1. Cơ sở khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài


Khái niệm, đặc điểm của quỹ ĐTMH



tải về 416.79 Kb.
trang2/9
Chuyển đổi dữ liệu05.09.2016
Kích416.79 Kb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9

1.2. Khái niệm, đặc điểm của quỹ ĐTMH


Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ hay các loại tài sản khác. Tất cả các khoản đầu tư của quỹ đều được giám sát và quản lý chặt chẽ bởi các công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và các cơ quan có thẩm quyền khác. Quỹ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của nhà đầu tư bởi 5 yếu tố:

- Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư;

- Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt yêu cầu cao về lợi nhuận;

- Được quản lý một cách chuyên nghiệp;

- Được giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan có thẩm quyền;

- Tính năng động của quỹ.

Quỹ ĐTMH trước hết là một quỹ đầu tư, nghĩa là nó có đầy đủ đặc điểm của 1 quỹ đầu tư thông thường. Tuy nhiên, đúng như tên gọi, quỹ ĐTMH chỉ chuyên thực hiện các hoạt động ĐTMH. Nguồn cung ứng vốn cho các quỹ ĐTMH là các quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, ngân hàng đầu tư, các nhà đầu tư tổ chức và các nhà ĐTMH cá nhân, chính phủ hoặc các tổ chức khác.

Quỹ ĐTMH là một tập hợp vốn nằm dưới sự quản lý chuyên nghiệp, được huy động vì mục đích duy nhất là thực hiện những khoản đầu tư vốn cổ phần trực tiếp, có quản lý vốn một cách chủ động của các nhà đầu tư vào các công ty tư nhân tăng trưởng nhanh và với một chiến lược thoát vốn được xác định cụ thể của nhà quản lý quỹ ĐTMH.


1.3. Các mô hình tổ chức hoạt động của quỹ ĐTMH


Quỹ ĐTMH có nhiều hình thức tổ chức khác nhau, tùy thuộc vào từng điều kiện và trường hợp cụ thể mà quỹ có thể được tổ chức theo hình thức này hoặc hình thức khác cho phù hợp. Tuy nhiên, xét về tính phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, quỹ ĐTMH được chia thành: quỹ dạng hợp đồng (quỹ tín thác), quỹ dạng công ty, quỹ dạng hợp danh.

1.3.1. Quỹ dạng công ty


Quỹ ĐTMH sẽ được thừa nhận như một pháp nhân độc lập, có điều lệ hoạt động riêng khi được thành lập dưới dạng công ty. Quỹ mang tính chất như 1 công ty cổ phần, và người góp vốn có tư cách như các cổ đông. Bên cạnh đó, quỹ chịu sự điều chỉnh của luật công ty và các quy định dưới luật khác dành cho quỹ đầu tư nói chung và quỹ ĐTMH nói riêng. Quỹ ĐTMH không phải là những công ty sản xuất kinh doanh thông thường tạo lợi nhuận từ bán hàng và cung cấp dịch vụ mà đem đến giá trị gia tăng cho cổ đông từ việc lựa chọn, quản lý các khoản ĐTMH.

Hình 1.1. Cơ chế quản lý giám sát quỹ ĐTMH dạng công ty

Nguồn: National Venture Capital Association

1.3.2. Quỹ tín thác


Quỹ tín thác, hay còn gọi là quỹ dạng hợp đồng không có tư cách pháp nhân. Về bản chất, quỹ mới chỉ là một lượng tiền do các nhà đầu tư đóng góp trên cơ sở một bản thỏa thuận chung, còn gọi là điều lệ quỹ. Cơ cấu tổ chức của quỹ ĐTMhH dạng tín thác không có gì đặc biệt so với quỹ đầu tư tín thác khác, tức là cũng có sự tham gia của 3 bên là: Công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và các nhà đầu tư.

Điểm cần lưu ý khi xem xét quỹ tín thác là quỹ cũng hoạt động theo cơ chế quỹ đóng, tức là sẽ cho phép phát hành chứng khoán 1 lần mà không phát hành thêm (trừ trường hợp đặc biệt khi có sự đồng ý của những người chủ sở hữu chứng từ). Quỹ cũng không có nghĩa vụ thu hồi lại hay định được giá trị công ty đó, do đó không xuất hiện nhu cầu phải bán lại tài sản đang nắm giữ để tạo nguồn tiền. Điều này có ba ý nghĩa. Thứ nhất, chi phí hoạt động của quỹ sẽ thấp hơn (so với quỹ mở) do sự ổn định của danh mục đầu tư không làm phát sinh nhiều chi phí giao dịch. Thứ hai, ngoài những tài sản có tính thanh khoản cao, quỹ vẫn có thể đầu tư vào những tài sản có tính thanh khoản thấp để đạt mức độ đa dạng hóa cao hơn. Cuối cùng, số vốn của quỹ có tính chất ổn định hơn và điều này đem lại cho quỹ khả năng đi vay hoặc dùng đòn bẩy lớn hơn để sử dụng vào mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua việc mua nhiều tài sản hơn.


1.3.3. Quỹ dạng hợp danh hữu hạn


Mô hình này cho đến nay được xem như là ưu việt hơn cả trong việc tạo ra một cơ chế phân chia trách nhiệm và quyền lợi hợp lý, hiệu quả. Theo đó, nguồn vốn được cung cấp chủ yếu bởi các nhà đầu tư, với tư cách là thành viên góp vốn trách nhiệm hữu hạn của quỹ. Mô hình này hoạt động trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa 2 bên: thành viên quản lý (general partners) và thành viên hữu hạn (limited partners).

Thành viên quản lý là những người quản lý quỹ, chịu trách nhiệm về hoạt động của quỹ, kêu gọi vốn đầu tư từ các nhà ĐTMH, tìm kiếm và lựa chọn cơ hội đầu tư tốt nhất. Không giống như trong mô hình quỹ đầu tư dạng hợp đồng, những người quản lý quỹ ĐTMH ở đây cũng đồng thời là người đầu tư vào quỹ, vì vậy mà họ cũng là thành viên của quỹ. Phần thù lao mà thành viên quản lý nhận được là khoản phí quản lý hàng năm theo thỏa thuận được tính theo tỷ lệ % trên lợi nhuận hàng năm. Tuy nhiên, trách nhiệm của thành viên quản lý là vô hạn, không chỉ hạn chế trong số vốn họ góp vào quỹ.

Thành viên góp vốn là những nhà đầu tư chính của quỹ. Họ góp vốn vào quỹ và được chia lợi nhuận, không có vai trò trong các quyết định đầu tư của quỹ. Tức là, thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp, do đó còn được gọi là thành viên hữu hạn. Thành viên góp vốn của quỹ ĐTMH có thể đến từ quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, nguồn vốn tài trợ, doanh nghiệp, cá nhân hoặc nguồn vốn nước ngoài.

Mô hình quỹ đầu tư dạng hợp danh có những điểm giống so với quỹ đầu tư dạng hợp đồng vì trong cả 2 trường hợp quản lý quỹ đều là những người đứng ra thành lập quỹ và quan hệ giữa bên quản lý và bên đầu tư đều là quan hệ tín thác và được điều chính bằng hợp đồng ký kết giữa các bên.





Đầu tư vốn

Quản lý Quản

Đầu tư lý

Hình 1.2. Cấu trúc một quỹ ĐTMH dạng hợp danh hữu hạn

Nguồn: National Venture Capital Association

1.4. Quy trình hoạt động của quỹ ĐTMH

1.4.1. Giai đoạn lựa chọn dự án đầu tư


Hiệu quả của hoạt động ĐTMH phụ thuộc vào thành quả của dự án đầu tư. Do tính chất mạo hiểm trong hoạt động đầu tư, các chuyên gia quản lý quỹ ĐTMH thường tiến hành rất kỹ việc sàng lọc hay thẩm định đầu tư nhằm tìm ra các công ty tiềm năng đầu tư. Việc thẩm định đầu tư này được tiến hành trên tất cả các mảng của hoạt động kinh doanh, từ việc xem xét đội ngũ lãnh đạo, công nghệ cho đến mô hình kinh doanh và được tiến hành bởi một nhóm chuyên gia hàng đầu có bề dày trong nhiều lĩnh vực kinh doanh

Bảng 1.1. Một số tiêu chí khi lựa chọn dự án đầu tư



STT

Tiêu chí

Yêu cầu

1

Đội ngũ lãnh đạo

Là người nắm tỷ lệ sở hữu lớn, có tâm huyết với sự phát triển công ty.Họ là những người có năng lực, kinh nghiệm, được chứng minh thông qua những thành tích trong việc điều hành công việc kinh doanh công ty.

2

Sản phẩm dịch vụ

Độc đáo, mang lại lợi ích cho khách hàng, có sự khác biệt so với sản phẩm cùng loại, có triển vọng phát triển lâu dài trong tương lai.. Đặc biệt sản phẩm dịch vụ phải được công nhận bản quyền, bằng phát minh sáng chế..

3

Mô hình kinh doanh

Mô hình hiệu quả, tính toán rõ ràng được mức lợi nhuận và hoạch định các chiến lược cho dịch vụ, sản phẩm của mình trong các giai đoạn.

4

Thị trường

Có kế hoạch thăm dò thị trường, xác định nhu cầu mức độ tiêu thụ, khách hàng tiềm năng và đối thủ cạnh tranh..Từ đó xác định thị trường mục tiêu, đề ra chiến lược vượt trội đối thủ, có phương hướng mở rộng thị trường trong tương lai

5

Quản lý tài chính

Báo cáo tài chính minh bạch, các tính toán về lợi nhuận, kế hoạch quản lý, sử dụng nguồn tài chính hiệu quả

6

Pháp lý

Chuẩn bị chu đáo các điều khoản đầu tư giữa 2 bên, tránh những tranh chấp xảy ra như sự tham gia của các chuyên gia quản lý quỹ đầu tư trong hội đồng quản trị, tỷ lệ lợi nhuận…

Nguồn: bookjob.vn/.../6411-tim-hieu-ve-dau-tu-mao-hiem-o-viet-nam.html

1.4.2. Giai đoạn cấp vốn


Nhà ĐTMH sẽ chia thành các giai đoạn để đầu tư cho dự án. Nếu nhà đầu tư nhận thấy khoản đầu tư mang lại kết quả như nhận định hoặc cam kết thì họ sẽ tiếp tục đầu tư vào giai đoạn tiếp theo. Còn nếu khoản đầu tư có triển vọng lợi nhuận thấp hơn dự kiến thì nhà ĐTMH sẽ chấm dứt hoạt động đầu tư. Có thể chia một quá trình ĐTMH thành 5 giai đoạn, trong đó 3 giai đoạn đầu có mức độ rủi ro cao hơn 2 giai đoạn sau. Đó là: Giai đoạn hạt giống (seed stage), giai đoạn tài trợ khởi động sản xuất (start-up financing), giai đoạn thứ nhất (first stage), giai đoạn tài trợ sản xuất (expansion financing) và giai đoạn tài trợ cầu nối (bridge financing).

- Giai đoạn hạt giống (seed stage): Nhà ĐTMHMmmMH cung cấp vốn đề phát triển kinh doanh. Vốn này thường được dùng để trang trải việc phát triển sản phẩm và nghiên cứu thị trường. Đây là giai đoạn có độ rủi ro và mạo hiểm cao nhất.

- Giai đoạn tài trợ khởi động sản xuất (start-up financing): Cấp vốn để triển khai dự án trên thực tế: sản xuất, phát triển sản phẩm, tiếp thị khởi đầu. Vốn này cấp cho các công ty mới thành lập, chưa lần nào giới thiệu sản phẩm ra thị trường. Những DN này thường đã có bộ máy quản lý, có kế hoạch kinh doanh và đã tiến hành nghiên cứu thị trường. Đáng lưu ý nhất trong giai đoạn này là thường DN sẽ không thu được lợi nhuận. Số vốn mà nhà quản lý quỹ ĐTMH tài trợ thường chỉ dùng ở mức đủ để DN vượt qua điểm bù lỗ.

- Giai đoạn thứ nhất ( First stage): Vốn được cấp để bắt đầu việc sản xuất ra sản phẩm thương mại và bán hàng đầu tiên. Giai đoạn này thường tài trợ cho các công ty thiếu vốn để sản xuất hàng hóa và tung ra thị trường.

- Giai đoạn tài trợ mở rộng sản xuất ( expansion financing): Nhà đầu tư cấp vốn cho doanh nghiệp để mở rộng sản xuất như: mở rộng quy mô nhà máy, các chiến dịch marketing trọng yếu hoặc phát triển và nâng cấp 1 sản phẩm và tài trợ công ty chuẩn bị niêm yết trên TTCK trong vòng 6 tháng đến 1 năm tới. Đồng thời quỹ cũng giúp các DN xây dựng cơ cấu sở hữu hợp lý của DN. Giai đoạn này đã bắt đầu mang lại lợi nhuận tài chính cho các bên tham gia ĐTMH.

- Giai đoạn tài trợ cầu nối (brigde financing): Nhà ĐTMH cấp vốn cho DN để chuẩn bị bước trở thành đại chúng và thể hiện sự tiếp nối giữa một công ty đang mở rộng và việc phát hành ra công chúng lần đầu tiên. Ở giai đoạn này, TTCK đóng vai trò rất quan trọng, là cầu nối giữa DN và thị trường.

1.4.3. Giai đoạn thoát vốn


Sau khoảng thời gian từ 3-7 năm, các nhà ĐTMH sẽ thực hiện việc thoát vốn. Chiến thuật thoát vốn mang tính quyết định trong việc ĐTMH, đồng thời nó phản ánh kết quả đầu tư của quỹ, cho thấy hiệu quả kinh doanh của quỹ. Những hình thức chính của thoát vốn đó là:

- IPO (Chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng): Là việc chào bán cổ phiếu đã đăng ký ra công chúng. Đây là cách thông thường và được các nhà ĐTMH ưa thích nhất. Cổ phần sẽ được chia cho những nhà đầu tư vốn, những người này sau đó có thể bán chúng trên thị trường sau thời kỳ khoá tài khoản giao dịch. Theo phương thức thoát vốn này, hợp đồng thỏa thuận giữa nhà ĐTMH và DN nhận vốn sẽ quy định một số quyền kiểm soát DN của nhà ĐTMH sẽ mất sau khi IPO, bất kể quỹ có bán cổ phần hay không, còn người khởi nghiệp sẽ giữ lại quyền kiểm soát với một khối lượng cổ phần đủ lớn.

Ưu điểm lớn nhất của phương thức IPO là đáp ứng được nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Nhiều công ty công nghệ cao như nhà sản xuất chất bán dẫn hoặc công nghệ sinh học thường cần tới hàng triệu USD để có thể giới thiệu sản phẩm mới. Loại này thường khó huy động nguồn vốn từ ngân hàng hay các nhà tài trợ khác vì độ rủi ro đầu tư khá cao. Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng không thể tiếp tục cung cấp vốn cho DN khi DN chưa thu hồi vốn từ sản phẩm mới. Vì vậy, nhu cầu huy động vốn là động lực quan trọng khiến các DN muốn phát hành ra đại chúng.



- Bán thương mại (Trade sales): là việc bán hay gộp công ty tư để lấy tiền mặt hoặc cổ phần của công ty mua lại. So với IPO, kênh thoát vốn này nhanh hơn và rẻ hơn. Như vậy, sau khi quỹ ĐTMH rút vốn, DN khởi nghiệp sẽ tiếp tục được tài trợ. Mặt khác, các DN thường thích việc mua lại công ty hơn là thành lập các công ty mới. Bởi lẽ, nếu thành lập DN mới 100% thì nhà ĐTMH sẽ chịu rất nhiều rủi ro tại thị trường đầu tư và phải làm lại từ đầu.Việc thu mua công ty sẽ giúp nhà đầu tư giảm bớt được chi phí và nguy cơ cạnh tranh từ phía các DN khác.

- Bán lại cổ phần cho chính doanh nghiệp: Trong trường hợp này, người mua sẽ là ban quản lý doanh nghiệp hoặc chủ đồng đầu tư. DN sẽ mua lại phần sở hữu của quỹ mạo hiểm trong DN với giá trị cao hơn mức định giá vốn cổ phần mà họ đang giữ bằng cách vay vốn từ chính quỹ ĐTMH. Sau đó sẽ trả nợ dần về sau bằng các khoản thu nhập từ doanh nghiệp và việc thanh toán sẽ phải hoàn tất trước khi kết thúc dự án ĐTMH.



1   2   3   4   5   6   7   8   9


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương