1. Nguồn gốc của Marketing quốc tế : Cơ hội và thách thức Minh hoạ về Marketing : Sự phát sinh việc đa quốc tịch hoá các tập đoàn



tải về 4.84 Mb.
trang9/34
Chuyển đổi dữ liệu15.05.2018
Kích4.84 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   34

Các nhà nhập khẩu phải đối mặt với tình trạng khó khăn là họ không có khả năng xác định được đâu là sản phẩm hợp pháp và đâu là sản phẩm bất hợp pháp . Luật của quốc tế , của liên bang và luật của nhà nước rất phức tạp và mâu thuẫn nhau . Thương nhân Mỹ thậm chí chịu trách nhiệm về việc khi người cung ứng hàng cho họ phạm tội cung cấp chứng từ sai về việc cố gắng làm giả việc giết bất hợp pháp những động vật có nguy cơ tuyệt chủng . Ví dụ công ty chế biến Italia bán cho Halpern giày làm bằng da trăn nhưng lại ghi mác là làm từ da rắn . Để tránh hình thức phạm pháp này , Halpern giờ đây thử chất lượng của hàng mà công ty nhập khẩu và loại bỏ những hàng nhập khẩu nghi ngờ .

Nguồn: Việc tìm kiếm da và lông thú trái phép báo kinh tế hàng tuần 7/3/1983

Việc xuất khẩu , nhập khẩu sản phẩm làm từ động vật hoang dã đã cung cấp cho ta một ví vụ về sự phức tạp của môi trường luật pháp . Giống như hầu hết những nguyên tắc , nguyên tắc về động vật hoang dã cũng đôi khi khó hiểu . Ví vụ Mỹ cho nhập khẩu ngà voi của châu Phi trừ trường hợp là thú bắt trộm . Trong một số trường hợp khac , khong ai chấp nhận người phạm pháp cho dù động vật đó có bị bắt trộm hay không . Thực tế tốc độ gia tăng nhanh của việc trình báo giấy tờ giả mạo đã làm cho người mua không hy vọng rằng nhà sản xuất sẽ điều chỉnh lại -điều đó khác nào để cáo đứng canh chuồng gà con . Từ khi những nguyên tắc không cho phép người mua biện hộ về sự kém hiểu biết của mình , thì người mua phải tự mình cố gắng kiểm soát được tình huống . Họ phải chấp nhận tuân theo những yêu cầu luật pháp cho mỗi mặt hàng mà họ đang bán .

Mục đích của chương này là thảo luận về ảnh hưởng của môi trường pháp luật đến những quyết định kinh doanh và giải thích vấn đề pháp luật và chính trị liên quan đến nhau như thế nào . Chương này nghiên cứu luật và giải thích của các quốc gia đang thay đổi như thế nào . tác động đến xuất khẩu , nhập khẩu và Marketing hỗn hợp . Trọng tâm và luật của Mỹ , luật hạn chế xuất khẩu của Mỹ . Ngoài ra , đề cập đến những hệ thống pháp luật quan trọng , bài viết còn bàn luận về thị trường hàng hoá ảm đạm , sáng chế và vi phạm bản quyền , việc làm giả và ăn hối lộ .Phần này cũng bàn về các kiểu pháp luật của những tổ chức kinh tế .

Hệ thống pháp luật

Để hiểu và đánh giá những triết lý pháp luật khác nhau ở các quốc gia , thì thật cần thiết phân biệt hai hệ thống luật bất thành văn và luật thành văn.

Có 25 quốc gia sử dụng luật bất thành văn và luật của Anh . Hệ thống luật bất thành văn là hệ thống luật dựa phần lớn vào tiền lệ và tập quán . Những phán quyết của toà án không dựa vào luật mà dựa vào những quyết định của toà án trước kia và những giải thích của luật trước đó . Kết quả là , luật của những quốc gia này xu hướng truyền thống . Những quốc gia sử dụng hệ thống luật này bao gồm Mỹ , Anh, Canada , ấn Độ và thuộc địa khác của Anh .

Những quốc gia theo hệ thống luật thành văn , còn được biết đến như code hay luật civil bao gồm các nước ở châu Âu và Nhật Bản . Hầu hết các nước , khoảng 70 nước sử dụng hệ thống luật thành văn . Như tên của nó đã thể hiện , nguyên tắc chính của luật được thể hiện ở những đạo luật được lập ra . Mọi trường hợp đều ghi ra để chỉ rằng cái gì hợp pháp và cái gì là không hợp pháp . Có cách giải thích rất nghiêm túc và văn vẻ của hệ thống luật này .

Thực tế , hai hệ thống luật này có sự giống nhau và có khác nhau khó phân chia rõ ràng được . Mặc dù toà án Mỹ dựa phần lớn vào quyết định và sự giải thích của toà án trước , nhưng họ vẫn cần đến những luật mà nằm trong luật thành văn hoặc đạo luật . Đối với những quốc gia sử dụng luật thành văn , một số luật được phát triển bởi toà án và không bao giờ được viết ra . Chính vì thế , sự khác nhau lớn nhất giữa hai hệ thống luật này là sự tự do của toà án trong việc giải thích luật ở quốc gia sử dụng luật bất thành văn , khả năng của toà án giải thích luật bằng cách cá nhân để đưa cho toà án quyền làm thích hợp luật đó phù hợp với tình huống . Ngược lại , toà án ở quốc gia sử dụng luật civil có vai trò nhỏ bé trong việc sử dụng ý kiến cá nhân để thành lập hoặc giải thích luật , bởi vì toà án phải nhất nhất tuân theo luật đã được in sẵn .

Các dạng khác nhau của môi trường luật pháp

Cũng giống như môi trường chính trị đã thảo luận ở chương trước , thì có nhiều dạng khác nhau của môi trường luật pháp : môi trường trong nước , nước ngoài , và quốc tế . Điều tệ nhất là luật pháp có thể cản trở việc Marketing một sản phẩm . Đối với hầu hết các doanh nhân , luật như là một cản trở . Ví dụ chính sách câu lạc bộ biển Địa Trung Hải về việc thay đổi nhân công nươc ngoài trong 6 tháng ,nhưng đã bị hạn chế bởi luật về di cư của Mỹ .

Môi trường luật pháp trong nước

Trong môi trường nội địa , một doanh nhân phải tuân theo luật pháp quốc gia . Luật pháp có thể ảnh hưởng đến việc nhập khẩu và xuất khẩu hàng hoá . ở Mỹ những sản phẩm phạm pháp cà chất gây nghiện không được phép nhập khẩu .Nhưng một số sản phẩm tiêu dùng có thể hiện không hợp pháp thì cũng bị cấm nhập khẩu . Hơn nữa ,ngoài sản phẩm từ động vật hoang dã thì có một số sản phẩm khác cũng bị cấm như hầu hết các sản phẩm nông nghiệp , động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng như khỉ , vượn , vật phẩm nguy hại và thuốc mê , chất gây nghiện ,chất độc hại , ...
Môi trường luật pháp ngoài nước

Môi trường luật pháp quốc tế

Luật và Marketing Mix

Luật pháp của chính phủ được lập ra để phục vụ cacds lợi ích của xã hội . Một bên là để bảo vệ cho các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh còn một bên là để bảo vệ người tiêu dùng.

Các thành viên NB, AuStralia và New fealard. Sự kết hợp chặt chẽ với những chính sách đã được NaTô tìm thấy trong vài năm qua đã tạo thành những quy định khắt khe về thương mại đối với những quốc gia có liên quan đến nhân quyền. Các khoản vay bị giữ lại đối với Nam phi, Urugoay, Elsalvado và Chi lê.

Các nhà phê bình buộc tội rằng Chính phủ Mỹ đã độc doán trong việc chấp nhận đơn của các quốc gia. Trong khi các nhà phê bình về nhân quyền ở Cu ba, Sec và Liên Xô cũ lạm dụng quyền, Chính phủ Mỹ lại lờ đi hoặc tha thứ cho những hành vi tương tự ở Haili, Honduras, Kenya, Nam phi và Thổ Nhĩ Kỳ. Theo hai tổ chức cá nhân (xem xét các vấn đề nhân quyền và Uỷ ban các nhà làm luật về nhân quyền), chính quyền Reegan áp dụng những chỉ tiêu về nhân quyền đầy mâu thuẫn giữa các nước Liên Minh và các nước thù địch.

Một vài câu hỏi khác liên quan đến những quy định về bất kỳ một hình thức liên minh nào và bất kỳ sự chế nào cũng có hiệu quả. Hành động liên tục gây áp lực đối với Elralvado là một ví dụ và đã có những kết quả cụ thể. Thậm chí ngay cả khi những sự phê chuẩn này có hiệu lực thì chúng không thể đem lại những kết quả mỹ mãn cho những mục tiêu mong muốn. Đã có những chứng cớ không thể chối cãi về nhân quyền ở Iran, Nicarapua, trong suốt thời gian chính phủ của Tổng Thống Shah vad Somora cầm quyền. Tuy vậy chính sách nhân quyền của Hoa Kỳ cũng có mục đích tốt đẹp trong một vài trường hợp.

Sản phẩm:

Có rất nhiều sản phẩm được nhập khẩu bất hợp pháp vào trong hầu hết các quốc gia. Bao gồm như tiền giả, chất kích thích, các văn hoá phẩm đồi trụy và các thiết bị tình báo. Ngoài ra còn nhập khẩu các loại động vật sống, hoa quả tươi trừ khi có giấy chứng nhận đòi hỏi đi kèm. Hơn thế nữa rất nhiều sản phẩm được sửa đổi đi để phù hợp với luật lệ trong nước trước khi các sản phẩm được phép qua biên giới. Sự bớt gay gắt có thể là về yếu tố kỹ thuật từ quan điểm thiết kế hoặc chỉ là đồ mỹ phẩm như trong trường hợp có những sự thay đổi trong việc đóng gói một cách bảo đảm.

Chiến lược sản phẩm của một công ty cũng có thể bị ẩnh hưởng bởi môi trường luật pháp. Mỹ cấm nhập khẩu cái được gọi là con chíp đặc biệt tối thứ 7, súng lục nòng ngắnbởi vì chúng thường được sử dụng để gây án. Thật kỳ lạ là luật quản lý súng lại không cấm việc bán các loại vũ khí rẻ chỉ có việc nhập khẩu cacs loại vũ khí này mới bị cấm. Kết quả là Bertta, một tay buôn súng người Italia có thể vượt khỏi luật cấm nhập khẩu bằng cách thành lập một cơ sở chế biến ở bang Marviand.

Trước khi một sản phẩm được giới thiệu sang thị trường Mỹ, những quy định của luật pháp hiện hành phải được cho thấy. Đây là thực tế đặc biệt khi đối với các sản phẩm có liên quan tới thuốc men và sức khoẻ. Việc áp dụng hoặc thông qua một chất kích thích mới đòi hỏi phải được công nhận của trên 70 yêu câù về tiêu chuẩn kỹ thuật. Khi viện dược phẩm Norik-Eaton, một chi nhánh sản xuất của Morton Norwick đã phải đệ trình một đơn xin hoạt động tới cục quản lý chất kích thích liên bang (FDA) Về sự rõ ràng của sản phẩm có tác dụng làm cơ bắp dễ chịu (Dantrium). Thêm vào đó là các yêu cầu đối với các nguyên liệu. Qúa trình để phê chuẩn thường rất lâu. Cục FDA có thể mất tới 10 năm để thông qua một loại chất kích thích mới. Việc xem xét rất kỹ càng đối với các công ty sản xuất chất kích thích, những công ty này mà trước đây ở Mỹ các bằng sáng chế chỉ mất khoảng 17 năm. Để bảo vệ đầu tư, các công ty đật ra các chiến lược để đối phó với sự chì trệ này. M ặc dù vậy, rất nhiều các công ty thường chọn thị trường đầu tiên cho các sản phẩm của họ là ở Tây Đức, nopưi mà quá ỷtình phê chuẩn chỉ mất có 2 năm. Trong nước Mỹ, mỗi nhà máy chế biến đều có một kênh pjhân phối riêng từ chỗ được coi như là chỗ để cạnh tranh mà không bị kẹt trong quá trình sản xuất.

Trong hầu hết các quốc gia khác, các nhà máy chế biến thuqường không được thoả mái. ở Châu Âu các nhàg buôn bán độc lập bán các loại máy tính cá nhân. Nhưng luật pháp của Châu Âu lại hạn chế việc quản lý phân phối của IBM đã buộc phải tuyển lựa các đại lý bán hàng có nhiệm vụ độc lập, một kênh phân phối ít mơ ước hơn. Các nhà thị trường trực tiếp ở Tây Ban Nha đã thất vọng bởi việc cấm gửu các loại góid bưu kiện tới nhà. Người tiêu dùng ở Tây Ban Nha phải đi tới tận bưu điện trung tâm để nhận các gói hàng. Mặc dầu vậy sự đánh bại, nguyên nhân chính là tại đơn đặt hàng theo đường bưu điện.

Trong các điều khoản của việc bán lẻ, không phải tất cả các kiểu của người bán là đều chấp nhận cho việc phân phối sản phẩm. Trong trường hợp này, người làm phân phối sự ảnh hưởng và hiệu quả bị ảnh hưởng rất nhiều. ậ Nhật, các cửa hàng nhỏ được bảo vên bởi luật pháp, và chi phối ngành công nghiệp bán lẻ. Các cửa hàng bán lẻ với quy mô lớn thì luật pháp cho phép các cửa hàng nhỏ bên cạnh được phủ quyết một số cửa hàng mopứi được dựng lên với hơn 27000 feet vuông và sự đề xuất của các của hàng đang tồn tại. Sự hạn chế này về sự gia tăng của một loạt các của hàng tổng hợp và các cưả hàng lớn buộc các nhà máy chế biến và các nhà nhập kjhẩu phải bán qua những người bán lẻ nhỏ, một kênh phân phối đắt hơn nhiều. Rất nhiều quan điểm về luật như một hàng rào thương mại chính khi những người bánd lẻ nhỏ giường như ít hơn những nhà bán lẻ lớn để lưu trữ và bán hàng hoá nhập khẩu.

Việc bán lẻ ở một số nước khác cũng bị ảnh hưởng bởi các ý nghĩ cổ hủ cái mà người ta gọi là luật rừng. Luật này cấm các cửa hàng mở cửa vào ngày chủ nhật. Trong nước Anh và wales. Sẽ là hợp pháp khi mua caca cuốn sách khiêu dâm vào ngày chủ nhật, nhưng không phải là một chai rượu . rượi wshiky và chai rượi Gin cũng không phải là sữa đặc trong can .

Xúc tiến

Không có hình thức hạn chế là bao nhiêu, một quảng cáo có thể phải chi trả cho việc xúc tiến của moình ở trong nước Mỹ. Nhưng ở một số nơi việc tự do chi tiêu được xem như là một nhà nhập khẩu. Quan điểm về quảng cáo thì không nhất thiết đối với các nhà làm kinh doanh. Rất nhiều nước đánh thuế vào các trương trinh quảng cáo, các cơ quan và các phương tiện truyền thông. Một số chính phủ sử dụng thếu quảng cáo để hạn chế quảng cáo bởi yêu cầu và lạm phát có thể được kìm hãm. Một số chinmhs phủ khác sử dụng giới hạn quảng cáo như một hàng rào không thếu quan đối với việc xuất khẩu ra nước ngoài. VD, Nhật Bản không cho phép các hãng thuốc lá của nước ngoài được phép quảng cáo bằng tiếng Nhật.

Với một lịch trình hạn chế trong khi có rất nhiều cuộc đàm phán với chíng phủ Mỹ. Cuối cùng công ty TWA đã vượt qua sau khi công ty đề nghị chíng phủ Mỹ can thiệp. Sự kiện này đã đánh dấu sự quan trọng đó là họ có thể có sự cống hiến cho chính phủ ở nước mình và gây ra áp lực cho nước chủ nhà.

Sự phức tạp của môi trường luật pjháp quốc tế kết hợp với mạng lưới kinh doánh quốc tế đôi khi có thể tạo ra những cơ hội không mong đợi và những giải pháp đối với các vấn đề đa dạng này. Nilkel của Cuba vẫn tìm được cách để xâm nhập được vào thị trường của Mỹ qua sự giả mạo nguồn gốc. Một lịch trình bao gồm tàu trở Nilkel của Canada (được nhập khẩu qua điều khoản ưu đãi tối hệu quốc)có thể đưa vào nước Mỹ mà không bị đánh thếu. Lợi nhuận của Xoviet không phải bằng việc đóng theo biểu thuế quan 3 cents/1 pound. Các tuyến lịch trình khác được thực hieưẹn bởi khối liên minh Xoviêt qua Tây Đức. ậ đó có 2 hình thức nhập khẩu. Một đó là sử dụng nội lực và một đó là thực hiện việc tái xuất. Hình thức tái xuất được thực hiện chủ yếu cho quá trình kinh doanh xuất khẩu mặc dù vậy các nước Soviêt vẫn chuẩn bị Nilkel để cung cấp cho thị trường Mỹ.

Không có luật phápd quốc tế nào mà những quy định về cách thực hiện một cách hợp pháp và có thể cháap nhận được của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế. Thường luật pháp của các quốc gia lại hay mâu thuẫn với nhau. Đặc biệt khi có liên quân đến chính trị. Điều phức tạp này lại tạo nên một vấn đề đặc biệt cho các công ty đó bởi khi làm kinh doanh ở nhiêù nước khác nhau tại đó mỗi nước lại có những đòi hỏi khác nhau. Mặc dù luật kinh doanh quốc tế không tồn tại , rất nhiều tổ chức quốc tế đang có xu hướng chuyển theo hướng đó. Liên hợp quốc đã trở nên rất tích cực trong nỗ lực điều chỉnh các nhà kinh doanh trong nước và quốc tế. Những đường lối trong việc bảo vệ kinh doanh và tiêu dùng là một ví dụ rất tốt. Mặc dù sự hiệu quả của các đường lối kinh doanh này vẫn còn là câu hỏi của rất nhiều nước, trong đó bao gồm cả Mỹ cũng phản đối về các nỗ lực của Liên hợp quốc và cho rằng Liên hợp quốc không có vai trò trong việc can thiệp vào các vấn đề kinh doanh trong phạm vi quyền hạn trong nước của một số quốc gia và. Trong đó GATT là tổ chức tích cực nhất. Vai trò của tổ chức này trong việc thúc đẩy tự do hoá đã được thoae thuận trong chương III. Liên minh Châu âu, đang đại diện cho mong muốn của các nước thành viên về việc hội nhập nền kinh tế, những nỗ lực cho mục tiêu tương tự. Luật lệ của Uỷ ban Châu âu có thể còn có hiệu lực mạnh hơn cả luật của quốc gia trong đó có đưa ra các rào cản của quá trình chu chuyển hàng hoá tự do từ nước này sang nước khác trong các nước thành viên. Có thể thấy như trong trường hợp của thị trường Bia ở Tây Đức. Thị trường này đã được bảo hộ trong gần 500 năm từ việc nhập khẩu bia bằng luật :"Bia tinh khiết". Điều luật này ở đức yêu cầu thành phần của Bia chỉ bao gồm các hạt ngũ cốc được ủ thành mạch nha, các cây hoa bia, nước men tự nhiên và không có các chất phụ gia mà có hoá chất độc hại (những chất phải đảm bảo ổn định và an toàn). Luật tinh khiết được áp dụng đối với các loại bia được nhập khẩu vào trong Tây Đức nhưng không áp dụng cho các loại bia của Đức được xuất khẩu sang các nước khác.

Luật cấm xuất khẩu của Mĩ

Quy định chống tẩy chay hàng hoá (Antiboy cott Regulation)

Đạo luật quản lý hàng xuất khẩu của Mỹ năm 1977 đã gây nên sự tẩy chay hàng hoá. Điều đó đã hình thành một chính sách của Hoa Kỳ nhằm chống lại sự hạn chế thương mại của các nước khác đối với các nước thân thiện với Hoa Kỳ. Mục đích của luật này không phải không thừa nhận chủ quyền tối cao của bất kỳ quốc gia nào mà nhằm tẩy chay hàng hoá từ các quốc gia khác. Chính xác hơn là nhằm ngăn cản các công dân Mỹ sử dụng hàng hoá. Luật này như là một công cụ trong chính sách đối ngoại của quốc gia. Các Công ty của Mỹ được khuyến cáo từ chối bất kỳ yêu cầu để hỗ trợ như tẩy chay hàng hoá và các yêu cầu báo cáo như yêu cầu của Uỷ ban chống tẩy chay hàng hoá.

Từ chối kinh doanh đối với những Công ty nằm trong sổ đen và tẩy chay hàng hoá các quốc gia thân thiện với Hoa Kỳ theo đúng sự tẩy chay hàng hoá nước ngoài yêu cầu. Sự phân biệt, đối xử những người Mỹ khác dựa trên chủng tộc, vùng giới tính hoặc quốc gia xuất xứ để theo đề nghị sự tẩy chay hàng hoá nước ngoài.

Sự cung cấp thông tin về chủng tộc, vùng giới tính hoặc nguồn gốc quốc gia của những về tin hoặc quốc tịch của người Ck. Công ty vi phạm luật bởi vì nó bị cấm thông tin về mối quan hệ kinh doanh của người khác với những người trong danh sách đen của người ảrập, cũng chứng nhận rằng chắc chắn sản phẩm đó không có nguồn gốc từ Is sarel. Công ty bị ảnh hưởng ủng hộ việc chống tẩy chay hàng hoá. Mặc dù Xeox không công nhận về sự vi phạm này nhưng nó phải trả nợ 17.000 đôla tiền phạt và đồng ý cắt giảm sự ưu tiên về xuất khẩu sang hầu hết các quốc gia ảrập trong vòng 6 tháng. Theo như lời của Xerox, hầu hết các chứng cứ mỉa mai vì chính bản thân Công ty đó cũng bị tẩy chay ở ảrập.

Đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài.

Đạo luật này nhằm giới hạn những khoản phí phải trả để dành được một hợp đồng nước ngoài và bất kỳ một sự vi phạm nào đối với đạo luật này có thể bị phạt một khoản tiền bạc và bị bỏ tù. Nhưng luật này vẫn còn mập mè không rõ ràng và nó làm tăng sự trì hoãn cũng như những chi phí cho việc tiến hành kinh doanh. Ví dụ một người cùng hợp tác với một Công ty phải chứng nhận rằng không có một hành động đút lót, hối nộ, hoặc trái đạo đức, hầu như mới hoạt động kinh doanh đều được thực hiện. Đaị lý của Công ty phải dành một khoản chi phí kế toán trước khi nhận được sự chi trả cho chi phí đó như là một thường lệ, hay một người lái taxi chuyến. Theo như khảo sát gần đây phần lớn các khái niệm kinh doanh của Mỹ là.

Đạo luật không đạt được những mục đích đã định sẵn.

Đạo luật này đẩy các…….. của Hoa kỳ một sự bất lợi về cạnh tranh.

Đạo luật này góp phần không nhỏ đến sự không thuận lợi, sự cân bằng cán cân thanh toán của Hoa Kỳ.

Cảm giác chung cho rằng, đạo luật này nên được chấp nhận mặc dù nó vẫn chưa tạo niềm tin trên thế giới. Những hàm ý bổ xung của đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài đều được xem xét trong lĩnh vực có liên quan đến hối lộ.

Những quy tắc liên quan tới sức khoẻ, môi trường và an toàn.

Những quy định này dựa trên giả định rằng điều gì là tốt cho nước Mỹ, là tốt cho các quốc gia khác. Những luật lệ về sức khoẻ, sự an toàn và môi trường buộc các hãng nước ngoài phải tuân theo một cách nghiêm ngặt chứng chỉ của Hoa Kỳ, vấn đề đó một vài nhà kinh doanh nhìn nhận rằng các quy định của Hoa Kỳ có thể khiến cho hàng hoá không những không thể dùng được mà còn quá đắt do đối với người tiêu dùng nước ngoài. Các nhà phê bình những quy tắc này khảng định rằng chính phủ Hoa Kỳ không nên áp đặt những quy định về sức khoẻ sự an toàn chung và môi trường đối với các hãng của các quốc gia khác.

Những hạn chế về xuất khẩu - nhập khẩu tiền tệ.

Những vấn đề có liên quan đén những quy tắc xuất - nhập khẩu tiền tệ của Mỹ rất nhiều.

Thứ nhất : ngân sách quốc hội cấp quá ít, thứ hai. Luật chính phủ và sự hạn chế chặt chẽ về số lượng các thẻ tín dụng cấp cho hoạt động xuất nhập khẩu. Đạo luật thương mại năm 1974 cấm sử dụng thẻ tín dụng xuất nhập khẩu đối với hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa. Autirust laws.

Luật này của Hoa Kỳ đem lại kết quả trong sự miễn cưỡng các Công ty của Mỹ để hình thành những Công ty liên doanh hoặc cấm tham gia các dự án ở nước ngoài. Vào năm 1980 cùng với xu hướng tăng lên thì sự hạn chế của luật này cũng giảm bớt, đạo luật năm 1982 cho phép nhà xuất khẩu thành lập các Công ty xuất khẩu thương mại để họ có thể chia sẻ tài nguyên được sét miễn thuế. bất chấp những quy định mới các nhà xuất khẩu vẫn phải thực hiện kinh doanh cùng sự khác nhau những khái niệm về sự giải thích của luật giữa phòng Thương mại và phòng Tư pháp Tax Re gulation (những quy định về thuế)

Điều này luôn không thế và không đáng đối với những Công ty Mỹ đang tiến hành hoạt động kinh doanh nước ngoài từ trụ sở chính ở nước. Những chi phí cho các nhà quản lý của Mỹ ở thị trường nước ngoài có thể là rất cao bởi sự giao động của những đồng nội tệ của nước đó nạm phát và giá sinh hoạt cao.

ở Nhật bản một căn hộ nếu có sẵn mọi thứ có thể tới vài nghìn đôla một tháng và các trường học tư nhân cũng có con số tương tự cho một đứa trẻ trên một năm. Người Mỹ sống ở nước ngoài luôn được bù thêm cho những khoản phí thêm về nhà ở và trường học. Đến năm 1976 Luật thuế 1954 cũng cho phép họ miễn giảm 2000 - 25000 thuế thu nhập của họ. Năm 1976 quốc hội cắt giảm xuống còn khoảng 15.000.

Vấn đề này gây nhiều khó khăn để thông qua dư luật cải tổ Luật thuế 1978. Việc này đã bị loại riêng ra và thay thế bằng cách thức phức tạp cho phép khấu trừ đi những chi phí sinh hoạt cơ bản. Tuy vậy gánh nặng về thuế vẫn còn đối với những người Mỹ đang làm việc ở nước ngoài và buộc các Công ty phải trả cho những người của họ làm việc ở nước ngoài những khoản thuế thêm.

Một nhân viên của một Công ty của Mỹ làm việc ở ảrậpxêút với mức lương 4000 thì cần nhiều hơn 3 lần khoản đó để duy trì tương tự mức thu nhập tại Mỹ sự gia tăng về chi phí buộc các Công ty chuyển người lao dộng địa phương các nhà quản lý địa phương trong nhiều trường hợp có thể có chức năng như những người Mỹ không sống ở nước ngoài, ngoại trừ điều đó thì họ có thể phải quen với việc mua sắm hàng hoá địa phương hoặc Châu Âu thay vì việc cung cấp từ Mỹ.

Đối với những Công ty xây dựng dùng lao động chân tay, nó không rễ ràng thay thế những kỹ sư có trình độ bằng các kỹ sư các quốc gia khác. Kết quả là gánh nặng trong việc tăng thuế đã giảm lượng xuất khẩu của Mỹ và thuế thu nhập cho nhà nước.

Luật 1978 đã được thay thế bởi một số luật hợp lý hơn trong năm 1981. Với riêng một khoản 70.000 giá để gửi của một người Mỹ đã giảm xuống. Luật mới cũng không có ảnh hưởng của thuế các quốc gia có tỷ lệ thuế thu nhập cao hơn. Tất cả các nước Tây âu, Mỹ Latinh, Nhật bản đều có mức thuế cao hơn mức thuế cao nhất của Mỹ, chưa có thuế thu nhập trong những trường hợp này. Những quy định về thuế thích hợp hơn có thể làm thay đổi một phần khó khăn của các Công ty Mỹ đối với việc đưa người Mỹ ra nước ngoài.

Thêm nữa, đối với những luật thuế Liên Bang, một số chính phủ có cùng luật thuế, chính điều này là một phương pháp gây đầy tranh cãi về cách tính thuế thu nhập Liên Bang. Luật thuế này cho phép nhà nước tính cả thu nhập ngoài và sự phân chia rộng rãi của Công ty.

Tham nhũng hối lộ

Ngay ý nghĩ đầu tiên, tham nhũng không những vô nguyên tắc và bất hợp pháp, tuy nhiên theo cách nhìn hẹp hơn thì hối lộ thực sự thì không phải là một vấn đề gây tranh cãi đơn giản.

Đã có nhiều câu hỏi đặt ra, tham nhũng (hối lộ) là gì? nó diễn ra như thế nào và tại sao phải sử dụng đó. Những vấn đề về đạo đức và pháp luật kết hợp với hối lộ cũng có thể rất phức tạp.

Theo đạo luật chống tham nhũng năm 1977, hối lộ là một tập quán thói quen trong thương mại để yêu cầu trả lời, cam kết sẽ trả, hoặc chấp thuận nhận một vật gì có giá trị để có thể thực hiện rễ ràng một hành động hoặc một quyết định bởi chính phủ nước ngoài, nhà chính trị hoặc một đảng phái nào đó để giúp đỡ đạt được trực tiếp công việc kinh doanh cho người nào đó. Một hành động hối lộ cũng được biết đến như là khoản "thanh toán" "tiền đút lót".

Chất súc tác "phong bì' hoặc "khoản thanh toán ngoài hợp đồng" như là những phương thức thanh toán khác. Một khoản hối lộ có thể gửi dưới dạng tiền mặt, quà, hoặc các chuyến thăm quan miễn phí.

Theo lời của ban Giám đốc Thương mại (Commerec board) khoảng 3/4 nhà kinh doanh hàng đầu của Mỹ tán thành khoản thanh toán không bình thường này. Các Công ty liên quan bao gồm Exxon, Lockeed, Greneral mofox, Ford, Unitecl Bvand, Crnem man, Nerthnop và MC Donnell - Douglas, các khoản thanh toán được xếp từ những người quan trọng đến những thư ký.

Có một vài nguyên nhân giải thích tại sao hối lộ lại được nài nỉ, yêu cầu và chấp thuận một nguyên nhân là mức lương thấp của các công chức nhà nước đơn giản tính tham lam là một nguyên nhân khác. Lòng trung thành và những lời hứa đối với bạn bè, gia đình và các Đảng phái chính trị của họ có thể gây cho họ yêu cầu hành động tử tế, điều này sẽ đem lại lợi nhuận cho những tổ chức đó. Sự tăng nhanh về số lượng các quy định của các nhà chức trách có vẻ là một nguyên nhân khác. Các quy định phức tạp đã tạo cơ hội cho hối lộ bởi vì bằng cách đưa hối lộ thì một Công ty có thể đi tắt các tệ nạn hành chính quan liêu. Hệ thống chính phủ của Braxin cũng gây ra những khó khăn đó thậm chí nó còn.


: contents
contents -> Th ng t­ liªn tÞch
contents -> Sau khi nghiên cứu điều kiện đăng ký dự tuyển viên chức của (2), tôi thấy có đủ điều kiện để tham dự kỳ thi tuyển
contents -> HỘI ĐỒng nhân dân tỉnh sơn la số: 77/nq-hđnd cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
contents -> Của Thủ tướng Chính phủ số 120/2008/QĐ-ttg ngày 29/8/2008 Về việc quy định điều kiện xác định người bị phơi nhiễm với hiv, bị nhiễm hiv do tai nạn rủi ro nghề nghiệp
contents -> Số: 287/QĐ-btnmt cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
contents -> Bé y tÕ Sè: 1369/ byt-q§ Céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam
contents -> Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012
contents -> Quy đỊnh việc xử phạT VI phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, SỬ DỤng tài sản nhà NƯỚC; thực hành tiết kiệM, chống lãng phí; DỰ trữ quốc gia
contents -> Ch­¬ng tr×nh häc bæng cña c ng ty Human Resorcia dµnh cho sinh viªn ngµnh kü thuËt Th ng b¸o vÒ kÕ ho¹ch pháng vÊn, trao häc bæng vµ khai gi¶ng líp häc tiÕng NhËt
contents -> ĐỊnh hưỚng nghiên cứu khoa học cho chưƠng trình phòNG, chống hiv/aids giai đOẠN 2016 -2020


1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   34


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương