ĐỀ TÀI: Báo cáo Lịch sử báo chí thế giới MỤc lục phần mở đầu



tải về 326.52 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu30.08.2016
Kích326.52 Kb.
  1   2   3   4


Luận Văn
ĐỀ TÀI: Báo cáo Lịch sử báo chí thế giới
MỤC LỤC

Phần mở đầu

  1. Lý do chọn đề tài 4

  2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

  3. Đối tượng nghiên cứu 5

  4. Phương pháp nghiên cứu 5

  5. Cấu trúc đề tài 5

Nội dung nghiên cứu

Chương I: Vài nét về tập đoàn tư bản lũng đoạn

  1. Khái niệm tập đoàn tư bản lũng đoạn 6

  2. Tại sao tập đoàn tư bản can thiệp vào báo chí

    1. Nhìn thấy báo chí như một loại hàng hoá, nghề kinh doanh có

Lãi 7

    1. Quảng cáo để đưa sản phẩm đến với người dân 8

    2. Quảng bá xây dựng hình ảnh 9

    3. Thấy được tầm quan trọng của báo chí trong việc tạo dư luận, chính trị, tác động nhận thức của người dân 10

  1. Can thiệp như thế nào

    1. Đầu tư vào nghề báo: Mua hoặc liên doanh 12

    2. Tài trợ, bơm tiền vào quảng cáo 14

    3. Thành lập một tờ báo riêng 18

  1. Tiểu kết chương I 20

Chương II: Những câu chuyện điển hình về sự can thiệp của tập đoàn tư bản lũng đoạn đối với báo chí

  1. “Đám cưới” giữa AOL và Time Warner

    1. Vài nét về Time Warner và AOL 21

    2. Sự can thiệp của AOL với Time Warner 24

    3. Những hoạt động của AOL Time Warner 28

  1. “Google – Câu chuyện thần kỳ”

    1. Sự ra đời và phát triển của Google 28

    2. Sự can thiệp của Google vào báo chí 34

  2. The Wall Street Journal – “Đứa con cưng” của Dow Jones

    1. Những ngày đầu của Dow Jones và nhật báo WSJ 43

    2. Sự phát triển của WSJ 44

  3. Microsoft – “Một đế chế hùng mạnh”

    1. Sự ra đời của Microsoft 50

    2. Những sản phẩm của Microsoft 52

    3. Sự can thiệp của Microsoft đối với báo chí 53

  4. Tiểu kết chương II

Chương III: Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam

  1. Vài nét về báo chí Việt Nam hiện nay 58

  2. Giới thiệu một số tờ báo có sự can thiệp của các tập đoàn kinh tế

    1. Về FPT và Vnexpress 60

    1. Về VASC và Vietnamnet 62

  1. Tiểu kết chương III 65

Kết luận

Tài liệu tham khảo
NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN

  1. Hoàng Thị Hải Yến (Nhóm trưởng)

  2. Phan Thị Hoài Thương

  3. Vũ Mai Diệu Thuần

  4. Hồ Hải Huyền

  5. Lê Thị Hường

  6. Ma Yến

  7. Nguyễn Ngọc Tú

  8. Nguyễn Thị Ngọc

  9. Nguyễn Thị Hường

10.Lê Thị Huyền Mai

11. Nguyễn Thị Hà Linh

12. Nguyễn Thị Ánh

13. Nguyễn Thị Thanh Hoà


PHẦN MỞ ĐẦU

  1. Lý do chọn đề tài

Nền báo chí thế giới từ nửa sau thế kỷ XX cho đến nay phát triển rất mạnh mẽ, phát huy tối đa “quyền lực thứ tư” theo xu hướng toàn cầu hoá thông tin.

Quan sát và phân tích truyền thông Mỹ và thế giới từ nhiều năm và nhất là những động tĩnh thời gian gần dây, nhà nghiên cứu Eduardo Galeano đưa ra nhận định: “Chưa bao giờ lại có nhiều người bị khống chế về mặt thông tin bởi một số ít người đến thế”. Quả đúng như vậy, nhận thấy sức mạnh của báo chí, các ông trùm của các tập đoàn tư bản lũng đoạn trực tiếp hoặc gián tiếp đều tìm mọi cách can thiệp vào báo chí để phục vụ cho những mục đích lợi nhuận và nhiều quyền lợi khác cuả mình. Sự can thiệp đó đã gây ảnh hưởng sâu rộng tới nền báo chí toàn cầu.

Sau 20 năm đổi mới cùng với việc gia nhập WTO, báo chí Việt Nam đã lớn mạnh về mọi mặt và đang có nhu cầu vươn cao, vươn xa hơn nữa nhằm khẳng định vị thế của mình. Việt Nam lại là một thị trường giàu tiềm năng và mới bước đầu được khai phá. Trong vòng quay đó, như một tất yếu, nền báo chí Việt Nam cũng đã bắt đầu xuất hiện sự can thiệp của các tập đoàn tư bản lũng đoạn hay các tập đoàn kinh tế.

Chính vì thế, đề tài nghiên cứu này muốn tìm hiểu về sự can thiệp của các tập đoàn tư bản lũng đoạn đối với nền báo chí trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.



  1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

a. Mục đích:

  • Nhằm tìm hiểu nguyên nhân, hình thức can thiệp và những điển hình về sự can thiệp của các tập đoàn tư bản lũng đoạn đối với báo chí.

  • Đây cũng là cơ hội để những sinh viên báo chí có thể tiếp cận với những vấn đề thực tế báo chí, nhằm bổ sung thêm kiến thức cần thiết phục vụ cho công việc sau này.

b. Nhiệm vụ:

- Tìm hiểu nguyên nhân can thiệp và hình thức can thiệp của các tập đoàn tư bản lũng đoạn đối với báo chí từ những dẫn chứng tiêu biểu.

- Tìm hiểu thực trạng ở Việt Nam, xu hướng can thiệp có gì khác so với những nước phương tây.

- Kiến nghị những giải pháp cho nền báo chí Việt Nam khi đối mặt với sự can thiệp đó.



  1. Đối tượng nghiên cứu

  • Trên thế giới: Tập đoàn AOL, Microsop, Google, Tập đoàn Dow Jones, những tờ báo chịu sự can thiệp.

  • Ở Việt Nam: chọn 2 tập đoàn FPT với tờ Vnxpress, VACS với Vietnamnet.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Chủ yếu bằng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mac – LeNin kết hợp phương pháp mô tả.

Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp như: Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu, so sánh, mô tả, tổng hợp vấn đề,…



  1. Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần nội dung nghiên cứu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, báo cáo gồm 3 chương
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương I: Vài nét về tập đoàn tư bản lũng đoạn

  1. Khái niệm tập đoàn tư bản lũng đoạn

Dựa theo cuốn “Lê Nin toàn tập” nói về chủ nghĩa đế quốc:

Tập đoàn tư bản: Là một tổ chức bao gồm nhiều nhà tư bản có số vốn khổng lồ có thể chi phối sự sản xuất hay tiêu thụ một số loại hàng hoá nào đó

Tập đoàn tư bản lũng đoạn: Là tập đoàn tư bản trên thực tế đã thao túng, chi phối việc sản xuất, tiêu thụ của một hàng hoá hay nhiều hàng hoá để thu lợi nhuận độc quyền cao và từ đó khống chế về xã hội, chính trị.

  1. Tại sao tập đoàn tư bản lũng đoạn can thiệp vào báo chí

2.1. Nhìn thấy báo chí như một loại hàng hoá, nghề kinh doanh có lãi

Trong nửa đầu thế kỷ XX, phát thanh và truyền hình chỉ mới ở trình độ sơ khai, báo in là loại hình truyền thông đại chúng quan trọng nhất, giữ vai trò chi phối dư luận xã hội cũng như thị trường báo chí phương Tây. Cho tới nửa sau thế kỷ XX, khi phát thanh và truyền hình phát triển mạnh mẽ đồng thời với sự tăng trưởng kinh tế nhảy vọt ở các nước công nghiệp phát triển, các phương tiện truyền thông đại chúng dần dần được coi là những doanh nghiệp có khả năng sinh lợi lớn từ việc bán sản phẩm, dịch vụ và hoạt động quảng cáo. Mặt khác, các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng mở rộng phạm vi ảnh hưởng, tăng cường sức mạnh tác động vào xã hội, có khả năng to lớn trong việc tạo ra những ưu thế về chính trị, kinh tế.

Các tập đoàn tư bản lũng đoạn với bản chất tham lam, luôn có tham vọng thâu tóm thị trường, chi phối thị trường nhằm nâng cao vị thế, qua đó thu lợi nhuận cao nhất có thể. Hơn ai hết, họ hiểu rõ rằng, tận dụng được sức mạnh của truyền thông là một ưu thế lớn, qua đó có thể kích thích mạnh mẽ sự phát triển các ngành kinh tế thị trường khác. Thống kê cho thấy, ở Mỹ ngành báo chí chiếm 2% GDP về công nghiệp, chiếm 20% GDP công nghiệp thế giới. Chính vì thế báo chí trở thành một loại hàng hóa kinh doanh có lãi giúp nhà tư bản thu được cả về tiền và danh tiếng.

Các ông chủ tư bản thu tiền bằng cách bán các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ báo chí truyền thông và hoạt động quảng cáo. Ở các nước công nghiệp phát triển, nguồn thu từ quảng cáo ngày càng lớn, chiếm phần chủ yếu trong doanh thu trực tiếp của các tờ báo, các đài phát thanh, truyền hình. Còn có những tờ báo phát không, có nghĩa là các hợp đồng quảng cáo trở thành nguồn thu duy nhất.

Không chỉ thu được một nguồn lợi nhuận lớn, đầu tư vào báo chí còn giúp cho các tập đòan tư bản lũng đoạn củng cố danh tiếng và địa vị của mình. Bởi vậy, đưa cái tên của mình đến gần gũi công chúng là mục tiêu của bất kì tập đòan nào. Can thiệp vào báo chí là cánh cổng lớn nhất, rộng nhất để thực hiện tốt vấn đề đó.

2.2. Quảng cáo để đưa sản phẩm đến với người dân

Báo chí gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh, mệnh đề này đã đựơc chứng minh trong quá trình phát triển của truyền thông đại chúng. Thứ nhất, bản thân báo chí là một loại hàng hoá. Thứ hai, báo chí sản xuất các chương trình quảng cáo sản phẩm hàng hoá dịch vụ của các nhà sản xuát kinh doanh. Thực tế, nếu không có quảng cáo báo chí khó mà tồn tại được. Tại Pháp, tháng 11 năm 1981, tổng thống pháp Mitterrand ban hành luật tự do báo chí trên sóng truyền thanh và cho phép thành lập các đài phát thanh tự do thuộc các tổ chức xã hội và các tổ chức phi chính phủ với một điều kiện duy nhất: không có quảng cáo. (Chúng ta đều biết phát thanh là phưong tiện truyên thông miễn phí theo đứng nghĩa đen của từ, nghĩa là không có sự thuê bao sóng, không có việc bán các bản in… Nguồn thu duy nhất của phát thanh là từ quảng cáo). Sau khi luật được ban hành, hàng trăm đài phát thanh tự do lên sóng và… thầm lặng cắt sóng chỉ trong vòng hai tháng. Lý do duy nhất của hiện tượng “sao băng” này là: Không có quảng cáo, không có kinh doanh, dẫn đến không có thu nhập và cuối cùng là không thể sống sót. Như vậy, chỉ với điều kiện duy nhất, chính phủ của tổng thống đương nhiệm lúc bấy giờ đã kiểm soát được hoàn toàn cái gọi là tự do báo chí, tự do ngôn luận trên sóng phát thanh. Đó là ví dụ đầy thuyết phục để chứng minh cho mệnh đề “kinh doanh để tồn tại” của báo chí hiện đại.

Báo chí sống lệ thuộc vào quảng cáo và các tập đoàn tư bản cũng không thể bỏ qua con mồi béo bở này để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Các nhà sản xuất phải dựa vào báo chí để quảng bá hàng hoá và dịch vụ của họ tới người tiêu dùng và tạo lập vị thế trên thương trường. Thông qua quảng cáo, quá trình lưu thông hàng hoá được thuận lợi và rộng rãi hơn, nhờ đó vị thế của doanh nghiệp nhà sản xuất đựơc nâng cao, xác lập những mối liên hệ mới, mở rộng sự liên kết liên doanh với các doanh nghiệp và tổ chức khác.

Đầu thế kỷ XX, quảng cáo đã thực sự trở thành một ngành công nghiệp hùng mạnh trên thế giới, ở các cường quốc quảng cáo như Mỹ, Anh, Pháp… Hiện nay, ở phương tây, doanh thu quảng cáo trung bình từ 70%- 90%, thậm chí có một số tờ báo doanh thu từ quảng cáo là 100% như các tờ Metro tại Pháp, Bỉ, Hà Lan, Thuỵ Điển, hay tờ 20 Minute tại Pháp.

Hiện tượng này cũng không phải là lạ ở Việt Nam, tỉ lệ số trang quảng cáo trên số trang nội dung của những tờ báo được coi là “con cá mập” trên thị trường báo chí luôn ở mức rất cao, từ 3/5 thậm chí 5/5 và 7/5(trường hợp của Tuổi Trẻ và Sài Gòn tiếp thị). Chúng ta cũng có những tờ báo hầu như không có thông tin, chỉ có những mẩu tin quảng cáo như Mua và bán, Cẩm nang mua sắm… Những tờ báo này cùng với những tờ báo mạng sống hoàn toàn nhờ doanh thu quảng cáo.

Hiện nay có rất nhiều hình thức, dịch cụ quảng cáo cho sản xuất kinh doanh. Chúng ta thường gặp một số hình thức quảng cáo như: quảng cáo sản phẩm hàng hóa, các dịch vụ của nhà sản xuấy kinh doanh, quảng cáo năng lực chức năng nhiệm vụ của các tổ chức doanh nghịêp, quảng cáo hàng có bán hàng cần mua. Đặc biệt hiện nay đang phát triển hình thức quảng cáo có biên tập một kiểu dịch vụ quảng cáo dưới dạng tác phẩm báo chí(tin phóng sự, ghi nhanh…)đựơc viết theo lối tán dương khéo léo, tuy không khẳng định hoàn toàn nhưng hiệu quả lại rất to lớn. Đây là kiểu quảng cáo rất được các doanh nghiệp hiện nay sử dụng để quảng bá cho doanh nghiệp của mình và giới thiệu sản phẩm của mình tới ngưòi tiêu dùng.



2.3. Quảng bá, xây dựng hình ảnh

Ngoài việc đổ tiền vào quảng cáo để mang sản phẩm đến với người dân đồng thời xây dựng, quảng bá hình ảnh của mình thì các tập đoàn tư bản lũng đoạn còn có những chiêu bài khác để tạo dựng hình ảnh của mình trong lòng công chúng. Chẳng hạn như tài trợ cho các chương trình, qua báo chí đăng phát những tin tức, hình ảnh có lợi cho mình, mua chuộc báo chí không đăng phát những tiêu cực không có lợi, hay lợi dụng báo chí để xử lý những khủng hoảng do mình gây ra, hay tạo cho mình một ấn tượng, một phong cách riêng… Để từ đó gây ảnh hưởng đến công chúng, tạo dựng niềm tin và uy tín với họ.

Hàng chục năm nay, tạp chí Time đã bắt tay với Công ty thuốc lá Mirôbô nhằm tạo nên biểu tượng sự sang trọng của đàn ông Mỹ khi hút thuốc lá của hãng Mirôbô. Những bài tiêu cực về thuốc lá, nhất là với Mirôbô không bao giờ xuất hiện trên tạp chí Time. Với Time, Mirôbô đã thành công trong việc tạo dựng hình ảnh và quảng bá mình đến với công chúng.

Ở Việt Nam, chương trình “Tôi yêu Việt Nam” do tập đoàn Honda tài trợ nhằm vào vấn đề xã hội đang rất nổi cộm ở Việt Nam hiện nay: an toàn giao thông nên thu hút được đông đảo công chúng, trong đó có cả các chính khách. Khi đã biết nhiều về thương hiệu công ty lại gắn với hoạt động xã hội mang tính tích cực như thế nhất định sẽ ảnh hưởng đến cách nhìn của công chúng về công ty và có sự suy tính nhất định khi mua loại sản phẩm mà công ty có thể sản xuất.

Chương trình được phát sóng vào giờ vàng. Những đoạn phim tình huống trong tôi yêu Việt Nam sử dụng hoàn toàn sản phẩm của Honda, cuối chương trình có thêm chuyên gia tư vấn của Honda hướng dẫn cách lái xe an toàn- đây là lãnh địa quảng cáo độc quyền của Honda, là phương cách quảng bá thương hiệu tốt nhất mà chỉ có doanh nghiệp nào có tiềm lực và “chịu chơi” mới dám đầu tư vào.

Không những phát sóng trên truyền hình, chương trình tôi yêu Việt Nam còn tổ chức các trò chơi có thưởng trên sóng phát thanh và internet và tất nhiên phần thưởng của những trò chơi này sẽ là những sản phẩm của Honda. Ngoài ra, Honda liên tục thay đổi các hình thức của chương trình, luôn tạo ra sự đổi mới để gây sự chú ý và là nguồn thông tin cho bao chí để báo chí quảng cáo không công. Đây thực sự là một chương trình mang tính xã hội, mang tầm cỡ quốc gia, sau hơn một năm phát sóng, ''Tôi yêu Việt Nam'' đã thu hút trên 4 triệu người tham gia.



2.4. Thấy được tầm quan trọng của báo chí trong việc tạo dư luận, chính trị, tác động nhận thức của người dân

Trong đời sống chính trị - xã hội, báo chí giữ một vai trò hết sức quan trọng. Bất kỳ một lực lượng cầm quyền nào trong các quốc gia trên thế giới đều sử dụng báo chí như một công cụ để tác động vào tư tưởng, tình cảm của công chúng, nhằm tạo ra ở họ những nhận thức mới, những định hướng có giá trị cho cuộc sống. Thông tin trong báo chí vừa có tính xã hội, vừa có tính tư tưởng khuynh hướng rõ rệt. Song, cũng như các hình thái xã hội khác, báo chí có những nét riêng biệt. Đứng trước một thế giới hiện thực chứa đựng đầy thông tin, báo chí có những cách thức riêng của mình để phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tầng lớp xã hội. Chính điều đó đã khiến cho báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được.

Việc các tờ báo, đài phát thanh truyền hình phương Tây ủng hộ hay phản đối một đảng chính trị, một ứng cử viên trong bầu cử hoặc một chính sách kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng nào đó, bao giờ cũng có nguồn gốc xuất phát từ quyền lợi của các nhà tư bản, của các ông chủ. Về sâu xa thì đây mới là nguồn lợi to lớn nhất mà các nhà tư bản muốn hướng tới, là lý do quan trọng nhất để dẫn tới sự liên kết giữa báo chí truyền thông với công nghiệp, tài chính, dịch vụ để hình thành những tập đoàn độc quyền khổng lồ. Điều ấy cũng giải thích tại sao các tập đoàn công nghiệp, tài chính khổng lồ ở Mỹ và các nước phương Tây luôn đóng vai trò to lớn và tích cực trong các cuộc bầu cử. Một số tập đoàn tư bản nhờ truyền thông mà nắm giữ quyền lực to lớn thông qua khả năng tác động vào các tiến trình vận động của thế giới.

Chẳng hạn như vai trò của hệ thống tin truyền hình cáp CNN của tập đoàn TBS (Hãng Turner Broadcasting System do Robert Edward sáng lập năm 1963) trong đời sống quốc tế. CNN phát những thông tin được thu thập và xử lý từ khắp nơi trên thế giới 24/24 giờ đến mọi địa chỉ nhận tin trên toàn cầu. Hoạt động của hệ thống này đang làm đảo lộn những quan niệm bình thường của xã hội về không gian, thời gian và phương pháp thu lượm, khai thác, truyền phát thông tin. Với phạm vi ảnh hưởng vô cùng lớn, CNN có khả năng làm cho bất cứ sự kiện, vấn đề gì ở bất cứ nơi nào trở thành có tiếng vang toàn cầu ngay từ khi nó đang diễn ra. Do vậy, nó đã áp đặt trước một ấn tượng, một quan niệm hay một cách đánh giá nào đó về sự kiện trong suy nghĩ của công chúng. Những nhà nghiên cứu phương Tây gọi đây là “nhân tố CNN” mà các nhà chính trị không thể không tính đến khi trù liệu cách hành xử của mình. Joseph Fitchett giải thích về nhân tố CNN như sau: “Khi CNN phát đi hình ảnh của một cuộc họp báo hay một thiên tai xảy ra tại một nơi nào đó trên thế giới thì ngay lập tức sự kiện ấy được biết đến tại tất cả các thủ đô trên thế giới…”. Quyền lực chi phối của tập đoàn này gần như về mọi mặt của đời sống văn hóa. Nó tác động vào dư luận xã hội một cách tự nhiên và vạch ra hướng đi cho nhận thức, thúc đẩy việc hình thành thái độ, quan điểm chính trị - xã hội trong công chúng.

Ngoài ra, còn có một mục đích nữa là truyền bá các giá trị văn hoá, lối sống phương Tây, sự dàn dựng dư luận cho những hoạt động vụ lợi, những màn kịch lừa gạt công luận nhằm chuẩn bị cho những cuộc phiêu lưu quân sự và những can thiệp vào nội tình chính trị của các nước không cùng hội, cùng thuyền.


  1. Can thiệp như thế nào

    1. Đầu tư vào nghề báo: mua hoặc liên doanh

Thế giới đang chứng kiến sự tập trung cuồng nhiệt các phương tiện truyền thông. Từ nhiều năm nay, trong thế giới phương Tây, những ông trùm tư bản ngự trị trong ngành truyền hình, báo chí và điện ảnh như Ruppert Murdoch, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc News Corp; Gerald Levin, Chủ tịch Hãng American Online (AOL) Time Warner; Thomas Middelhoff, đứng đầu Tập đoàn Bertelsmann; hay Jean-Marie Messier, Chủ tịch Vivendi Universal, đã và đang tiến hành cái gọi là “cuộc chạy đua bành trướng khổng lồ” bằng cách mua lại, sáp nhập, thôn tính các công ty nhỏ hơn không đủ sức cạnh tranh. Trong xu hướng tích tụ và tập trung tư bản ngày nay, các ông chủ này, phần lớn là người Mỹ bỏ ra hàng tỷ đô la Mỹ, đã đẩy nhanh những sự tập hợp mới trong những ngành chiến lược và do vậy, đã tương đồng hoá trên toàn hành tinh việc xuất bản âm nhạc, các chương trình truyền hình và cả những bộ phim truyện dài trực tiếp xuất xưởng từ Hollywood.

Đầu tư vào những ngành khác nhau, tạo sự liên kết những ngành báo chí truyền thông, công nghiệp, tài chính, dịch vụ rất xa nhau để hỗ trợ lẫn nhau, hạn chế rủi ro, tăng cường sức mạnh… Theo xu hướng đó, năm 1986, Công ty General Electric đã mua mạng truyền hình Mỹ NBC; Công ty Viễn thông khổng lồ Mỹ AT&T năm 1999 đã nắm quyền kiểm soát hệ thống truyền hình “cáp” TCI, rồi đến năm 2004 thôn tính tiếp mạng MediaOne. Từ năm 1995, Tập đoàn Viacom đã thôn tính Công ty Điện ảnh Paramount và Hãng Truyền hình CBS. Năm 2001, Tập đoàn AOL tuyên bố hợp nhất với Time Warner. Còn Vivendi và Canal Plus, một tập đoàn tư bản Pháp đã hợp nhất với Seagram, hay việc Rupert Murdoch đã len chân vào ngành truyền hình phải trả tiền theo yêu cầu tại Italia, Đức và đang chuẩn bị thực hiện hợp đồng sáp nhập với tập đoàn NewsCorp có trị giá vài tỷ USD.

Theo số liệu của Công ty nghiên cứu thị trường Dialogic, trong 5 tháng đầu năm 2007, trên toàn thế giới đã ghi nhận 372 bản hợp đồng sáp nhập, mua lại giữa các công ty, tập đoàn báo chí truyền thông với tổng giá trị lên đến 93,8 tỷ USD. Đáng chú ý nhất là hợp đồng sáp nhập giữa Google và Double Click, trị giá 3,1 tỷ USD hồi tháng 4-2007, hợp đồng sáp nhập giữa Yahoo với Right Media trị giá 680 triệu USD.

Một nghiên cưú của giáo sư Piter Phillips, trường Đại học Sonoma cho thấy 118 người là thành viên hội đồng quản trị của 10 tập đoàn báo chí lớn nhất nước Mỹ cũng đồng thời có mặt ở hội đồng quản trị của 288 tập đoàn kinh tế khác. Trong khi các tập đoàn The tribune, New York Times và Gannett đều có thành viên ở hội đồng quản trị của tập đoàn Pepsi, thì Coca Cola và J.P. Morgan lại có đại diện chia sẻ ghế hội đồng quản trị của cả NBC và Washington Post. Thực tế này cho thấy sự liên kết rất chặt chẽ giữa các tập đoàn báo chí với các tập đoàn kinh tế.

Những điều trên dẫn tới một kết cục chung là tình trạng tập trung, độc quyền báo chí vào tay các ông trùm tư bản ngày càng tăng.


    1. Tài trợ, bơm tiền vào quảng cáo

Quảng cáo là hoạt động cơ bản và đơn giản để tập đoàn tư bản can thiệp và thu lời từ báo chí. Bằng quảng cáo, tập đoàn tư bản lũng đoạn đưa sản phẩm tới khách hàng nhanh chóng hiệu quả và cạnh tranh với sản phẩm của doanh nghiệp khác... nhưng không dừng ở đó, cao hơn nữa từ quảng cáo tư bản lũng tạo tầm ảnh hưởng của mình cả trong hoạt động thông tin báo chí. Đó chính là mục đích hướng đến của tư bản lũng đoạn với báo chí thông qua hoạt động quảng cáo.

Theo số liệu của công ty khảo sát Emarketer, chi cho quảng cáo tại Mỹ năm 2006 là 285 tỉ USD, trong đó quảng cáo trực tuyến đang chiếm 5,8%. Theo nguồn từ thanhnienonline ngày 26/04/2008 thì chỉ riêng quảng cáo trên internet, Mỹ đã chi tới 25,5 tỉ USN năm 2007. Xu hướng chung của đầu tư vào quảng cáo là tăng trưởng trên internet, theo đà ấy làm phép tính nhỏ (giả sử năm 2007 quảng cáo trên internet là 5.8%, ngang năm 2006) thì tổng mức chi vào quảng cáo của Mỹ năm 2007 là khoảng 440 tỉ USD; con số này càng ấn tượng hơn nữa nếu chúng ta biết rằng ở Mỹ chỉ có mười tập đoàn thâu tóm thông tin (chiếm thị phần lớn gần như hầu hết về đầu tư vào thông tin, trong đó có một phần hoạt động quảng cáo) _ nguồn thống kê của Bagdikian, năm 1997.

Chưa phải tập đoàn đi tiên phong trong đầu tư quảng cáo nhưng ngay từ năm 1997 tập đoàn coca cola đã chi cho quảng cáo tới 1,5 tỉ phrăng (theo www.bwportal.com.vn/baiviet/105/-50k). Chịu lép vế sau coca, nhưng số tiền quảng cáo mà người chịu trách nhiệm quản lí điều hành của pepsi là Steven Reinemund quyết định chi ra cũng lên tới vài triệu đô la, đổi lại cho lượng tiền quảng cáo bỏ ra ấy là doanh thu từ bán hàng khoảng 30 tỉ USD / năm hiện nay (nguồn vietnamnet_ bài “ thuyền trưởng” tài ba của tập đoàn pepsi)

Những con số trên gây ấn tượng nhưng chưa nói lên nhiều sự can thiệp của tập đoàn tư bản tới báo chí. Một số đặc điểm của hoạt động quảng cáo dưới đây sẽ cho thấy rõ hơn điều này.



Báo giá rẻ và báo miễn phí : lối rộng cho quảng cáo tung hoành

Tại Tây và Bắc Âu, điển hình là Pháp và Thuỵ Điển, những tờ báo giá rẻ hoặc miễn phí rất quen thuộc và được đón đọc với số lượng tờ top dẫn đầu. Những tờ báo này là nhật báo, đa phần được phát không tại những tụ điểm đông người qua lại như nhà ga tàu điện ngầm, bến xe, cảng... Điểm đặc biệt ở loại hình báo chí này là có hẳn một “công nghệ” quảng cáo gắn liền với báo in. Đa phần các tờ báo có dung lượng được cân bằng giữa nội dung các bài viết và phần quảng cáo. Cả phần bài báo và quảng cáo đều được đầu tư chu đáo. ở đây có sự xếp sắp rất sáng tạo, tinh ý có thể thấy sau mỗi bài hay mục lại có quảng cáo, và phần quảng cáo phù hợp với chính nội dung bài báo ở trên, bài báo ở trên nói về vấn đề nào thì quảng cáo tiếp đó với sản phẩm nghiêng vê mặt hàng liên quan vấn đề đó.

Điểm đáng chú ý ở loại hình báo này là sống hoàn toàn bằng tiền quảng cáo, tài trợ của các tập đoàn tư bản. Ngược lại các trùm tư bản lũng đoạn cũng hưởng lợi lớn từ những tờ báo này theo quan hệ cộng sinh cả hai cùng có lợi. Các báo giá rẻ hoặc miễn phí này có đội ngũ nhà báo nghiệp vụ rất cao. Vấn đề của họ là làm ra những bài báo hấp dẫn thu hút người đọc. Và đương nhiên số lượng công chúng đọc báo càng lớn thì cơ hội của nhà tài trợ càng lớn, theo đó thu nhập của người làm báo cũng nâng cao vì số lượng nhà tài trợ và số tài trợ tăng theo chất lượng, uy tín tờ báo...

Do sự thích ứng và phát triển hợp thời của nó, hiện nay loại báo này vẫn khá thịnh hành ở phương tây, đặc biệt là Bắc và Tây Âu.



Quảng cáo trên internet lên ngôi

Quảng cáo truyền thống bằng truyền hình, phát thanh hay ấn phẩm in đang trở nên lỗi thời. Và quảng cáo trên internet với những ưu điểm vượt trội đang ngày càng khẳng định vị thế của nó. So với các loại hình báo chí truyền thống, báo chí trực tuyến tích hợp được nhiều tính năng tổng hợp, phương tiện hàng đầu cho chọn lựa quảng cáo giờ đây. Chủ tịch bộ phận dịch vụ và nền tảng của Microsoft, ông Kevin Johnson đã gọi quảng cáo trực tuyến là “ lĩnh vực màu mỡ”, là “một cơ hội” ( theo Vietimes- bài Các “đại gia internet chạy đua quảng cáo trực tuyến). Nếu nhìn nhận sự phát triển của quảng cáo trực tuyến những năm gần đây thì có thề thấy “ cơ hội” ấy đã được nhiều đại gia tư bản biến thành hiện thực...

Tốc độ phát triển của quảng cáo trực tuyến đựơc đánh giá là khá nhanh trong thời điểm gần đây. Năm 2006, quảng cáo trực tuyến ở Mỹ chiếm 5,8% trong tổng 285 tỉ USD. Con số tăng trưởng tiếp theo các chuyên gia dự đoán là 10,2% năm 2010 (theo số liệu của công ty khảo sát EMarketer). Riêng quý I năm 2007, công ty AT&T chi ra 79 triệu USD cho quảng cáo mạng so với con số 56 triệu USD cùng kì năm trước đó 1 năm công ty này bỏ ra. Hãng Ford cũng chi 29 triệu USD cho quảng cáo trên internet gần đây trong khi vài cộng cả vài năm trước đó mức đầu tư này chỉ vỏn vẹn 7 triệu USD.

Hiện nay, đứng đầu trong các trang web quảng cáo là các công ty google, yahoo, Microsoft, AOL. Google có 500.000 khách hàng, yahoo có 300.000 khách hàng quảng cáo... ( theo Vietimes _ bài Các “đại gia internet chạy đua quảng cáo trực tuyến ).



Mua các công ty quảng cáo

Hoạt động quảng cáo đang thu hút ngày càng nhiều hơn sự quan tâm của các ông trùm tư bản lũng đoạn, và mảnh đất quảng cáo hấp dẫn sự quan tâm của họ không gì khác ngoài quảng cáo trực tuyến. Không chỉ ở vai trò người đi thuê quảng cáo mà tập đoàn tư bản lũng đoạn còn đang dần biến mình thành các ông chủ cho thuê quảng cáo của các trang web “hút người”. Các chiến dịch “cá lớn nuốt cá bé” đang khẩn trương được thực hiện. Mở đầu cho những nỗ lực đầy tham vọng này là Google. Họ qua mặt Microsoft, thôn tính DoubleClick với giá 3,1 tỉ USD.

Sự kiện lớn nhất của quá trình thâu tóm này là việc Microsoft mua công ty quảng cáo trực tuyến aQuantive với giá 6 tỉ USD hôm 18 tháng 5 vừa qua. Đây là thương vụ lớn nhất trong lịch sử Microsoft và cũng là dấu hiệu cho thấy Microsoft đang trên đường xây dựng ngành kinh doanh quảng cáo internet cho riêng mình.

Trung tuần tháng 3 năm 2008, AOL hòan tất vụ mua bán Third Screen Media – công ty vận hành hệ thống quảng cáo cho máy điện thoại di động và Adtech, một công ty quảng cáo trực tuyến của Đức. AOL là cổng internet đầu tiên bỏ tiền ra mua một hệ thống quảng cáo khổng lồ Advertising.com vào năm 2004..

Cùng theo những hoạt động rầm rộ kể trên, các tập đoàn trên cũng đưa ra nhiều chiêu câu khách để thu hút người sử dụng dịch vụ của mình và ghé trang web đó xem thông tin của họ.

Cùng với nhiều hoạt động đồng thời khác để can thiệp và tác động vào báo chí và truyền thông, các tập đoàn tư bản lũng đoạn đang ngày càng tạo thêm vị thế cho mình. Ngay cả trong lĩnh vực quảng cáo, họ cũng tận dụng hết những mặt có thể tham gia và kiếm lời và chi phối thông tin. Rõ ràng bằng nhiều cách, họ đang chủ động chiếm lĩnh quyền hưởng thụ và chi phối thông tin, một cách khôn ngoan họ thực hiện đồng thời và liên tiếp các hoạt động thu thập thông tin chuyên nghiệp và quảng cáo.



3.3. Thành lập một tờ báo riêng

Không chỉ mua hoặc liên doanh với báo chí, các tập đoàn tư bản còn đứng ra thành lập tờ báo riêng cho mình. Những tờ báo này chịu hoàn toàn sự độc quyền và phục vụ lợi ích cho các tập đoàn tư bản lũng đoạn.

Thời gian trước, Sinclair Broadcast Group- một trong những chủ tư nhân lớn nhất sở hữu các đài truyền hình ở Mỹ, một đế chế của 60 kênh truyền hình trải rộng khắp 37 thành phố và chiếm gần một phần tư số khán giả truyền hình ở quốc gia này. Tập đoàn Sinclair là chủ tư nhân đã trực tiếp điều hành sự hoạt động của các đài truyền hình Mỹ trong một thời gian dài.

Thế nhưng, ngay cả khi bạn tình cờ bắt được sóng và tiếp cận nó mỗi đêm - xem tin tức của Sinclair, dự báo thời tiết của Sinclair và bình luận của Sinclair, rất có thể bạn vẫn không hề biết rằng mình đang xem chương trình của đế chế truyền hình này. Bạn không hề thấy chữ “Sinclair” trên màn hình và có lẽ bạn nghĩ đang xem kênh ABC hoặc CBS hoặc NBC. Trên màn hình, bạn vẫn thấy những logo cũ và quen thuộc - một con công, một con mắt và chiếc bong bóng ABC - còn những người dẫn chương trình trông vẫn thế. Bạn không hề biết đài truyền hình đang cung cấp tin tức cho bạn đã bị Sinclair mua đứt và cũng không nhận thấy việc tin tức chính thống đột nhiên biến mất để được thay thế bằng "tin tức" của Sinclair trong vòng hai, ba chục phút. Có thể đó là một cuộc phỏng vấn sinh động với một nhà thầu quốc phòng hoặc một bài bình luận nảy lửa về những thói xấu xa người Pháp: tất cả đều ngắn gọn, khá giật gân và chỉ kéo dài 2 phút, 10 phút hoặc 15 phút. 

 Sau đó, đài truyền hình này trở lại với chương trình thường lệ và "tin tức" được chèn vào của Sinclair cũng lặng lẽ ra đi như khi nó xuất hiện trên màn hình. Không một tín hiệu nào, kể cả một tiếng “bíp”, để bạn biết rằng những gì mình vừa thấy trên màn hình không phải do NBC hoặc CBS phát đi mà là chương trình của những người sở hữu đài truyền hình này. Đó chính là mục tiêu của Sinclair: thấy mà như không thấy. 

Ngòai ra, một số tập đòan tư bản sở hữu cho mình những tờ báo có lượng độc giả lớn tại Mỹ như: công ty Tribune với tờ Chicago Tribune, Los Angeles Times, công ty Gannett với tờ The Cincinati Enquirer, USA Today. Dưới đây là một số thông tin về một vài tờ báo trên:



The Cincinnati Enquirer hay Vấn báo Cincinnatinhật báo buổi sáng được xuất bản tại Cincinnati, Ohio, là tờ lớn hơn trong số hai nhật báo của thành phố này. Chủ sở hữu của tờ báo này là Công ty Gannett, và tờ báo có thỏa thuận vận hành chung (joint operating agreement, JOA) với nhật báo buổi chiều, The Cincinnati Post, theo đó tờ Enquirer chịu trách nhiệm về các chức năng thương mại của cả hai tờ báo. Công ty cha của Enquirer là Gannett Co. Inc. đã thông báo cho E.W. Scripps Co., nhà xuất bản của The Post là mình không có ý định ký lại JOA này vào năm 2008, điều đó có nghĩa là The Enquirer sẽ trở thành nhật báo duy nhất của thành phố. The Enquirer có tổng số phát hành khoảng 190.000–211.000 bản từ thứ hai tới thứ bảy và khoảng 293.000 bản vào ngày chủ nhật.

Los Angeles Times (tiếng Anh của Thời báo Los Angeles, viết tắt LA Times) là một nhật báo được xuất bản tại Los Angeles, California và được phân phối ở khắp miền Tây Hoa Kỳ. Có tổng số phát hành là 843.432 độc giả mỗi ngày vào tháng 9 năm 2005, nó là tờ báo thành phố phổ biến thứ hai ở nước Mỹ (sau The New York Times). Theo lần in World Almanac năm 2005, Los Angeles Times là tờ báo phổ biến thứ tư ở nước Mỹ. Trước đây nó cũng làm chủ của đài truyền hình KTTV.

Tờ Times đã đoạt giải Pulitzer 37 lần vào năm 2004, tính bốn lần về biếm họa, một lần về phóng sự trong cuộc Náo loạn Watts năm 1965 và một lần về phóng sự trong cuộc Náo loạn Los Angeles năm 1992. Vào năm 2004, nhật báo này đoạt giải về năm thể loại, nó đứng thứ hai về số thể loại được thắng trong một năm (thứ nhất về thể loại là The New York Times vào năm 2002).Chủ của nhật báo này là Công ty Tribune, hãng xuất bản nhật báo Chicago Tribune của Chicago, Illinois.



Chicago Tribune (Báo Luận đàn Chicago) là một nhật báo lớn ở Chicago, Illinois (Hoa Kỳ) do Công ty Tribune làm chủ. Ngày xưa tự xưng là "Tờ báo vĩ đại nhất thế giới" (tiếng Anh: World's Greatest Newspaper), nó vẫn là nhật báo chính của miền Trung Tây Hoa Kỳ và là một trong 10 nhật báo lớn nhất trong nước, có tổng số phát hành 957.212 bản vào chủ nhật.

Tóm lại, bằng việc thành lập những phương tiện truyền thông riêng cho mình, các tập đòan tư bản lũng đoạn đã khẳng định tiếng nói và chỗ đứng của mình trong nền báo chí. Dẫu rằng sự can thiệp ấy là có mục đích và để phục vụ cho những toan tính có lợi cho bản thân.



2.4. Tiểu kết chương I

Trên đây là cái nhìn tổng quát về những nguyên nhân chính và hình thức can thiệp của tập đoàn tư bản lũng đoạn đối với báo chí. Chúng tôi cũng nêu lên một số dẫn chứng tiêu biểu cho thấy sự can thiệp đó. Sự can thiệp đó không những mang lại cho các tập đoàn tư bản lũng đoạn những nguồn lợi nhuận kếch xù mà còn chứng tỏ vai trò, sức mạnh to lớn của báo chí. Điều đó cho thấy bất cứ một tập đoàn nào muốn chứng tỏ địa vị, đẳng cấp của mình đều phải sử dụng báo chí như một công cụ. Tuỳ theo từng mục đích mà các tập đoàn tư bản có sự can thiệp vào báo chí khác nhau.



Chương II: Những câu chuyện điển hình về sự can thiệp của tập đoàn tư bản lũng đoạn đối với báo chí

  1. Đám cưới” giữa AOL và Time Warner

1.1. Vài nét về Time Warner và AOL

1.1.1. Time Warner

Nền tảng: là sự sát nhập của Warner Communication và Time Inc, năm 1987.

Trụ sở: New York, Mỹ.

Những nhà lãnh đạo chủ chốt: Richard D.Parsons, chủ tịch Jeffiey L.Bewkes; và tổng giám đốc điều hành Wayre Pace cùng các CFO khác.

Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu: phát thanh, xuất bản, in, viễn thông.

Thu nhập: 50.48 tỉ $ (2008)

Nhân viên: 86.000 (31/12/2007)

Đây là một tập đoàn truyền thông lớn với 2 tên tuổi nổi tiếng trong giới truyền thông Mỹ là tạp chí Time và kênh truyền hình CNN.



Time (đặc điểm phân biệt được viết hoa là TIME) là một tạp chí tin tức hàng tuần của Mỹ, tương tự như tờ NewsweekU.S. News & World Report. Ngày ra đời đầu tiên của nó là 3 tháng 3 năm 1923. Richard Stengel là tổng biên tập hiện nay của tạp chí này, Priscilla Painton, Adi Ignatius và Michael Elliott là các phó tổng biên tập. Trong một vài chiến dịch quảng cáo, tạp chí đã gợi ý rằng, qua cách viết tắt, những chữ cái trong từ "TIME" biểu tượng cho dòng chữ "The International Magazine of Events" (tạm dịch: một tạp chí quốc tế cho những sự kiện).

Ấn bản tại châu Âu (Time Europe, thường được biết đến là Time Atlantic) được xuất bản ở London. Time Europe phát hành tới cả Trung Đông, châu Phi và từ 2003 thêm châu Mỹ Latinh. Một phiên bản ấn bản tại Châu Á (Time Asia) được đặt ở Hồng Kông. Tạp chí Time xuất bản ở cùng thời điểm tại Canada, với phương thức quảng cáo khác nhau. Phiên bản ấn bản tại châu Đại Dương, phát hành tới các nước Úc, New Zealand và những hòn đảo ở châu Đại Dương, được đặt ở Sydney. Hiện nay số lượng phát hành của nó lên tới 4.038.058 mỗi tuần, tính riêng ở Mỹ.

Trong khi những tạp chí khác chủ yếu thường đi theo hai hướng: một là văn hoá giải trí- xã hội, hai là nghiên cứu chiều sâu hẹp về lĩnh vực khoa học thì tạp chí Time lại đi vào tin tức, đi theo hướng mới trở thành tạp chí tin tức. Có thể nói, tạp chí Time sở hữu trong tay những thông tin đẳng cấp thế giới, là tạp chí danh giá của thời đại, tiêu biểu, điển hình cho dòng tạp chí New magazine.

Cable News Network (tiếng Anh, viết tắt CNN; dịch là "Mạng Tin tức Truyền hình cáp") là một mạng truyền hình cáp được thành lập năm 1980 bởi Ted Turner và là một nhánh của Tunner Broadcasting System, sở hữu bởi Time Warner. CNN giới thiệu tin tức 24 giờ một ngày và 7 ngày trong tuần. Tin tức được cập nhật liên tục về các lĩnh vực nóng hổi trên toàn thế giới vì CNN có rất nhiều đài truyền hình dịch vụ. Trụ sở chính của CNN đặt tại thành phố Atlanta, bang Georgia, Time Warner CenterNew York và studios ở Washington, DC. Tổng giám đốc đài CNN hiện nay là ông Jonathan Klein mới được bổ nhiệm tháng 11/2004.

Từ khi CNN khai trương 1 tháng 6, 1980, hệ thống mạng lưới được mở rộng và đạt được một số lượng truyền hình cáptruyền hình vệ tinh (như bản tin chính CNN), 12 trang web, 2 hệ thống mạng lưới riêng (hệ thống mạng lưới sân bay CNN), 2 hệ thống mạng radio. Mạng lưới có 42 văn phòng giao dịch khắp thế giới và hơn 900 chi nhánh hội viên toàn cầu. CNN mở rộng ảnh hưởng tới nhiều vùng và nhiều ngôn ngữ khắp thế giới, trang web tin tức là CNN.com, sau đó được quy tụ vào là CNN ngày 30 tháng 8, 1995.

CNN trở nên nổi tiếng và được cho là kênh tin tức hàng đầu thế giới khi có Sự kiện 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, bởi CNN đã ghi được những hình ảnh y bay bị khủng bố lái đâm vào tòa tháp đôi (Trung tâm Thương mại Thế giới) và hơn thế là trong chiến tranh Iraq bởi kênh tin tức, video được truyền về liên tục và cung cấp cho cả thế giới, CNN nhiều lần truyền hình trực tiếp trận đánh giữa quân đội Mỹ và quân đội Iraq.

Ngày 1 tháng 6 năm 2005 CNN kỷ niệm 25 năm ngày thành lập. Tháng 12 năm 2004 CNN đã có 88,2 triệu gia đình người Mỹ và 890 nghìn văn phòng khách sạn thuê bao; CNN đã có mặt trên 212 nước và có 1,5 tỷ người. Mạng lưới tin tức của CNN rộng khắp trên thế giới và hoạt động 24/7 với tất cả thiết bị và kỹ thuật hiện đại nhất.



1.1.2. AOL

AOL là tên viết tắt của American Online, là một tập đoàn chuyên cung cấp dịch vụ Internet trên toàn cầu. Víi c¸c dÞch vô: cung cÊp, kÕt nèi internet, dÞch vô gi¸ trÞ gia t¨ng vµ ICP (Yahoo messenger)…AOL ®· thu hót khèi l­îng kh¸ch th¨m khæng lå vµ thu ®­îc kho¶n lîi nhuËn lín.

Thành lập năm 1985, có trụ sở tại Duless, Virginia, Mỹ.

Những nhà lãnh đạo chủ chốt: Randy Falco, Ted Leoniss, Ronald Grant.

Nhân viên: 16000

Lĩnh vực kinh doanh chính: cung cấp dịch vụ Internet trên tòan cầu

Khẩu hiệu: “See what’s here for you”

1.2. Sự can thiệp của AOL với Time warner

NhËn thÊy sù ph¸t triÓn lín m¹nh cña Time Warner, AOL quyÕt ®Þnh liªn kÕt víi tËp ®oµn truyÒn th«ng nµy vµo 1/2001 với một bản hợp đồng 163 tỉ đô la, trở thành doanh nghiệp truyền thông lớn nhất thế giới. Khi quyết định bơm tiền đầu tư vào Time Warner, AOL đã tính trước được lợi nhuận khi số lượng người truy cập vào sẽ tăng lên gấp nhiều lần và việc giữ chân người truy cập internet với thời gian lâu hơn. AOL làm được bởi 2 đầu sỏ lớn của truyền thông là Time và CNN ở đó. Như vậy, giá trị gia tăng của AOL nhờ thế mà tăng lên. Và song song với lợi nhuận mà AOL thu được, Time Warner cũng tiếp tục ph¸t triển tªn tuæi của m×nh, t×m ra mét ph­¬ng thøc lµm b¸o míi hÊp dÉn h¬n th«ng qua dịch vụ internet của AOL. Còn Time muốn tìm đến một kênh thông tin khác nên đã chọn internet(AOL), công chúng có thể tìm thông tin từ tạp chí trên Internet. Hai công ty này đã từng hy vọng sẽ thu được lợi nhuận lớn bằng cách phát hành phim và nhạc của hãng Time Warner thông qua mạng internet  của AOL.

Người có công nhất trong việc hợp nhất hai tập đoàn thông tin lớn nhất nhì nước Mỹ, AOL và Time warner là Steve Case - Chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn thông tin AOL Time Warner, biến bản thân trở thành nhân vật nổi bật nhất trong cộng đồng các doanh nghiệp thế giới đầu thời đại kỹ thuật số. Sự thành công của Case đặc biệt ấn tượng trong bối cảnh ông đã đạt được thoả thuận trong những hoàn cảnh tồi tệ nhất. Case đã sử dụng chứng khoán của một công ty cung cấp dịch vụ mạng đang rơi vào chu kỳ suy thoái mạnh (AOL) để mua công ty thông tin đại chúng lớn nhất thế giới (Time Warner) với một cái giá rất "phải chăng". Sau chiến thắng này, Case và công ty của ông lại vượt qua Bill Gate của Microsoft để dịch vụ lnternet của AOL có mặt trên giao diện của phần mềm mới Windows XP. Trong khi đó dịch vụ của AOL đã chiếm tới 70% tổng lượng hàng mua qua mạng vào dịp Giáng sinh. Số khách hàng hiện nay của AOL là 30.1 triệu người, chiếm hơn 1/2 tổng số khách mua bán trên mạng của toàn nước Mỹ.

Vào thời gian AOL và Time Warner hợp nhất, giá cổ phiếu của AOL tăng cao do sự bùng nổ của các công ty dotcom. Tập đoàn sáp nhập AOL Time Warner hiện có 135 triệu khách hàng; chỉ riêng AOL đã thu hút thêm được 1,3 triệu khách hàng mới trong năm 2001. Tuy nhiên, sau khi bong bóng Internet xẹp xuống, giá cổ phiếu của hãng này đã giảm rất mạnh

 Công việc thống nhất hoạt động kinh doanh của hai công ty cũng có rất nhiều khó khăn. Có một khoảng cách văn hoá kinh doanh lớn giữa hai công ty bởi AOL mới có thời gian hoạt động 20 năm, trong khi Time Warner đã có thâm niên tới 78 năm, với những ấn phẩm báo chí uy tín từ Fortune tới Sports Illustrated. Đã có những lời kêu ca, phàn nàn từ phía các phóng viên của Time và CNN tỏ ý lo lắng việc xiết chặt chi phí hoạt động có thể ảnh hưởng tới chất lượng các bài báo.

Năm 2001, sau khi sát nhập, hoạt động kinh doanh của tập đoàn này rất ảm đạm. Cổ phiếu của AOL TIME WARNER đã giảm 9% mặc dù lợi nhuận trước thuế đã tăng 20%, đạt 2.5 tỷ $.

Tính riêng trong quý I/2001, A-T lỗ 1.8 tỉ $. Nguyên nhân chính gây ra sự thất bại này là do doanh thu quảng cáo của hãng giảm sút tới 14%.

Ngay việc sáp nhập AOL và Time Warner cũng đã có nhiều khó khăn. Với số vốn 210 tỷ USD, giờ đây tập đoàn AOL Time Warner đã lớn gấp đôi đối thủ cạnh tranh lớn nhất của mình là Viacom với số vốn gần 100 tỷ USD. Hai tổng hành dinh cách nhau hơn 320 km: tổng hành dinh của AOL ở miền bắc Virginia, hiện là văn phòng điều hành của ông Case, và tổng hành dinh của Time Warner tại Manhattan là văn phòng của ông Levin. Tổng số nhân viên của tập đoàn hiện lên tới 90.000 người.

Tháng 5/2002, ông Ted Turner (phó chủ tịch) quyết định ra đi, gây nhìêu xáo trộn trong hoạt động kinh doanh của tập đòan. Chủ tịch AOL  TIME WARNER Steve Case cũng thôi giữ chức và tổng giám đốc điều hành Dick Parsons sẽ thế chỗ.

Báo chí đưa tin rằng Time Warner đã đàm phán căng thẳng trong suốt cả năm qua về tương lai của AOL, không loại trừ cả khả năng bán tống bán tháo toàn bộ gánh nặng này (AOL bắt đầu sáp nhập vào Time Warner từ tháng 1/2001). Nhưng càng về đến cuối năm 2005, ý tưởng "hợp tác" càng được chú ý: nhiều khả năng được đặt lên bàn: bắt tay cùng công cụ tìm kiếm MSN của Microsoft chăng, hay siết chặt thêm quan hệ quảng cáo với Google, hãng đang cung cấp công nghệ tìm kiếm cho AOL.

Sự dùng dằng trong tương lai của AOL đang cho thấy một thực tế: đến giữa thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ thứ 3, khu vực online đang bị chia rẽ thành 2 tuyến: một bên là những hãng thành công trong việc kiếm tiền từ tìm kiếm và cung cấp dịch vụ Web còn một bên là những kẻ "trâu chậm" không muốn uống nước đục.

Năm 2005-2006, tập đoàn này đã làm ăn khấm khá trở lại.

Năm 2006, Công ty này nói lãi ròng trong quý ba năm nay (2006)  tăng lên thành 2,3 tỷ USD từ con số 853 triệu quý ba năm ngoái. Thu nhập của Time Warner tăng 7% thành 10,9 tỷ USD, được đẩy mạnh nhờ việc hãng này mua lại công ty Adelphia Communications. Tháng trước, Time Warner đã bán hoạt động tại Anh của mình cho công ty Carphone Warehouse với giá 370 triệu bảng Anh. Tập đoàn này, vốn sở hữu cả xưởng phim Warner Bros và kênh truyền hình CNN, cho hay thu nhập từ AOL tăng tới 46%.Time Warner đã cải tổ hệ thống AOL hồi mùa hè để tăng lợi nhuận, cắt giảm 5.000 việc làm. Sau việc hãng này mua lại công ty Adelphia hồi đầu năm, nay Time Warner trở thành tập đoàn dịch vụ truyền thông cáp lớn thứ hai Mỹ, với trụ sở chính tại New York và Los Angeles. Cổ phiếu của Time Warner cũng tăng tới mức cao nhất trong bốn năm nay vào tháng trước.

 Người ta cho rằng ban quản trị Time Warner muốn xóa chữ AOL trước tên công ty này một vài lần nhưng kế hoạch chỉ được thực hiện khi giám đốc AOL Jonathan Miller cho phép vào tháng trước. Ông Miller có quan điểm trung lập trong mối cửu hận giữa AOL và ban điều hành Time Warner – như cách dùng từ của báo chí Mỹ.

Ngay từ quý I/2007, Time Warner – đứa con được cưng chiều và kỳ vọng bậc nhất của làng truyền thông Mỹ đã được đón nhận niềm vui lớn: về nhất trong cuộc bình chọn những tập đòan truyền thông hùng mạnh nhất hành tinh ( Top Thirty Global Media Owners). Với 29.8 tỉ $ doanh thu đạt được trong năm tài chính 2005-2006, gấp đôi doanh thu của anh chàng News Corp, Time Warner đã trở thành người đi đầu trong cuộc bầu chọn danh tiếng của Zenith Optimedia Group, vượt mặt 30 anh tài khác một cách đầy thuyết phục.

1.3. Nh÷ng Ho¹t ®éng cña AOL Time Warner

Theo thèng kª n¨m 2004, doanh sè cña AOL Time Warner ®øng ®Çu thÕ giíi víi 38 tØ USD víi sè nh©n viªn kho¶ng 80000 ng­êi. TËp ®oµn nµy ho¹t ®éng trªn c¸c lÜnh vùc sau:

a. Điện ảnh: New Line Cinema, Castle Rock, Rko, Warner Bros (những bộ phim Harry Potter, Matrix v.v...)
b. Âm nhạc: Warner Music Group (WMG) hoạt động trong 68 nước (nhạc của Madonna, MC Solar, Sinatra).
c. Truyền hình: Các kênh của Turner Broadcasting System. Các kênh thông tin của CNN trên toàn cầu, TBS Superstation, TNT, WB Television, Cartoon Network, Kid’s WB, Turner Classic Movies, HBO, Time Warner Cable.
d. Xuất bản: Time Inc, phát hành 64 tạp chí (268 triệu độc giả) trong đó có tạp chí Time, Sports Illustrated, Fortune, IPC media xuất bản 100 đầu sách (phát hành mỗi năm 350 triệu bản).
e. Internet: AOL, Compuserve.


  1. Google – “Câu chuyện thần kỳ”

Google là một công ty Internet tầm cỡ thế giới có trụ sở tại Hoa Kỳ, được thành lập vào năm 1998 bởi hai chàng trai rất trẻ Larry Page và Sergey Brin. Sản phẩm chính của công ty này là công cụ tìm kiếm Google, được nhiều người đánh giá là công cụ tìm kiếm hữu ích và mạnh mẽ nhất trên Internet. Trụ sở của Google tên là "Googleplex" tại Mountain View, California. Tính đến năm 2007, Google có trên 16.000 nhân viên, Tổng giám đốc là Tiến sĩ Eric Schmidt, trước đây là giám đốc công ty Novell. Tên "Google" là một lối chơi chữ của từ googol, bằng 10100. Google chọn tên này để thể hiện sứ mệnh của công ty để sắp xếp số lượng thông tin khổng lồ trên mạng. Googleplex, tên của trụ sở Google, có nghĩa là 10googol.

2.1. Sự ra đời và phát triển của Google

2.1.1. Ban đầu


Đầu tiên (1996) Google là một công trình nghiên cứu của Larry PageSergey Brin, hai người dự tuyển tiến sĩ tại trường Đại học Stanford. Họ có giả thuyết cho rằng một công cụ tìm kiếm dựa vào phân tích các liên hệ giữa các website sẽ đem lại kết quả tốt hơn cách đang được hiện hành lúc bấy giờ (1996). Đầu tiên nó được gọi là BackRub (Gãi lưng) tại vì hệ thống này dùng các liên kết đến để ước tính tầm quan trọng của trang.

Page và Brin tin rằng những trang có nhiều liên kết từ các trang thích hợp khác sẽ là những trang thích hợp nhất. Họ đã quyết định thử nghiệm giả thuyết trong nghiên cứu của họ, tạo nền móng cho công cụ Google hiện đại bây giờ.

Tên miền www.google.com được đăng ký ngày 15 tháng 9 năm 1997. Họ chính thức thành lập công ty Google, Inc ngày 7 tháng 9 năm 1998 tại một ga ra của nhà một người bạn tại Menlo Park, California. Trong tháng 2 năm 1999, trụ sở dọn đến Palo Alto, là thành phố có nhiều trụ sở công ty công nghệ khác. Sau khi đổi chỗ hai lần nữa vì công ty quá lớn, trụ sở nay được đặt tại Mountain View, California tại địa chỉ 1600 Amphitheater Parkway vào năm 2003.

Công cụ tìm kiếm Google được nhiều người ủng hộ và sử dụng vì nó có một cách trình bày gọn và đơn giản cũng như đem lại kết quả thích hợp và nâng cao. Trong năm 2000, Google đã bắt đầu bán quảng cáo bằng từ khóa để đem lại kết quả thích hợp hơn cho người dùng. Những quảng cáo này chỉ dùng văn chứ không dùng hình để giữ chất đơn giản của trang và tránh sự lộn xộn và đồng thời để trang được hiển thị nhanh hơn.

Google nhận được bằng sáng chế cho kỹ thuật sắp xếp trang web PageRank ngày 4 tháng 9 năm 2001. Bằng đưa quyền cho Đại học Stanford và liệt kê Larry Page là người sáng chế.

Trong tháng 2 năm 2003 Google mua được Pyra Labs, công ty chủ của Blogger, một trong những website xuất bản weblog lớn nhất.

Đầu năm 2004, khi Google ở tột đỉnh, Google đã xử lý trên 80% số lượng tìm kiếm trên Internet qua website của họ và các website của khách hàng như Yahoo!, AOL, và CNN. Sau khi Yahoo! bỏ Google để dùng kỹ thuật họ tự sáng chế vào tháng 2 năm 2004, số này đã bị tuột xuống.

Phương châm của Google là "Không làm ác" (Don't be evil). Biểu trưng của họ có khi được sửa đổi một cách dí dỏm vào dịp những ngày đặc biệt như ngày lễ hay sinh nhật của một nhân vật quan trọng. Giao diện của Google gồm trên 100 ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt và một số ngôn ngữ dí dỏm như tiếng Klingontiếng Leet. Vào ngày Cá tháng tư Google thường tung ra nhiều tin hài hước về công ty.


2.1.2. Phát hành cổ phiếu lần đầu


Vào tháng 1 năm 2004, Google tuyên bố đã thuê công ty Morgan StanleyGoldman Sachs Group để tổ chức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Google chọn cách bán cổ phiếu bằng đấu giá, một điều hiếm có. Từ khi ra thị trường, giá Google đã lên đến gần $200 mỗi cổ phiếu từ $85 lúc đầu. Giá thị trường của Google đến nay là trên 100 tỷ đô la.

2.1.3. Các thương vụ mua bán


Từ năm 2001, Google đã mua được nhiều công ty nhỏ mới thành lập, thường là công ty có nhiều sản phẩm và đội ngũ nhân viên tốt. Một trong những công ty mà Google mua lại sớm nhất là Pyra Labs. Họ chính là những người sáng tạo ra Blogger, một nền tảng của việc xuất bản weblog, giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1999. Pyra Labs ban đầu được lập ra bởi Evan Williams, khi anh này rời Google vào năm 2004. Đầu năm 2006, Google mua lại Upstartle, một công ty chịu trách nhiểm xử lý từ ngữ trên mạng, Writely. Công nghệ của sản phẩm này rốt cuộc đã được Google sử dụng để tạo ra Google Docs & Spreadsheets.

Tháng 2 năm 2006, công ty phần mềm Adaptive Path bán Measure Map, một ứng dụng thống kê weblog cho Google.

Cuối năm 2006, Google mua lại trang web chia sẻ video trực tuyến YouTube với giá 1,65 tỷ USD bằng cổ phần. Không lâu sau, 31 tháng 10 năm 2006, Google công bố họ đã mua lại Jotspot, một nhà phát triển của công nghệ wiki cho các website cộng đồng.

Ngày 13 tháng 4 năm 2007, Google đạt được thỏa thuận mua lại DoubleClick. Google đã đồng ý mua lại công ty này với giá 3,2 tỷ USD.


2.1.4. Sự cộng tác


Năm 2005, Google gia nhập hiệp hội với các công ty và tổ chức chính phủ khác để phát triển phần mềm và dịch vụ. Google công bố mối cộng tác với NASA Ames Reseach Center, xây dựng đến 1 triệu phòng chuyên trách và làm việc trong đề án nghiên cứu bao gồm Quản lý dữ liệu trên diện rộng, công nghệ nano, sắp xếp công việc sử dụng máy tính… Google cũng tham gia cộng tác với Sun Microsystem để chia sẻ và phân loại các công nghệ của nhau. Công ty cũng tham gia cộng tác với American Online của Time Warner để cải tiến dịch vụ video trực tuyến.

Năm 2007, Google và New Corp’s Fox Interactive Media tham gia vào bản hợp đồng trị giá 900 triệu USD để phục vụ tìm kiếm vào quảng cáo trên trang mạng xã hội nổi tiếng, Myspace.





  1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương