Using some high productivity goat to improve productivity of local goat



tải về 180.88 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu25.09.2016
Kích180.88 Kb.
  1   2   3
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ GIỐNG DÊ CAO SẢN ĐỂ CẢI TIẾN DI TRUYỀN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG DÊ ĐỊA PHƯƠNG TẠI TỈNH TRÀ VINH[1]

 

Đinh Văn Cải và Hoàng Thị Ngân[2]



 

USING SOME HIGH PRODUCTIVITY GOAT TO IMPROVE

PRODUCTIVITY OF LOCAL GOAT

 

This study was carried out at Duyen Hai distric, Tra Vinh province which had suitable condition for goat husbandry to improve local productivity of goat.



Pure Bach Thao goat grown and well adapted to Duyen Hai condition. Alive ratio was very high 94.11-100.00% (from birth to 9 month of age). Body weight was 10.9kg (3 month of age), 16.6kg (6 month of age), and 21.5kg (9 month of age). It was higher than body weight of local goat (10.03-15.38%).

Goat male (pure Bach Thao, pure Jumnapari, crossbred between Alpine, Saanen and Bach Thao) and their crossbred would adapt and develope well at Duyen Hai. Body weight of crossbred was 12.5 kg, 18.5kg, and 25.1kg at 3, 6, 9 month of age. It was 23.66-28.45 % higher than body weight of local goat. The body weight of crossbred between Bach Thao, Jumnapari and local goat was higher 28.68-38.78% than local goat. So that Bach Thao and Jumnapari goat should be use to improve productivity of local goat.

 

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua, ngoài việc phát triển chăn nuôi trâu, bò Nhà nước cũng quan tâm đến phát triển chăn nuôi dê. Ngành chăn nuôi dê ngày càng phát triển vì cần ít vốn quay vòng nhanh, tận dụng được lao động và điều kiện tự nhiên ở mọi vùng sinh thái. Tổng đàn dê cừu cả nước tăng từ 572.448 con năm 2001 lên 1.314.189 con năm 2005. Song song với việc gia tăng về số lượng thì chất lượng đàn dê cũng được nâng lên nhờ công tác lai tạo giống.

Từ năm 1994 đến nay nước ta đã nhập một số giống dê từ Ấn Độ (Barbari, Jamunapari, Beetal), từ Pháp, Mỹ, Úc (Saanen, Alpine, Boer) để nhân giống, lai tạo với các giống địa phương và giữa các giống dê ngoại với nhau nhằm tìm ra giống dê cho năng suất thịt, sữa cao và phẩm chất thịt, sữa tốt phục vụ sản xuất, mang lại hiệu quả cho người chăn nuôi. Nhiều nhà Khoa học đã tiến hành nghiên cứu và kết quả như sau:

Lê Văn Thông và cộng sự (1999) đã nghiên cứu dê lai giữa giống Bách Thảo với giống dê cỏ và kết quả cho thấy khối lượng dê cỏ chỉ bằng 67,1- 73,6% so với dê lai và thấp nhất là ở giai đoạn sơ sinh, dê cỏ chỉ bằng 53,3- 61,1% so với dê lai và cao nhất là ở thời kỳ 6 tháng tuổi, dê cỏ bằng 78,9- 79,2% so với dê lai. Tỷ lệ thịt tinh của con lai cao hơn dê cỏ từ 100-150%.

Nguyễn Thị Mai (2000), cho biết mức độ cải tiến về trọng lượng của dê lai Alpine x Bách Thảo và Bách Thảo x (Alpine x Bách Thảo) ở giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi là 41,66 – 50,00% so với dê Bách Thảo. Ưu thế lai của dê (Alpine x Bách Thảo) cao nhất là lúc 9 tháng tuổi (31,20%) và thấp nhất lúc 24 tháng tuổi (5,60%) và dê lai Bách Thảo x (Alpine x Bách Thảo) cao nhất là lúc 3 tháng tuổi (7,30%) và thấp nhất là lúc 6 tháng tuổi (1,40%). Con lai (Alpine x Bách Thảo) cho năng suất sữa cao hơn Bách Thảo là 58,43% và nhóm lai Bách Thảo x (Alpine x Bách Thảo) cao hơn Bách Thảo là 39,33%.

Đậu Văn Hải (2001), cho biết con lai giữa giống Alpine, Saanen với Bách Thảo cho trọng lượng cao hơn dê Bách Thảo thuần từ 5-20% qua các giai đoạn tuổi và sản lượng sữa cũng cao hơn dê Bách Thảo từ 30-60% qua các tháng cho sữa trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng như nhau.

Lê Văn Thông (2005) thông báo rằng, dê lai F1 giữa giống Bách Thảo với dê cỏ thể hiện ưu thế lai rõ rệt về tầm vóc, khối lượng, khả năng sinh trưởng cao hơn dê cỏ. Khối lượng dê lai F1 bằng 128,58% so với dê cỏ và bằng 82,65% dê Bách Thảo. Ưu thế lai về khối lượng tăng dần từ sơ sinh (8,78%) đến 36 tháng tuổi (43,23%).

Con lai F1 (Boer x Bách Thảo) lúc 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng tuổi có trọng lượng tương ứng là: 15,88 – 16,75kg; 22,87 – 24,25 kg; 28,55 – 30,12 kg; 44,12 – 47,33 kg (Đậu Văn Hải, 2006).

Chăn nuôi dê đã và đang phát triển rất mạnh trong cả nước nói chung và khu vực miền Nam nói riêng. Giá dê thịt trên thị trường tăng cao từ 15.000 đồng/kg (1998-1999) lên 23.000 – 25.000 đồng/kg thịt hơi (2006) cũng có thời điểm đạt 30.000 – 33.000 đồng/kg, và giá dê giống Bách thảo, dê lai ngoại (Alpine, Saanen) vào thời điểm này là từ 70.000-100.000 đồng/kg có khi lên tới 250.000 đồng/kg. Bởi vậy, chăn nuôi dê đã thật sự mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.

Duyên Hải là một huyện miền biển thuộc tỉnh Trà Vinh có điều kiện thuận lợi cho phát triển cho chăn nuôi dê. Song phần lớn tại địa phương đều là giống dê cỏ thích nghi tốt nhưng cho năng suất thấp, chất lượng không cao. Ngoài ra người dân chưa hiểu biết nhiều về kỹ thuật nuôi dê: con giống, thị trường … nên việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi (nhất là con dê) và đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp gặp nhiều khó khăn.

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, được sự đồng ý của UBND Tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Trà Vinh đề tài: “Nghiên cứu sử dụng một số giống dê cao sản để cải tiến di truyền và năng suất dê địa phương tại tỉnh Trà Vinh” đã được triển khai nhằm mục tiêu: Tạo đàn dê giống và đàn dê lai (489 con) có trọng lượng cao hơn đàn dê địa phương từ 10-20% thích nghi tốt với điều kiện nuôi dưỡng tại địa phương .


2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Đề tài được tiến hành từ tháng 9/2004 đến tháng 8/2006.

Địa điểm: Tại 7 xã và thị trấn của huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh với các điều kiện như sau:

Khí hậu: mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa phân biệt rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4.

Nhiệt độ trung bình 25-280C, thấp nhất 24,60C (tháng12), cao nhất 310C (tháng 4).

Lượng mưa: Trung bình 1.850mm, chủ yếu tập trung từ tháng 5 đến tháng 11.

Độ ẩm: Trung bình 80,50%, thấp nhất 75,0% (tháng 3), cao nhất 90,0% (tháng 9).
2.2 Đối tượng nghiên cứu

-          Đàn dê Bách thảo thuần: Nuôi thích nghi dê Bách Thảo thuần với (6 dê cái và 2 dê đực)/2 điểm.

- Đàn dê đực giống: 14 dê đực giống (không tính 2 đực giống Bách thảo) Trong đó: Bách thảo thuần, Jumnapari thuần, dê lai (Boer x Bách thảo) và dê lai 3 máu giữa giống Saanen, Alpine với Bách thảo. Dê giống khi chuyển giao đối với dê cái là dê tơ chuẩn bị phối giống lần đầu, trọng lượng bình quân 23-26 kg (n=6), dê đực là 35-50 kg (n=16) với độ tuổi 9-12 tháng tuổi.

- Dê đực giống lai có tỷ lệ máu lai trên 75% máu ngoại.

- Dê giống đã được chọn lọc thông qua việc đánh giá bố mẹ tốt và chọn cá thể trên cơ sở đánh giá ngoại hình thể chất, khả năng tăng trọng, khả năng chống chịu bệnh tật, kiểm tra phẩm chất tinh dịch và khả năng phối giống (nhảy trực tiếp).

Số lượng dê đực cái Bách thảo và dê đực giống được sinh ra tại Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyên Chăn nuôi Gia súc lớn có lý lịch rõ ràng, thực hiện tốt quy trình phòng bệnh truyền nhiễm (lở mồm long móng và tụ huyết trùng). 

- Đàn dê con sinh ra từ đàn Bách thảo và do đàn dê đực giống giao phối với dê cái địa phương tạo ra.

- Đàn dê hiện có tại địa phương.


2.3 Phương thức nuôi dưỡng

Dê được nuôi theo phương thức bán thâm canh. Thời gian chăn thả từ 4-6 giờ/ngày, về chuồng bổ sung thức ăn với khẩu phần như sau:

 

Bảng 1a. Khẩu phần bổ sung tại chuồng cho đàn cái sinh sản



Giai đoạn

Ngày

ME

(Mcal)


Cỏ, lá cây

kg (50%)


Cám hỗn hợp (g/ngày)

Nuôi con

75

3,2

3,0

500

Cạn sữa

125

2,0

3,0

0

Trước khi sanh

28

2,3

3,0

100

 

Bảng 1b.Khẩu phần bổ sung tại chuồng cho dê con bú sữa



Tháng tuổi

Tăng trọng

g/ngày


Kg

Sữa

ml/ngày


Cỏ, lá

(kg/ngày)



Cám hỗn hợp

g/ngày


1

100

4,72

500

Tập

50

2

110

8,02

650

Ăn

100

3

102

11,08

350

cỏ

150

  

Bảng 1c. Khẩu phần bổ sung tại chuồng cho đàn dê tơ



Tháng tuổi

Tăng trọng

g/ngày


Trọng lượng kg

ME

Mcal


Cỏ, lá

kg (50%)


Cám hỗn hợp g/ngày

4

86

13,66

1,6

1,5

260

5

86

16,24

1,7

2,0

170

6

86

18,82

1,9

2,3

150

7

55

20,47

1,9

2,4

130

8

55

22,12

2,0

3,0

 

9

55

23,77

2,1

3,3

 

10

54

25,39

2,2

3,3

 

11

54

27,01

2,2

3,3

 

12

50

28,51

2,3

3,5

 


2.4 Nội dung, qui mô và phương pháp

2.4.1 Điều tra khảo sát

-          Vị trí địa lý và tình hình sản xuất nông nghiệp tại Huyện Duyên Hải

-          Biết được cơ bản về tình hình chăn nuôi gia súc (trâu, bò, dê) tại địa phương từ đó chọn điểm nghiên cứu

o       Biến động đàn gia súc.

o       Phần chăn nuôi dê (con giống, phương thức và kỹ thuật chăn nuôi, phòng và trị bệnh cho dê).

-          Phương pháp: số liệu thứ cấp điều tra tại UBND huyện Duyên Hải, số liệu sơ cấp phỏng vấn trực tiếp tại nông hộ (50 hộ đại diện) bằng phiếu điều tra.



2.4.2 Một số chỉ tiêu kỹ thuật của điểm nghiên cứu lai tạo giống

-          Diễn biến về trọng lượng của đàn dê Bách thảo thuần

-          Khả năng sinh sản của đàn dê Bách thảo.

-          Tỷ lệ phối giống đậu thai của đàn dê đực giống.

-          Khả năng sinh trưởng và phát triển của đàn dê con sinh ra từ Bách thảo và đàn dê con sinh ra do các đực giống phối với đàn dê cái địa phương.

Phương pháp: lập phiếu theo dõi cá thể về khả năng tăng trọng, khả năng sinh sản, tình hình bệnh tật….Cân dê hàng tháng bằng cân đồng hồ.
2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh vật học trên máy vi tính (chương trình Minitab 10.2 for windows).


3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều tra khảo sát

3.1.1 Vị trí địa lý và tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Duyên Hải

Vị trí địa lý: Duyên Hải, là huyện tận cùng phía Nam của tỉnh, phía Bắc giáp huyện Cầu Ngang, phía Đông và Nam giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Trà Cú và tỉnh Sóc Trăng. Toàn huyện có 9 xã và 1 thị trấn với 55 km bờ biển và 12 km cửa sông nên có điều kiện thuận lợi về nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản.

Tình hình sản xuất nông nghiệp

Tổng diện tích gieo trồng hàng năm 31.500 ha. Trong đó diện tích lúa màu xen canh chiếm 58,06%; còn lại là diện tích trồng cây thực phẩm, cây ngắn ngày (bắp, sắn …). Diện tích trồng cây lâu năm và cây công nghiệp không đáng kể. Diện tích đất rừng 5.500ha. Diện tích nuôi trồng thủy sản 15.000ha, đây ngành kinh tế mũi nhọn của huyện.

Tổng đàn gia súc: 36.740 con (trâu: 235con, bò: 10.040 con, dê 14.647 con và heo: 11.818 con) và đàn gia cầm là 79.473 con.

Với đặc điểm trên việc phát triển chăn nuôi gia súc nói chung và nuôi dê nói riêng để tận dụng tối đa tiềm năng hiện có tại địa phương, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao hiệu qủa, tăng thu nhập cải thiện đời sống cho nông hộ là một vấn đề cần thiết.

3.1.2        Tình hình chăn nuôi gia súc và nuôi dê tại Duyên Hải

3.1.2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm

a/ Diễn biến về số lượng chăn nuôi gia súc gia cầm
Bảng 2.Biến động số lượng gia súc, gia cầm

Tt

Loại gia súc

Đơn vị tính

Năm 2004

Năm 2006

% tăng

1

Trâu

con

139

235

69,04

2



con

7.345

10.004

36,20

3



con

10.131

14.647

44,57

4

Heo

con

17.145

11.818

-68,92

5

Gia cầm

con

289.883

79.473

-174,20

Kết quả bảng 2 cho thấy, số lượng gia cầm ở Duyên Hải năm 2006 giảm mạnh (174,20%) do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm năm 2004 và 2005. Đàn heo giảm 31,07%, trong khi đó đàn bò tăng 36,20% và đàn dê tăng 44,57%. Tuy trong năm 2006 có xảy ra dịch lở mồm long móng nhưng đàn dê, đàn bò vẫn tăng về số lượng. Điều này cho thấy chăn nuôi bò và dê phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

b/ Tình hình chăn nuôi dê
Bảng 3. Cơ cấu giống dê

Tt

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Năm 2004

8/2006

1

Dê cỏ

%

60,75

47,30

2

Bách thảo

%

18,00

21,25

3

Dê lai các loại

%

21,25

31,45

Năm 2004 tỷ lệ dê cỏ chiếm rất cao trong tổng đàn (60,75%), dê Bách thảo 18,0% và dê lai các loại chỉ chiếm 21,25%. Tháng 8/2006 thì tỷ lệ đàn dê Bách thảo đã tăng lên chiếm 21,25% và dê lai các loại là 31,25%. Tỷ lệ và số lượng dê lai tăng lên một phần là do số dê lai được sinh ra từ các dê đực giống của đề tài, một số khác được sinh ra từ một số đực giống mà các nông hộ tự mua từ nơi khác về. Nhìn chung số dê lai sinh ra thích nghi và phát triển tốt, phù hợp với thị hiếu của nhiều nông hộ chăn nuôi trong huyện. Điều này cũng được khẳng định thông qua số hộ chăn nuôi dê lai ngày càng nhiều, đồng thời số lượng dê cái giống địa phương (giống dê cỏ) cũng ngày được tăng lên. Cụ thể năm 2004 có 6155 con và tháng 8/2006 là 6928 con, số dê cái này làm nền cho việc tạo giống dê lai.

 

Bảng 4. Trọng lượng và chỉ tiêu sinh sản của đàn dê địa phương năm 2004



Tt

Chỉ tiêu

ĐVT

N

X±SE

1

Trọng lượng sơ sinh

kg

17

1,75 ± 0,38

2

Trọng lượng 3 tháng tuổi

kg

25

9,50 ± 0,68

3

Trọng lượng 6 tháng tuổi

kg

20

14,50 ± 0,76

4

Trọng lượng trưởng thành

kg

186

30,50 ± 0,88

5

Tuổi đẻ lần đầu

tháng

50

12,50 ± 1,60

6

Khoảng cách lứa đẻ

tháng

50

6,50 ± 0,80

Số liệu ở bảng 4 được tính trung bình cho tất cả các nhóm dê hiện có tại địa phương. Trọng lượng sơ sinh và trọng lượng trưởng thành của đàn dê địa phương không cao, tương ứng 1,75 kg và 30,50 kg. Tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ lần lượt là 12,5 tháng và 6,5 tháng. Theo kết quả của Lê Văn Thông (2005) thì tuổi đẻ lứa đầu của dê Bách thảo và dê cỏ lần lượt là 366,3 ngày và 356,4 ngày.

Kết quả bảng 5 cho thấy:

Phương thức chăn nuôi: năm 2004, nuôi theo kiểu quảng canh chủ yếu tận dụng đồng bãi chăn thả tự nhiên (chiếm 64,0%), điều này cũng phù hợp vì lúc bấy giờ phần lớn là giống dê cỏ (60,75%). Nhưng đến tháng 8/2006 số lượng dê Bách thảo và dê lai trong đàn đã tăng lên (62,70%).

Bổ sung thức ăn tại chuồng: khi đề tài bắt đầu triển khai, phần lớn các nông hộ chăn nuôi giống dê cỏ, nên việc bổ sung thức ăn tại chuồng ít được quan tâm. Số hộ bổ sung thức ăn tại chuồng bằng cỏ trồng chỉ chiếm 8,0% các loại lá cây tự nhiên 36,0% chủ yếu các hộ nuôi dê Bách thảo. Hầu hết các nông hộ không bổ sung đá liếm tại chuồng mà chỉ bổ sung muối 34,0% (treo trên chuồng, dê liếm tự do). Trong quá trình thực hiện và khi kết thúc đề tài số lượng dê Bách thảo và dê lai đã tăng lên đáng kể. Do đó việc bổ sung thức ăn tại chuồng cũng đã được các nông hộ quan tâm hơn, nhiều hộ đã sử dụng đá liếm, các giống cỏ trồng và các loại thức ăn khác bổ sung tại chuồng, vì vậy đã góp phần vào việc nâng cao năng suất và chất lượng đàn dê.

Vệ sinh chuồng trại: là việc làm cần phải được tiến hành thường xuyên, nhằm góp phần nâng cao sức khỏe của đàn dê nhưng cũng chưa được các nông hộ quan tâm. Theo kết quả điều tra bảng 5 cho thấy: việc dọn vệ sinh chuồng nuôi theo định kì hàng ngày và hàng tuần rất ít được các nông hộ thực hiện chỉ chiếm 16,0%; thường thì hàng tháng hoặc lâu hơn nữa (84,0%) các nông hộ mới dọn vệ sinh chuồng trại, vì vậy đã ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sản xuất của đàn dê.


Bảng 5. Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và chuồng trại

Tt

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

2004

8/2006

1

Phương thức chăn nuôi

 

 

 

 

- Thâm canh

%

0

0

 

- Bán thâm canh

%

36,0

82,0

 

- Quảng canh

%

64,0

18,0

2

Bổ sung thức ăn tại chuồng

 

 

 

 

- Cám lau, bắp, khoai, sắn ...

%

0

48,0

 

- Cỏ trồng

%

8,0

86,0

 

- Các loại cây, cỏ khác

%

36,0

68,0

 

- Đá liếm

%

0

34,0

 

- Muối

%

34,0

90,0

 

- Nước uống tại chuồng

%

16,0

78,0

3

Vệ sinh, phòng bệnh

 

 

 

3.1

Vệ sinh chuồng trại

 

 

 

 

- Hàng ngày

%

0

24,0

 

- Hàng tuần

%

16,0

36,0

 

- Hàng tháng

%

20,0

24,0

 

- Sau hơn1 tháng

%

64,0

16,0

3.2

Phòng bệnh truyền nhiễm (lở mồm long móng và tụ huyết trùng)

%

10,0

60,0

4

Chuồng trại

 

 

 

 

- Có sàn chuồng

%

88,0

98,0

 

- Không sàn

%

12,0

2,0

 

- Có máng ăn tại chuồng

%

86,0

96,0

 

- Không có máng ăn

%

14,0

4,0

 

- Có che chắn xung quanh

%

44,0

88,0

 

- Không che chắn xung quanh

%

56,0

12,0

Công tác phòng trị bệnh cho dê ngày càng được các nông hộ quan tâm thực hiện. Từ năm 2004 đến tháng 8/2006 tỷ lệ tiêm phòng đàn dê của các nộng hộ tăng lên đáng kể từ 10,0 % – 60,0% . Điều này cho thấy người chăn nuôi đã dần dần có ý thức trong việc phòng bệnh cho đàn dê.

Kỹ thuật chuồng trại: trong chăn nuôi dê ngoài con giống, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho dê thì việc xây dựng chuồng trại hợp lí sẽ góp phần nâng cao năng suất và chất lượng đàn dê.

ü      Dê là loài vật nuôi thích sạch sẽ, thích khô ráo nên chuồng nuôi dê cần phải có sàn, các nông hộ cũng đã làm chuồng có sàn cho dê và tỷ lệ này cũng được nâng lên từ 88,0% (2004) đến 98,0% (2006).

ü      Điều kiện thoáng mát trong chuồng nuôi là rất cần thiết. Tuy nhiên con dê rất mẫn cảm với sự thay đổi của thời tiết và không phù hợp với khí hậu ẩm ướt. Vì vậy, xung quanh chuồng dê cần phải được che chắn cẩn thận. Năm 2004 tỷ lệ số nông hộ làm chuồng dê có che chắn xung quanh chỉ chiếm 44,0% nhưng đến tháng 6/2006 tỷ lệ này đã tăng lên gấp đôi 88,0%.

Trong chuồng nuôi, việc làm máng ăn cho dê cũng được các nông hộ quan tâm, tỷ lệ số chuồng có máng ăn ngày càng tăng từ 86,0% (2004) đến 96,0% (2006).

  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương