất sẽ là gom cả đoạn trong có một từ tội ý. Một bản dịch đầy đủ chỉ có thể là một bản dịch trọng ý hệ, theo đó từ ngữ của Jefferson biến thành một bản văn tâng bốc chính thể chuyên chế.
Thật vậy, một phần lớn văn chương quá khứ đã bị biến đổi kiểu đó. Xét về mặt uy tín, nên duy trì ký ức của một vài nhân vật lịch sử nhưng đồng thời khiến những công trình của họ tương ứng với triết lý Anh Xã. Nhiều văn hào như Shakespeare, Milton, Swift, Byron, Dickens, và khác nữa, đương được dịch vì lẽ đó: một khi công việc hoàn thành, văn bản nguyên thủy của họ cùng với những di tích văn chương quá khứ khác sẽ bị hủy hoại. Việc phiên dịch này là một công việc chậm chạp khó khăn, không mong gì làm xong trước nhị thập niên đầu thế kỷ hai mươi mốt. Chính vì để có đủ thì giờ hoàn thành công việc dịch thuật sơ bộ mà sự chấp nhận Ngôn Mới chót cùng đã được ấn định vào một ngày rất xa vào năm 2050.

: system -> application
system -> BỘ NỘi vụ CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
system -> Biểu số 01a/btp/VĐC/xdpl
system -> NĐ-cp cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
system -> CHÍnh phủ Số: 18
system -> Thủ tục cấp giấy phép tổ chức thi người đẹp, người mẫu trong phạm vi địa phương Trình tự thực hiện
system -> BỘ NỘi vụ CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
system -> Nghị ĐỊnh số: 149/2007/NĐ-cp ngàY 09 tháng 10 NĂM 2007 VỀ XỬ phạT VI phạm hành chính trong lĩnh vực du lịCH
system -> THỦ TỤc cấp giấy phép phổ biến phim
system -> BÁo cáo hiện trạng môi trưỜng tỉnh lạng sơn giai đOẠN 2011 2015 MỤc lụC


1   ...   11   12   13   14   15   16   17   18   19


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương