1. Nguồn gốc của Marketing quốc tế : Cơ hội và thách thức Minh hoạ về Marketing : Sự phát sinh việc đa quốc tịch hoá các tập đoàn



tải về 4.84 Mb.
trang8/34
Chuyển đổi dữ liệu15.05.2018
Kích4.84 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   34

Nói tóm lại, việc bảo hiểm sẽ giúp các nhà đầu tư có những lời chào hàng cạnh tranh hơn bằng cách nới rộng thơì hạn tín dụng và giành được sự tài trợ từ phía nước ngoài. Trên 8,000 doanh nghiệp đã tận dụng được lợi ích từ dịch vụ bảo hiểm của FCIA. Một nhà nhập khẩu có thể áp dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu thông qua các trung gian bảo hiểm quốc gia hoặc các văn phòng FCIA địa phương. Bảng 4.3 liệt kê các chương trình trợ giúp khác nhau đối với các giao dịch cụ thể.

FCIA hoạt động trong sự hợp tác với eximbank. Eximbank chi phối hoạt động của FCIA. Trong khi các hãng bảo hiểm tư nhân bảo hiểm những rủi ro tín dụng thương mại thông thường, eximbank bảo hiểm cả những rủi ro về chính trị cũng như tái bảo hiểm những rủi ro thương mại vượt mức qui định. Trách nhiệm pháp lí đối với những rủi ro chính trị bao gồm : ‘ sự chậm chễ trong việc chuyển thanh toán,những mối nguy hiểm như chiến tranh, cách mạng hay những hành động chiến tranh tương tự; sự thu hồi hoặc không thể thu hồi giấy phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu mà không lường trước được, hành động trưng thu, sung công, hoặc sự can thiệp của chính quyền vào công việc kinh doanh của người bán, phí vận chuyển hay bảo hiểm gây ra do sự gián đoạn hay đi lệch hướng của việc vận chuyển.



Thời hạn ngắn

(Dưới 180 ngày)



Các sản phẩm Chương trình phù hợp

Hàng tiêu dùng Các chính sách FCIA

Mặt hàng sản xuất nhỏ

Phụ tùng thay thế

Vật liệu thô

Sản phẩm nông trại

Thời hạn trung bình

(Từ 181 ngày đến 5 năm)



Các sản phẩm Chương trình phù hợp

Các thiết bị dùng cho khai thác và tinh chế Các chính sách FCIA

Máy móc xây dựng Các thế chấp cho ngân hàng thương mại

Máy bay nói chung Chuyển cover cho các nhà phân phối nước ngoài

Máy móc nông nghiệp

Các thiết bị truyền thông Vay chiết khấu

Các nghiên cứu cho việc lập kế hoạch và tính khả thi Đường lối được bảo đảm giữa các ngân hàng



Thời hạn dài

(Trên 5 năm)



Các sản phẩm Chương trình phù hợp

Các nhà máy xi măng Vay trực tiếp

Các hệ thống hoá học Bảo đảm tài chính cho ngân hàng thương mại

Nhà máy điện- thuỷ điện, nhiệt điện, điện nguyên tử

LNG và các hệ thống xử lý khí Các khoản vay PEFCO

Các máy bay thương mại

Đầu máy xe lửa

Giữa các sản phẩm FCIA là Master Policy, nó cung cấp sự bảo vệ tự động và bao trùm cho một mức giá hấp dẫn thông qua một chính sách thống nhất cho tất cả các mặt hàng. Master Policy được kí kết chó việc vận chuyển trong suốt giai đoạn một năm và bảo đảm cho tất cả các hàng hoá đủ tư cách của người xuất khẩu (chẳng hạn: nhiều sản phẩm của người xuất khẩu tới các thị trường khác nhau ). Bán hàng ngắn hạn và trung hạn đều được bảo đảm bằng chính sách này. Thông thường thì 90% thiệt hại về thương mại và 100% thiệt hại do rủi ro về chính trị được đề cập đến. Ưu điểm của Master Policy là nó còn cung cấp một số điều khoản đặc biệt. Chẳng hạn điều khoản “trước khi vận chuyển” nhằm bảo đảm ngày kí hợp đồng bán hàng thay vì ngày gửi hàng. Hàng hoá cũng được bảo đảm. Ngoài ra, các công ty còn bỡ ngỡ trong lĩnh vực xuất khẩu hoặc có lượng hàng xuất khẩu hạn chế có thể áp dụng Small Bussiness Policy, cũng giống Master Policy nhưng linh hoạt và có nhiều ưu đãi hơn.

Kết luận

Môi trường chính trị của các marketer quốc tế khá phức tạp và khó khăn do sự tương tác giữa môi trường chính trị trong nước, ngoài nước và quốc tế. Nếu một sản phẩm được nhập khẩu hay sản xuất ở nước ngoài, các đảng phái chính trị và tổ chức lao động sẽ buộc tội marketer không tạo cơ hội việc làm cho cho nước chủ nhà. Mặt khác, các chính phủ nước ngoài không phải lúc nào cũng niềm nở với các nguồn vốn và đầu tư từ bên ngoài vì những mối nghi ngờ về động lực và sự cam kết của marketer. Khi cả nước chủ nhà và nước đất nước của nhà đầu tư bên ngoài có chế độ chính trị và lợi ích quốc gia khác nhau, chính sách trái ngược của hộ sẽ làm cho vấn đề càng trầm trọng hơn.

Chương này đã đề cập đến khía cạnh chính trị của thương mại quốc tế. Do sự đa dạng của các chế độ kinh tế, chính trị nên các chính phủ phải theo đuổi các triết lý khác nhau. Trong một số trường hợp, động lực chính trị của họ làm che mờ các logic về kinh tế. Kết quả thường thấy là các rủi ro về chính trị -như sự chiếm đoạt, quốc hữu hoá, sự hạn chế- được tạo ra nhằm chống lại hàng xuất khẩu và /hoặc hàng nhập khẩu là không thể tránh được.

Các quyết định marketing do vậy cũng bị ảnh hưởng khi xem xét các vấn đề chính trị. Khi đầu tư vào một quốc gia ở nước ngoài, các công ty phải hết thận trọng vớí những vấn đề chính trị ở quốc gia đó. Nói chung chính trị vốn tự nhiên là dễ thay đổi, các công ty nên chuẩn bị các kế hoạch dự phòng để đương đầu với những thay đổi chính trị có thể xảy ra. Để tối thiểu hoá những rủi ro về chính trị, công ty cần cố gắng thích nghi với lợi ích quốc gia của nước chủ nhà bằng cách tham gia tích cực vào nền kinh tế, tuyển nhân viên các kiều dân của nước đó, chia sẻ quyền sở hữu doanh nghiệp với các các doanh nghiệp địa phương và luôn làm tròn trách nhiệm công dân tại nước đó. Mặt khác, để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình, các công ty nên duy trì thái độ chính trị trung lập, thực hiện các hành động chính trị một cách thầm lặng để đạt tới mục tiêu của mình, và chuyển các rủi ro cho tới phía thứ ba bằng các mua bảo hiểm chính trị. Và cuối cùng các công ty nên xây dựng một hệ thống cho phép họ có thể đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện về các điều kiện chính trị.

Một số công ty coi vấn đề chính trị như là một trở ngại khi tham gia vào thị trường bên ngoài hay lại coi đó là rào cản tới việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên. Nhưng đối với các công ty khác, các vấn đề chính trị lại là các cơ hội và thử thách. Theo một số công ty có cái nhìn lạc quan thì các vấn đề về chính trị cũng tương tự như các điều kiện về môi trường có thể vượt qua và kiểm soát được. Các rủi ro về chính trị có thể giảm bớt, thậm chí có thể loại bỏ thông qua sự thích nghi và điều khiển khéo léo.

Câu hỏi:

Giải thích tại sao có nhiều môi trường chính trị

Phân biệt giữa chính phủ nghị viện (mở) và chính phủ chuyên chế (đóng)

Phân biệt các kiểu chính phủ: hai đảng, đa đảng, một đảng duy nhất, một đảng thống trị

Phân biệt các chế độ kinh tế: chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản.

Sự ổn định của một nước được quyết định bởi : (a) sự phát triển kinh tế (b) dân chủ (c) chủ nghĩa tư bản.

Giải thích các khái niệm: tịch thu, chiếm đoạt, quốc hữu hoá và nội địa hoá.

Thế nào là chiếm đoạt dần dần ? Những ảnh hưởng kinh tế của nó đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Thế nào là các nguồn tiềm năng, các dấu hiệu của sự mất ổn định chính trị

Một công ty làm phân tích về sự mạo hiểm trong khi đầu tư vào một quốc gia như thế nào?

Giải thích các phương thức quản lý mạo hiểm chính trị sau: từ bỏ, bảo đảm, đàm phán và môi trường, xây dựng cơ cấu đầu tư.

các biện pháp nào có thể sử dụng nhằm tối thiểu hoá các rủi ro về chính trị

OPIC là gì và nó giúp đỡ các nhà đầu tư Hoa Kỳ trong việc đầu tư ra nước ngoài như thế nào ?

FCIA là gì và nó giúp đỡ các nhà đầu tư Hoa Kỳ trong việc đầu tư ra nước ngoài như thế nào ?



Các tình huống thảo luận

Theo Harvey E Heinbach, phó chủ tịch của Merrill Lynch “” Thảo luận về lời nói này trên quan điểm chính trị và kinh tế liên quan tới Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Tại sao nước chủ nhà (bao gồm cả Hoa Kỳ) không phải lúc nào cũng dễ dàng chấp nhận đầu tư của công ty nước ngoài vào sản xuất trong nước.

Đã từng nhìn nhau với thái độ thù địch, giờ đây Hoa Kỳ và Trung Quốc đang đẩy mạnh các mối quan hệ về kinh tế , chính trị. Những lý do nào có thể giải thích cho sự phát triển này.

Một quốc gia sẽ như thế nào nếu chuyển đổi thành chế độ 100% chủ nghĩa tư bản hay 100% chủ nghĩa cộng sản.

Chủ nghĩa tư bản có phải là chế độ tốt nhất về kinh tế, xã hội cho tất cả các quốc gia

Năm 1987, Tsuneo Sakak, một nhân viên của Fuji Photo Film, được nhận vào Simon School of Business tại trường đại học Rochester nhưng lại bị từ chối mà không có một lời giải thích. Sau đó người ta mới biết rằng người đứng sau việc này là Eastman Kodak, ông này có trụ sở nằm trong Rochester. Kodak đã kiến nghị với trường đại học là Sakai sẽ biết được các bí mật thương mại của Kodak từ rất nhiều nhân viên của ông hiện đang tham dự các khoá học về kinh doanh, các bí mật này có thể tình cờ bị tiết lộ thông qua các buổi tranh luận trong lớp học. Kodak là công ty có đóng nhiều nhất cho trường đại học cần phải có trách nhiệm với sự thay đổi quyết định của trường đại học. William E Simon, nguyên là Treasury secrectary, đã từng cộng tác với Rochester chỉ trích cả trường đại học lẫn Kodak, ông gọi hành động đó là “sự mua chuộc ”. Kodak biện hộ rằng những gì họ làm là nhằm bảo vệ lợi ích kinh doanh của mình. Kodak khăng khăng cho rằng hành động của họ là hoàn toàn hợp lý.

Câu hỏi


Bạn có ủng hộ việc Kodak quyết định gây áp lực cho trường đại học

Bạn có ủng hộ việc trường đại học không cho Sakai vào học

Kodak và trường đại học Rochester cuối cùng thu xếp cho Sakai được nhận vào . Và . Liệu những sự kiện tiếp theo có làm thay đổi câu trả lời của bạn không.

Kẻ độc tài

Năm 1987, MIT (Viện Công Nghệ Massachussetts) định mua hoặc thuê một siêu máy tính và cho mời thầu với mức giá 7,5 triệu đô la. Trong số những công ty tham dự có: Cray Research, IBM, ETA Systems, Amdahl (Fujitsu sở hữu 46%) và Hneywell-NEC (Nippon Electric Corp sở hữu 50%).

Biết được rằng MIT thích máy của người Nhật, chính phủ Hoa Kỳ liền can thiệp vào. Quyền tổng thư ký của Commerce chính thức thông báo cho chủ tịch MIT rằng “ hàng hoá nhập khẩu cần phải tuân theo thuế chống phá giá của quốc hội”. Mặc dầu có sự phủ định của bộ thương mại về đe doạ của chính phủ, MIT hiểu rằng do những rào cản của Nhật không cho các công ty siêu máy tính của Hoa Kỳ tham gia vào thị trường Nhật Bản nên chính phủ Hoa Kỳ cũng không muốn mua siêu máy tính của Nhật.

MIT phản ứng lại việc chính phủ can thiệp vào bằng cách huỷ bỏ việc đặt hàng và tuyên bố là họ cần xin ý kiến của quỹ liên bang về việc trung tâm nghiên cứu sẽ sử dụng siêu máy tính của Hoa Kỳ.

Câu hỏi

Chính phủ Hoa Kỳ buộc MIT từ bỏ siêu máy tính của Nhật mặc dù giá thấp hơn có hợp lý không ? Nên nhớ rằng các dự án nghiên cứu cần tới sự trợ giúp của siêu máy tính là do chính quyền liên bang tài trợ.



MIT phản ứng bằng việc bãi bỏ kế hoạch mua hàng có đúng không?

Trường hợp 4-3 : Quảng cáo đến chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Nam Phi : Công ty Mỹ có nên đầu tư vào Nam Phi không ?

Công ty trách nhiệm Hữu hạn Navazuni ( là một công ty miền Nam California mang tính chất đại diện và là giả định ) cung cấp quần áo đắt tiền cho cả nam giới và nữ giới . quần áo có thể được làm từ lông cừu được làm mềm và da dê non hay được đan từ loại len tốt nhất hoặc từ lông dê . Sản phẩm của hộ rất nổi bật , đó là do việc sử dụng sự thay đổi kiểu cách của những mẫu của bộ tộc người gốc Mỹ , Zuni và Navajo đã phát triển nó đầu tiên . Các mẫu đó , được sản xuất bằng máy moc shoặc được làm bằng tay , đã chứng tỏ là được sử dụng rất rộng rãi với người trẻ tuổi hợp thời ở các vùng đô thị , năm 1980 công ty bắt đầu cân nhắc việc mở rộng ra nước ngoài .

Năm 1981 , các đơn đặt hàng về sản phẩm Của Navazuni nhận được không mấy hy vọng từ nước cộng hoà ở Nam Phi , một quốc gia có người khởi xướng -tương tự như thế ở Tây Mỹ - đã tạo nên lợi ích người tiêu dùng ở American Indián giữa cộng đồng da trắng Châu Âu . Số lượng người da trắng lớn đến California như những du khách , nơi mà họ bị hấp dẫn bởi các mẫu thiết kế Amer-Indián , các mẫu mà giống như những mẫu được người Bantu ở Nam Phi sử dụng . Những yêu cầu ban đầu , một khi đã được đáp ứng , đã đưa đến bởi những đơn đặt hàng lớn trong năm . Năm 1982 , số lượng tiếp tục được mở rộng , là nguyên nhân cho hội đồng quản trị Navazuni cân nhắc việc thám hiểm thị trường Nam Phi .

Năm 1983,quan chức của lãnh sự quán Nam Phi đặt tại Los Angeles , đã thăm tổng giám đốc công ty Navazuni . Ong hỏi , Liệu công ty sẵn sàng trong việc xây dựng công ty con sản xuất thuộc sở hữu của mình hoàn toàn ở Nam Phi không ? Nơi xây dựng đó phải được xây dựng cùng với khu công nghiệp trắng đã đựoc thành lập trước trên Kwazulu (Zululand) một trong những nước thường đựơc gọi là Nam Phi hoặc những nước Nam Phi dân tộc tự do được chính phủ thành lập cho những người Bantu.

Kwazulu, lãnh sự đã lý giải , là họi tụ hơn 2,1 triệu thành viên của tổ chức liên minh Zulu trước đây : Nam Phi còn bao gồm cả 2,8 triệu cừu cà dê , vì thế một số thị trường thương mại đã tồn tại . Tuy nhiên , một nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng chất lượng của loại tôt nhất của da dê , len sẽ đáp ứng tiêu chuẩn yêu cầu của Navazuni . Người Amazulu-được ghi nhận là thông minh và cần cù -sẽ được sử dụng sức lao động .

Chính phủ Nam Mỹ còn dự tính cung cấp cho chuyên gia châu Âu . Công ty được đề cử Navazuni sẽ là một trong các doanh nghiệp tương tự đang mở rộng khong ngừng - những doanh nghiệp vừa và nhỏ , dự định vây quanh hoàn toàn Kwazulu Homeland vào năm 1999, vì vậy công dân của họ được tuyển dụng . Do đó , trong mỗi giai đoạn hoạt động của Navazuni, từ công trình đầu tiên đến những công trình đang hoạt động , chính phủ nên cung cấp những trợ giúp về việc tổ chức , đào tạo , và quản lý lao dộng . Đặc biệt là trợ giúp trong việc tuyển fụng loại công nhân được yêu cầu , từ Kwazulu. Những người công nhân được chọn có thể được phương tiện vận tải công cộng được bao cấp đưa tới nơi làm việc mỗi sáng . Vào cuối ngày làm , chính phủ sẽ đưa trở lại chỗ cho riêng họ ở .

Về plhần Navazuni có thể yêu cầu trả tiền lương ở mức mà công ty thấy thấp hơn một cách hợp lý so với mức của những người công nhân Mỹ ( một điều tra 1979 của các công ty Mỹ đã đầu tư vào Nam Mỹ chỉ ra rằng 95%công nhân Bantu được trả khoảng $192 và $238 mỗi tháng ) . Hơn nữa , công ty còn hy vọng cung cấp thuốc tại xưởng cho việc điều trị những vết thương nghề nghiệp . Tuy nhiên , không cần thiết phải trả bất cứ lợi ích người công nhân theo tập quán Mỹ , nếu như người Nam Mỹ da trắng chưa được thuê .

Lãnh sự còn nói ngắn gọn về thị trường nội địa của Nam Mxy . Năm 1980, người da trắng ở Nam Phi dưới 5 triệu người , sống tập trung ở 3 thành phố của các vùng Dủban ( gần với Kwazulu ) . Johonnesburg và Cape Town . Hai nghìn năm trước công nghuyên , giả định tỷ lệ tăng dân số tiếp tục tăng , thì số dân thời kỳ này vẫn tăng gấp đôi , đặc biệt là nếu tính cả người nhập cư từ Anh và Tây âu . Người nhập cư hiện tại vẫn giữ ổn định 300.000 người mỗi năm , người từ Bỉ , Hà Lan , Đức , Phần Lan , Pháp , cũng như từ Anh và Ailen .

Những công nhân da trắng ở Nam Phi được tuyển dụgn hết . Mức sống của họ cao hơn ở châu Phi ,ngang bằng hoặc cao hơn những người ở một số vùng của của Mỹ , sự giàu có này đã tạo ra hai sở thích về những vật phẩm xa xỉ (như quần áo ) và những xu hướng thời trang hiện đại ở châu Âu và Hao Kỳ . Sự giàu có này , xét cả phạm vi sở thích của người da trắng ở cao bồi Mỹ và người ấn ( có lẽ do được kích thích bởi phim ảnh của người Mỹ )đưa đến thị trường tiềm năng cho những sản phẩm của Navazuni.

Lãnh sự còn cho rằng thị trường nội địa Bantu đã chứng minh sự thăm dò này .Năm 1960, số người giảm xuống trong khi toàn châu Phi tính cả Nam Phi là 11 triệu người , với tỷ lệ tăng dân số dự tính 2,53%. Năm 1980, số người đạt tới 20 triệu người , với tỷ lệ tăng 3%. Năm 2000,các nhà nhân khẩu học dự tính dân số của Bantu 37 triệu người , năm 2020 62 triệu người .

Trái với suy nghĩ của mọi người , những người này bị bần cùng hoá và đói ăn như những nơi ở vùng châu Phi nhiệt đới . Vào những năm 1960 , hầu hết người Bantu làm nông nghiệp và ở mỗi thủ đô thu nhập bình quân thường là 128 đôla . Tuy nhiên suốt những năm 1970 , tăng trình độ kỹ thuật của một số ngành , đặc biệt là ngành chế tạo , phat sinh ra cầu về những thợ chuyên môn và không chuyên . Những người không kể da trắng , người châu á hay người da mầu (những người là kết quả của sự pha trộn các chủng tộc ) có thể được tuyển . Kết quả là các ngành nghề bắt đầu tuyển dụng lượng lớn người Bantu để làm kiểm toán , lái xe , giám sát viên ở vị trí thấp , và cũng như làm ở Navazuni -người vận hành máy móc phức tạp . Ví dụ , giữa những năm 1969 và 1972,lượng người làm việc chuyên môn tăng 175% , Những nơi mà người công nhân công nghiệp kiếm được gấp từ 3 đến 20 lần thu nhậpcủa công nhân ở Sierra Leone, Zambia,Zảie và một số nơi khác ở châu Phi đen .

Lãnh sứ đề cập rằng , một số công ty khac của Mỹ đã kiếm lời từ thời tiết ưu đãi của Nam Phi . Ví dụ , năm 1977 , đầu tư trực tiếp của Mỹ đạt 1,8 tỷ đôla; 17% tổng đầu tư nước ngoài vào quốc gia đó .100 công ty đứng đàu của Mỹ , không ít hơn 55 công ty có đầu tư ở Nam Phi vào năm đó , bao gồm cả tập đoàn khổng lồ như ITT, General Electric,General Motors, Caterpillar, Goodyear và Ford.

Lãnh dự tin rằng , lý do cho xu hướng này là do sự cương quyết của chính phủ về việc loại bỏ những hạn chế không phù hợp trong việc điều hành thương mại của Mỹ . Một số công ty thử cơ hội thương mại ở các nước thứ ba , Navazuni có thể phải bị bắt buộc thành lập dưới dạng liên hợp , hoặc cùng với nhà nước hoặc với tư nhân . Những yêu cầu về việc cấp giấy phép và thếu khoá đơn giản .An ninh được đảm bảo bởi 40.000 người trong lực lượng cảnh sát Nam Phi , trong khi an ninh quốc gia được bảo vệ bởi 494.000 người , công nghệ phòng thủ hàng tỉ đola có thể cung cấp quân trang ( vũ khí ) với chất lượng như nhau cho mọi người trên thế giới .

Ông kết luận rằng , hơn nữa chính phủ phải được chuẩn bị để xem xét khả năng cung cấp những khích lệ hơn nữa , có thể dưới hình thức trợ cấp có chọn lọc hoặc những tiền thưởng thực tế trong suốt giai đoạn đầu của hoạt động .

Ông giải thích , lý do cho những chính sách này là để phục vụ cho lợi ích lâu dài về kinh tế và thương mại của cả hai bên Nam Phi và Hoa Kỳ “Chúng tôi hy vọng rằng công ty của bạn -và các công ty khác giống các bạn -sẽ trở nên giàu có và mở rộng quy mô trong những thập kỷ tới , và đem lại thu nhập có lợi cho số lượng người thậm chí còn đông hơn nữa ở Bantu . Đến năm 2000, chúng tôi dự tính khoanh vùng hoàn toàn mỗi vùng của 11 vùng da đen bằng một vòng tròn các ngành nghề quy mô vừa và nhỏ của châu Âu , có thể đem đến công việc có lợi cho mọi người kể cả người Bantu . Ước vọng của chúng tôi là tạo tầng lớp người lao động giàu có ở Bantu , có thể cung cấp hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho cả người da trắng lẫn da đen ở Nam Phi . Chúng tôi sống riêng rẽ , nhưng lại làm việc cùng với nhau để duy trì vị trí đứng đầu của chúng tôi ở châu Phi . Chúng tôi mời các bạn hãy cùng tham gia .

Ban giám đốc của Navazuni đã họp để nghiên cứu lời đề nghị . Cùng lúc đó , bộ tộc Public Affairs của Nam Phi , một bộ phận của lãnh sự quán của Los Angeles , đã đưa ra câu truyện chính trên tờ nhật báo Los Angeles Times để miêu tả kế hoạch của Navazuni như là ví dụ cho hợp tác Nam Phi -Mỹ đầy triển vọng trong việc mang đến công ăn việc làm cho những người châu Phi đen.

Hai ngày sau đó , tổng giám đốc công ty tiếp đón một đoàn đại biểu nổi tiếng của afro-mỹ gồm bộ trưởng , các luật gia và những nhà giáo dục . Đoàn đại biểu yêu cầu công ty bỏ kế hoạch đó , khi mà nó được hình thành trên sự bóc lột về kinh tế của những người da đen , điều đó đã bị phủ nhận mọi quyền công nhân và quyền về chính trị .

Đoàn đại biểu còn nhắc và yêu cầu Navazuni phải tôn trọng triệt để nguyên tắc Sullivan. Nguyên tắc được đưa ra bởi đức ông Leon Sullivan người Philadelphia , đạo luật này nhấn mạnh sự cần thiết về việc đối xử bình đẳng , thân thiện đối với người da đen và những người không phải da trắng , và ủng hộ việc tuyển lựa những người da đen và không phải người da trắng vào các vị trí quản lý và giám sát . Những nguyên tắc này đã được ủng hộ nhiệt liệt và được chấp nhận như là những chính sách hoạt động bởi công ty đa quốc gia cũng như một số công ty Mỹ đang họat động ở Nam Phi . Do đó , Navazuni phải cân nhắc thận trọng những nguyên tắc này .

Bảng 1.Nguyên tắc Sullivan

I. Không phân biệt chủng tộc về những điều kiện ăn , tiện nghi vật chất và việc làm .

II Công bằng bác ái về việc tuyển dụng công nhân .

III Trả lương công bằng cho công nhân đang làm công việc giống nhau hoặc tương tự nhau , trong cùng khoảng thời gian như nhau .

IV Bắt đầu và phát triển những chương trình đào tạo để có thể cho những người da đen và những người không phải da trắng vào những công việc giám sát , công việc hành chính , văn phòng và công việc kỹ thuật cao .

V Tăng số người da đen và người không phải là da trắng trên các vị trí quản trị và giám sát .

VI Cải thiện chất lượng cuộc sống của công nhân sống ngoài môi trường làm việc ở những lĩnh vực như các điều kiện về nhà ở , phương tiện đi lại , học hành , tái sản xuất và sức khoẻ .

Nguồn: Stratford P.Sherman “Điểm cho cách quản lý công ty ở Nam Phi “ 9/7/1984

Câu hỏi


1. Công ty Navazuni nên bỏ hay tiếp tục khai thác thị trường Nam Phi ? Tại sao ?

2.Liệu có sự lựa chọn nào xảy ra mà có thể thoả mãn cả hai phía không?

3. Các công ty Mỹ có nên đầu tư vào những quốc gia mà người Mỹ phản đối không ?
Khi hợp đồng vượt qua khỏi biên giới quốc gia , chúng có thể khác đi cả về hình thức cũng như về ngôn ngữ .

Henry P.deVries

Môi trường luật pháp

Mục lục


Các hệ thống luật

Dạng khác nhau của các môi trường luật pháp

Luật và Mảketing hỗn hợp

Cưỡng chế

Những kẽ hở và thủ đoạn

Luật Mỹ hạn chế xuất khẩu

Nạn ăn hối lộ

Quyền xét xử và quyền quản lý

Thể thức hợp pháp của tổ chức

Chi nhánh và công ty con

Sáng chế , thương hiệu , bản quyền và xâm phạm bản quyền

Việc làm giả

Thị trường ảm đạm

5. Môi trường pháp lí

Minh hoạ Marketing : Cánh tay dài của luật pháp

Sở thích (thị hiếu ) người tiêu dùng Mỹ đã kích thích cả việc nhập khẩu cả những sản phẩm làm từ thú hoang dã hợp pháp lẫn bất hợp pháp . Sản phẩm nhập khẩu bất hợp pháp là những sản phẩm được chế biến từ những loài có nguy cơ tuyệt chủng hoặc những sản phẩm đưa vào với những chứng từ không chính xác về xuất xứ . Vào giữa những năm 1980 , sản phẩm động vật hoang dã bất hợp pháp chiếm khoảng 30% sản phẩm động vật hoang dã nhập khẩu . Những điều luật của liên bang cấm tất cả ngà voi từ ASIAN và cho phép các quan chức bắt tay cầm ô làm bằng chân voi , cốc bia làm bằng da voi , túi xách làm từ da cá sấu và da trăn nhập khẩu . Nhà bán lẻ nổi tiếng Scotne , vừa bị phạt vì vi phạm luật nhập khẩu với khoản tiền phạt lớn và bị tịch thu hàng . Joan và David Halpern cũng bị phạt 15.000 đôla và buộc phải bỏ 1.300 đôi giày trị giá 106.000 đôla bởi vì những đôi giày này làm từ những loài trăn được bảo vệ.


: contents
contents -> Th ng t­ liªn tÞch
contents -> Sau khi nghiên cứu điều kiện đăng ký dự tuyển viên chức của (2), tôi thấy có đủ điều kiện để tham dự kỳ thi tuyển
contents -> HỘI ĐỒng nhân dân tỉnh sơn la số: 77/nq-hđnd cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
contents -> Của Thủ tướng Chính phủ số 120/2008/QĐ-ttg ngày 29/8/2008 Về việc quy định điều kiện xác định người bị phơi nhiễm với hiv, bị nhiễm hiv do tai nạn rủi ro nghề nghiệp
contents -> Số: 287/QĐ-btnmt cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
contents -> Bé y tÕ Sè: 1369/ byt-q§ Céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam
contents -> Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012
contents -> Quy đỊnh việc xử phạT VI phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, SỬ DỤng tài sản nhà NƯỚC; thực hành tiết kiệM, chống lãng phí; DỰ trữ quốc gia
contents -> Ch­¬ng tr×nh häc bæng cña c ng ty Human Resorcia dµnh cho sinh viªn ngµnh kü thuËt Th ng b¸o vÒ kÕ ho¹ch pháng vÊn, trao häc bæng vµ khai gi¶ng líp häc tiÕng NhËt
contents -> ĐỊnh hưỚng nghiên cứu khoa học cho chưƠng trình phòNG, chống hiv/aids giai đOẠN 2016 -2020


1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   34


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương