Ubnd tỉnh đỒng nai ban dân tộc cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 204.31 Kb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích204.31 Kb.
1   2   3

6. Văn phòng Miền núi và Dân tộc (1990 – 1992)

Ðể tăng cường sự chỉ đạo, điều hành của Hội đồng Bộ trưởng đối với công tác miền núi và dân tộc, ngày 11/5/1990, thay mặt Hội đồng Bộ trưởng - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt đã ký Quyết định số 147-CTHĐ thành lập Văn phòng miền núi và Dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chỉ đạo công tác miền núi và dân tộc với các nhiệm vụ và quyền hạn: Theo dõi đôn đốc, kiểm tra các ngành, các cấp trong việc thực hiện các quyết định của Đảng và Nhà nước về những chủ trương, chính sách đối với miền núi và dân tộc. Phối hợp với các Ban của Đảng, các Bộ, ngành nghiên cứu hoặc chủ trì nghiên cứu đề xuất các chủ trương, chính sách, luật pháp về miền núi và dân tộc, để Hội đồng Bộ trưởng xem xét quyết định hoặc trình Hội đồng Nhà nước quyết định. Tham gia với các Bộ, ngành, địa phương về việc quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp cán bộ chủ chốt là người dân tộc làm công tác chính quyền. Thực hiện quan hệ với nước ngoài về vấn đề dân tộc. Yêu cầu các Bộ, ủy ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để bàn những vấn đề miền núi và dân tộc. Mời các Bộ, ủy ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để bàn về những vấn đề miền núi và dân tộc. Kiểm tra các Bộ, ủy ban nhà nước, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách đối với miền núi và dân tộc; kiến nghị với cơ quan được kiểm tra thi hành các biện pháp cần thiết hoặc sửa chữa những việc sai trái (nếu có) nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách đối với miền núi và dân tộc. Văn phòng Miền núi và Dân tộc do đồng chí Bộ trưởng chuyên trách công tác miền núi và dân tộc trực tiếp làm Chủ nhiệm. Văn phòng có 1 đến 2 Phó Chủ nhiệm, bộ máy làm việc gồm có một số tổ chuyên viên, được sử dụng con dấu và có ngân sách riêng. Trụ sở của Văn phòng Miền núi và Dân tộc đặt tại 80 Phan Đình Phùng, Hà Nội (trụ sở ủy ban Dân tộc của Chính phủ trước đây và hiện nay).



Đồng chí Hoàng Đức Nghi là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Miền núi và Dân tộc từ năm 1990 – 1992.

  7. Ủy ban Dân tộc và Miền núi (1992-2003)

      Năm 1992, Bộ Chính trị quyết định hợp nhất hai cơ quan Ban Dân tộc Trung ương và Văn phòng Miền núi và Dân tộc để xây dựng thành cơ quan Ủy ban Dân tộc và Miền núi. Lập Ban Cán sự Đảng Ủy ban Dân tộc và Miền núi làm nhiệm vụ tham mưu cho Đảng về công tác dân tộc và miền núi (Thông báo số 33/TB-TW ngày 5-10-1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng). Ngày 20-2-1993, Chính phủ ra Nghị định số 11/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi: Uỷ ban Dân tộc và Miền núi là cơ quan của Chính phủ, có chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi trong phạm vi cả nước, đồng thời là cơ quan tham mưu cho Trung ương Đảng và Chính phủ về chính sách chung và chính sách cụ thể đối với miền núi có các dân tộc thiểu số với tổ chức bộ máy gồm có: Văn phòng, Vụ Tổng hợp, Vụ Chính sách Dân tộc và Miền núi, Vụ Tổ chức - Cán bộ, Vụ Hợp tác Quốc tế và Cục Định canh định cư (Được tổ chức trên cơ sở Ban Định canh định cư từ Bộ Lâm nghiệp chuyển sang). Năm 1995, theo Quyết định số 820/TTg ngày 15-12-1995 của Thủ tướng Chính phủ: Chuyển Cục Định canh định cư từ Uỷ ban Dân tộc và Miền núi sang Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Cơ quan đặc trách về công tác dân tộc Khmer Nam bộ được thành lập trên cơ sở chuyển Phân ban Dân tộc Nam bộ (thuộc Ban Dân tộc Trung ương trước đây) theo Quyết định số 456/TTg, ngày 7-9-1993 của Thủ tướng Chính phủ.

Để thực hiện chức năng vừa là cơ quan quản lý nhà nước, vừa làm tham mưu cho Trung ương Đảng về các lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi, ngày 5-6-1998 Ban Tổ chức Trung ương có Công văn số 657/TC-TW thông báo ý kiến của Thường vụ Bộ Chính trị bổ sung một số quy định về nhiệm vụ; Uỷ ban Dân tộc và Miền núi tiếp tục được kiện toàn về tổ chức theo Nghị định số 59/1998/NĐ-CP ngày 13-8-1998 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi: Uỷ ban Dân tộc và Miền núi là Cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi trong phạm vi cả nước, đồng thời là cơ quan tham mưu cho Trung ương Đảng về chủ trương, chính sách đối với các dân tộc thiểu số và miền núi. Sau đó, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định tại Nghị định số 15/CP ngày 2-3-1993 của Chính phủ gồm: Các tổ chức giúp Bộ trưởng- Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc và Miền núi thực hiện chức năng quản lý nhà nước: Vụ Chính sách Dân tộc, Vụ Chính sách Miền núi, Vụ Tổng hợp, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Tổ chức – Cán bộ, Vụ Pháp chế, Thanh tra, Văn phòng, Cơ quan đặc trách công tác dân tộc ở Nam Bộ (tại Cần Thơ). Các Tổ chức sự nghiệp trực thuộc Uỷ ban: Viện Nghiên cứu Chính sách Dân tộc và Miền núi, Tạp chí Dân tộc và Miền núi, Trung tâm Bồi dưỡng Cán bộ Dân tộc, Trung tâm Thông tin và Tư liệu. Tổ chức Bộ máy giúp Uỷ ban nhân dân địa phương quản lý nhà nước về công tác dân tộc và miền núi do Uỷ ban nhân dân địa phương, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi và Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ trình Chính phủ quyết định.

Từ năm 1992 – 2002, đồng chí Hoàng Đức Nghi là Bộ Trưởng, chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc và Miền núi.

8. Ủy ban Dân tộc (2002 - Hiện nay)

Năm 2002, theo Nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 5-8-2002, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi trở lại với tên gọi ỦY BAN DÂN TỘC như từ năm 1959 - 1987. Ngày 16-5-2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 51/2003/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân tộc: Uỷ ban Dân tộc là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc Uỷ ban quản lý theo quy định của pháp luật.

Uỷ ban Dân tộc có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05-11-2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ. Các tổ chức giúp Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban thực hiện chức năng quản lý Nhà nước: Vụ Chính sách Dân tộc, Vụ Công tác dân tộc Tây Bắc (gọi tắt là Vụ Địa phương I), nay là cơ quan Thường trực khu vực Tây Bắc, Vụ Công tác dân tộc Tây Nguyên (gọi tắt là Vụ Địa phương II), nay là cơ quan Thường trực khu vực Tây Nguyên, Vụ Công tác dân tộc đồng bằng sông Cửu Long (gọi tắt là Vụ Địa phương III), nay là cơ quan Thường trực khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Vụ Tuyên truyền, Vụ Pháp chế, Vụ Kế hoạch – Tài chính, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Tổ chức Cán bộ, Thanh tra, Văn phòng. Các tổ chức sự nghiệp thuộc Uỷ ban: Viện Dân tộc, Trường Đào tạo nghiệp vụ công tác dân tộc, Trung tâm Tin học, Tạp chí Dân tộc, Báo Dân tộc và Phát triển.

Từ năm 2002 – 2007, đồng chí Ksor Phước là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc.

Hệ thống cơ quan công tác dân tộc tại địa phương được quy định tại Nghị định số 53/2004/NĐ-CP ngày 18-2-2004 về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (khoá IX) về công tác dân tộc, theo nguyên tắc: Tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Phù hợp với nhiệm vụ, khối lượng công việc và yêu cầu thực tiễn ở địa phương về công tác dân tộc. Tinh gọn, hiệu quả; tổ chức sở, ban, phòng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực phù hợp với chủ trương cải cách hành chính. Tiêu chí và mô hình tổ chức làm công tác dân tộc ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Thành lập Ban Dân tộc là cơ quan tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc, có con dấu, tài khoản riêng khi có ít nhất một trong ba tiêu chí sau: Có trên 20.000 người dân tộc thiểu số sống tập trung thành cộng đồng làng, bản; Có dưới 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Thành lập Phòng Dân tộc thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện khi có một trong hai tiêu chí: Có ít nhất 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại.

Từ năm 2007 đến nay, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc là đồng chí Giàng Seo Phử. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc được quy định tại Nghị định số 60/2008/NĐ-CP ngày 9/5/2008 của Chính phủ. Cơ cấu tổ chức bao gồm: Vụ Kế hoạch – Tài chính, Vụ tổ chức cán bộ, Vụ Pháp chế, Vụ Hợp tác quốc tế, Thanh tra, Văn phòng, Vụ Tổng hợp, Vụ chính sách dân tộc, Vụ Tuyên truyền, Vụ Địa phương I, Vụ Địa phương II, Vụ Địa phương III, Viện Dân tộc, Trường Cán bộ Dân tộc, Trung tâm thông tin, Báo dân tộc, Báo Dân tộc và Phát triển. Hệ thống tổ chức bộ máy cơ quan công tác dân tộc được kiện toàn với 52 cơ quan (Ban Dân tộc) cấp tỉnh (49 tỉnh và 3 thành phố trực thuộc Trung ương).

Như vậy, từ Nha Dân tộc thiểu số đến Ủy ban Dân tộc hôm nay - một chặng đường 70 năm lịch sử - Cơ quan công tác dân tộc với nhiều tên gọi khác nhau, nhưng đều có chức năng nhiệm vụ chủ yếu là tham mưu cho Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, nghiên cứu đề xuất xây dựng chính sách dân tộc và tổ chức thực hiện công tác dân tộc trên phạm vi cả nước. Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1491/QĐ-TTg ngày 14/10/2008, lấy ngày 03 tháng 5 hàng năm là Ngày truyền thống của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc”. Hiện nay công tác dân tộc thực hiện trên cơ sở Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc.

      II. Một số kết quả đạt được trong quá trình hoạt động của cơ quan công tác dân tộc Trung ương:



1. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cơ quan Công tác dân tộc đã góp phần thực hiện tốt chính sách dân tộc, động viên đồng bào các dân tộc tham gia kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.

Trong những năm đầu kháng chiến nhiều vùng dân tộc, miền núi còn nằm trong vòng kiểm soát, khống chế của địch. ý thức cách mạng của đồng bào còn hạn chế, mâu thuẫn dân tộc và tư tưởng kì thị dân tộc còn nặng nề, đời sống nhân dân ở nhiều vùng rất khó khăn, giao thông chưa phát triển; cơ sở chính trị ở nhiều nơi còn mỏng yếu, cán bộ cốt cán thiếu nghiêm trọng... Trong khi đó, âm mưu, thủ đoạn của địch rất thâm độc, chúng tăng cường càn quét, khủng bố, đe doạ, dụ dỗ, mua chuộc đồng bào, sử dụng bọn phản động trong các dân tộc làm tay sai, dựng lên các khu tự trị giả hiệu (xứ Nùng, xứ Thái, xứ Mường, xứ Tây kỳ tự trị...) để lừa gạt nhân dân, chia rẽ dân tộc, làm suy yếu lực lượng kháng chiến của ta.

Nhận rõ vị trí quan trọng và ý nghĩa chiến lược của công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số tham gia kháng chiến, Cơ quan công tác Dân tộc đã đi sâu nghiên cứu, nắm sát tình hình ở các vùng dân tộc miền núi để tham mưu cho Trung ương Đảng, Chính phủ và cấp uỷ, chính quyền địa phương có chủ trương, chính sách và biện pháp giải quyết đúng đắn, kịp thời và phù hợp với đặc điểm dân tộc. Mặt khác, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc về chính sách đoàn kết kháng chiến cứu nước của Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của địch. Mở trường, lớp đào tạo cán bộ cốt cán để đưa lên các vùng dân tộc miền núi xây dựng cơ sở. Vận động đồng bào đẩy mạnh sản xuất cải thiện đời sống và tổ chức tiếp tế gạo, muối, nông cụ, thuốc men, vải mặc... cho các vùng bị thiếu đói, giúp đỡ các gia đình có công vối cách mạng. Mở các lớp dạy học để xoá mù chữ cho dân; xây dựng chính quyền nhân dân (có đủ các thành phần dân tộc và các tầng lớp nhân dân tham gia) để kháng chiến lâu dài.

Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, đồng bào các dân tộc thiểu số đã cùng nhân dân cả nước nhất tề đứng dậy để bảo vệ Tổ quốc.

Chiến khu Việt Bắc trở thành thủ đô của kháng chiến chống Pháp. Từ Việt Bắc lan toả theo núi rừng, các chiến khu, các căn cứ địa của các chiến khu, các tỉnh lần lượt được hình thành từ Bắc chí Nam. Các chiến khu đó đều là nơi sinh tụ của đồng bào các dân tộc thiểu số, cán bộ, bộ đội và các lực lượng kháng chiến đã được đồng bào ta che chở, bảo vệ, nuôi nấng thấm đượm tình cá nước. Hồ Chí Minh đã viết: “Lòng yêu nước của đồng bào ta nhập với tình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch”. Đó là sức mạnh của lòng dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết thống nhất các dân tộc.

Cùng với việc hình thành các chiến khu, lực lượng dân quân du kích, bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng lớn mạnh. Hàng vạn thanh niên dân tộc thiểu số đã hăng hái gia nhập bộ đội chiến đấu trên các chiến trường.

Những chiến dịch lớn, những chiến thắng lịch sử có tính quyết định hầu hết diễn ra ở vùng dân tộc miền núi; chiến dịch nào cũng có sự đóng góp to lớn của đồng bào các dân tộc. Chiến dịch Bắc Tây Nguyên và Bắc Quảng Nam (1949), chiến dịch Biên Giới (1950), chiến dịch Đông Xuân ở Liên khu 5, chiến dịch Hoà Bình, Tây Bắc (1952-1953), chiến dịch Đông Xuân (1953-1954) với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, chấn động địa cầu; các chiến thắng ấp Bắc, Núi Thành, Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào, đặc biệt chiến thắng Buôn Ma Thuột (3/1975), mở màn chiến dịch Tây Nguyên (3/1975) đã tạo ra thời cơ chiến lược để kết thúc cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc.

Phối hợp với chiến trường, các dân tộc thiểu số đã cùng đồng bào miền Nam tiến hành đấu tranh chính trị đòi tự do dân chủ, chống đàn áp, khủng bố, phá ấp chiến lược và làm tan rã hàng vạn quân địch.

Ở miền Bắc, với tình cảm “miền Nam là máu của máu Việt Nam”, cùng nhân dân cả nước, các dân tộc thiểu số đã dồn hết sức người, sức của cho tiền tuyến; vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Khi đế quốc Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc hòng chặn đứng sự chi viện cho miền Nam, lực lượng dân quân tự vệ các tỉnh miền núi đã cùng lực lượng vũ trang bắn rơi hàng trăm máy bay của địch, góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mĩ. Những đóng góp của quân dân các dân tộc thiểu số cùng quân dân cả nước đã đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đồng bào các dân tộc thiểu số còn giữ một vị trí cực kì quan trọng trên mặt trận bảo vệ an ninh Tổ quốc ở vùng biên giới. Lợi dụng địa hình núi rừng hiểm trở, đời sống đồng bào còn nhiều khó khăn, các thế lực thù địch đã tiến hành nhiều âm mưu, thủ đoạn phá hoại cách mạng nước ta. Từ những hoạt động gây chia rẽ trong các dân tộc, gieo rắc hoang mang, hoài nghi cách mạng, tung gián điệp, biệt kích, thám báo, sử dụng các tổ chức phản động Fulro, Đảng Khăn trắng, Khơme Sorây... đến việc thực hiện kế hoạch hậu chiến: phá hoại, bạo loạn... của chúng đều bị thất bại.



2. Thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ tham mưu đề xuất các chủ trương, chính sách lớn về lĩnh vực dân tộc, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi.

Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo cơ quan công tác dân tộc các nhiệm kỳ đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho Trung ương Đảng, Chính phủ về chủ trương chính sách dân tộc, chủ động đề xuất với Trung ương Đảng nhiều nội dung quan trọng, đúng đắn và kịp thời giải quyết vấn đề dân tộc thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Trung ương Đảng và Chính phủ, nhất là trong thời kỳ đổi mới.

Từ thực tiễn tổ chức, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc, trọng tâm là thực hiện nội dung Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định 72/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi; Ban Cán sự Đảng Uỷ ban Dân tộc và Miền núi đã tham mưu cho Ban Bí thư, Bộ Chính trị tổng kết, sơ kết, ban hành nhiều chỉ thị, quyết định nhằm tập trung giải quyết một số vấn đề bức xúc đang đặt ra ở vùng dân tộc Mông, vùng đồng bào Khmer; tổng kết thực hiện Thông tri 03-TT/TW về công tác đối với vùng đồng bào Chăm; ban hành các Nghị quyết của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng các vùng Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh miền núi phía Bắc…

Trước những đòi hỏi của sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc theo đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng, Bộ Chính trị (Khoá IX) giao Ban Cán sự Đảng Uỷ ban Dân tộc chủ trì, chuẩn bị nội dung và hoàn thiện Đề án về công tác dân tộc. Trên cơ sở đề ỏn, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 đã ban hành Nghị quyết số 24/NQ-TW, ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc. Đây là lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết chuyên đề về công tác dân tộc. Nghị quyết đã đánh giá những thành tựu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách dân tộc và công tác dân tộc sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, chỉ ra những hạn chế yếu kém trong tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; nêu rõ những quan điểm cơ bản, mục tiêu, nội dung nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách; một số giải pháp chủ yếu của công tác dân tộc trong tình hình mới. Nghị quyết phát triển và hoàn thiện những chủ trương, chính sách lớn về phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc và miền núi được đề ra từ Nghị quyết số 22- NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị.

Sau 5 năm thực hiện, Ban cán sự Đảng Uỷ ban Dân tộc đã tham mưu và chuẩn bị các nội dung của Ban Chỉ đạo Trung ương, giúp Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 về Cụng tác dân tộc và Bộ Chính trị có kết luận số 57-KL/TW, ngày 03 tháng 11 năm 2009 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX) và đưa ra những nhiệm vụ giải pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết trong thời gian tới.

Uỷ ban Dân tộc đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ban ngành Trung ương và các địa phương xây dựng Đề án tổ chức Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam trình Ban Bí thư, Bộ Chính trị. Ban Bí thư Trung ương đã ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW, về Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam. Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư và quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban Dân tộc đã chỉ đạo hướng dẫn các địa phương, các bộ, ban ngành, các tổ chức đoàn thể tổ chức Đại hội ở từng cấp (cấp huyện và cấp tỉnh) và tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ nhất. Đại hội đã tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện công tác dân tộc, khẳng định đường lối nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc; tôn vinh và biểu dương công lao đóng góp to lớn của các dân tộc thiểu số đối với thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam.

Dựa trên những định hướng, chủ trương lớn của Đảng, Cơ quan công tác dân tộc đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ban ngành, địa phương tham mưu đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các Nghị định, quyết định, chính sách, các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh vùng dân tộc và miền núi.

Đã chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương vùng dân tộc, miền núi xây dựng tiêu chí xác định và công nhận xã, huyện, tỉnh thuộc miền núi, vùng cao; phân định 3 khu vực theo trình độ phát triển làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc và miền núi. Tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các chỉ thị, quyết định chính sách cụ thể nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế-xã hội và giải quyết kịp thời những vấn đề mới phát sinh ở vùng dân tộc miền núi như: Chỉ thị 525/TTg, về chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc miền núi; Chỉ thị 660/TTg về giải quyết tình trạng di cư tự do đến Tây Nguyên; Nghị định 20/1998/NĐ-CP về phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc; Chỉ thị 393/TTg về quy hoạch sắp xếp dân cư, tăng cường cơ sở hạ tầng vùng dân tộc miền núi.

Từng bước cụ thể hoá các chủ trương chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đối với vùng dân tộc miền núi nhất là những vùng có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội và an ninh quốc phòng. Uỷ ban cùng với các Bộ, ngành tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định kế hoạch, định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội các vùng trọng điểm; phê duyệt các chương trình phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc miền núi như: Quyết định 656-TTg về phát triển Kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên; Quyết định 960-TTg về phát triển kinh tế xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc; Quyết định 743-TTg về kế hoạch tổng thể phòng chống và kiểm soát ma tuý; Quyết định 35-TTg về xây dựng trung tâm cụm xã; Quyết định 135/1998/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135); các quyết định về phát triển kinh tế-xã hội các khu vực trọng điểm Tây Nguyên (Quyết định 168), khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (Quyết định 173), các tỉnh miền núi phía Bắc (Quyết định 186). Đây là những chính sách đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh vùng dân tộc miền núi được triển khai thực hiện trong thời gian qua.

Triển khai tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách theo các quan điểm cơ bản của Nghị quyết Trung ương 7 về Công tác dân tộc, Uỷ ban Dân tộc đã tham mưu xây dựng Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc tại Quyết định số 122/2003/QĐ-TTg. Cụ thể hoá các nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết thành các cơ chế, chính sách, kế hoạch, chương trình dự án cụ thể, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội vùng dân tộc; phân công các bộ ngành, địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ đó.

Uỷ ban Dân tộc đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình 135 giai đoạn II (2006-2010), đề xuất sửa đổi, bổ sung và ban hành các chính sách đặc thù cho vùng dân tộc miền núi: chính sách cấp các loại báo, tạp chí; chính sách hỗ trợ di dân, thực hiện định canh, định cư; chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn...

Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác tham mưu cho Chính phủ ban hành các chính sách đối với vùng dân tộc, Uỷ ban Dân tộc đã tổ chức triển khai thực hiện và tiến hành sơ kết, tổng kết các chương trình, chính sách đã ban hành: Chương trình xây dựng trung tâm cụm xã miền núi, vùng cao; chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn giai đoạn 2006-2010; Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở nhà ở, nước sinh hoạt; Chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư; Chính sách cấp không thu tiền các loại báo, tạp chí; Chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất... làm cơ sở cho việc xây dựng, ban hành các chính sách mới. Triển khai thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ về chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện nghèo. Trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung, sửa đổi một số nội dung chính sách hỗ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn. Tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 1971/CT-TTg, ngày 27 tháng 10 năm 2010 về tăng cường công tác dân tộc thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Uỷ ban Dân tộc đã chủ trì xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 05 /2011/NĐ- CP, ngày 14 tháng 01 năm 2011 về Công tác dân tộc là văn bản pháp lý quan trọng đảm bảo cho các hoạt động của công tác dân tộc nhằm thực hiện sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, tôn trọng và giữ gìn bản sắc văn hoá của các dân tộc; xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.

1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương