UỶ ban nhân dân tỉnh lạng sơn cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 215.83 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu13.06.2018
Kích215.83 Kb.

UỶ BAN NHÂN DÂN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: 426 /BC-UBND

Lạng Sơn, ngày 03 tháng 12 năm 2014

BÁO CÁO


Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014;

mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2015

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2014

Năm 2014, chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản: Kinh tế tiếp tục phát triển, lạm phát được kiểm soát, lãi suất tín dụng, giá cả, thị trường tương đối ổn định; kim ngạch xuất nhập khẩu tăng, kết quả thu ngân sách khá tích cực; các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh được triển khai có hiệu quả, năng lực sản xuất mới tiếp tục được bổ sung,… nhưng cũng phải đối mặt với một số khó khăn: Thiên tai liên tiếp xảy ra gây thiệt hại lớn cho sản xuất và đời sống của nhân dân; tác động của sự kiện Biển Đông; một bộ phận doanh nghiệp vẫn còn lúng túng trong tổ chức sản xuất, kinh doanh; đời sống, việc làm, thu nhập của một bộ phận nhân dân còn khó khăn; an ninh, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp. Ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nghị quyết, quyết định của Trung ương, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, HĐND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; chủ động xử lý những vấn đề phát sinh, tích cực khắc phục thiệt hại do bão gây ra.

Trong tổng số 21 chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội theo các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, có 19 chỉ tiêu thực hiện đạt và vượt kế hoạch; 02 chỉ tiêu không đạt là: Số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế và mức giảm tỷ lệ sinh. Kết quả cụ thể trên các lĩnh vực như sau:

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Về kinh tế

Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá so với năm 2013, ước đạt 9,05%1 (mục tiêu 9%; năm 2013 tăng 8,77%), trong đó ngành nông lâm nghiệp tăng 2,28%, công nghiệp - xây dựng tăng 11,3%, dịch vụ tăng 11,52%. Tỷ trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế là: nông lâm nghiệp chiếm 26,46%, công nghiệp - xây dựng 19,26%, dịch vụ 54,27%. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đầu người đạt 29,3 triệu đồng.

a) Sản xuất nông lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Trong năm, tỉnh đã tập trung chỉ đạo các cấp, ngành và cơ sở chủ động, tích cực trong tổ chức sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, mùa vụ; quản lý chặt chẽ chất lượng giống, vật tư nông nghiệp, phòng chống dịch bệnh, cung ứng dịch vụ, thủy lợi, khuyến nông khuyến lâm. Tuy nhiên, do đầu năm mưa rét kéo dài, độ ẩm cao ảnh hưởng đến tiến độ làm đất, sinh trưởng của cây trồng; bão số 2 và số 3 xảy ra vào thời điểm thu hoạch nên sản lượng một số loại cây trồng giảm so với cùng kỳ.

Tổng diện tích gieo trồng cả năm ước đạt 103,7 nghìn ha, đạt 101% kế hoạch, tương đương cùng kỳ. Tổng sản lượng lương thực ước đạt 309 nghìn tấn, đạt 101,6% kế hoạch, bằng 98,6% cùng kỳ2. Diện tích gieo trồng, sản lượng một số cây có giá trị kinh tế đều đạt kế hoạch và tăng so với cùng kỳ3. Đàn gia súc, gia cầm phát triển tương đối ổn định. Ước hết năm 2014, toàn tỉnh có 123,3 nghìn con trâu, tăng 1,0% so với cùng kỳ; đàn bò 33,2 nghìn con, tăng 3,9%; đàn lợn 366 nghìn con, tăng 5,63%; đàn gia cầm tương đương cùng kỳ. Một số bệnh gia súc, gia cầm được khống chế kịp thời, không để hình thành dịch.

Trồng rừng mới được 10.975 ha đạt 115,5% kế hoạch, bằng 96,7% cùng kỳ4; chăm sóc rừng trồng 11.800 ha, đạt 100% kế hoạch; khoanh nuôi tái sinh rừng 12.000 ha, đạt 106% kế hoạch; khoán bảo vệ rừng 24.310 ha, đạt 101,3% kế hoạch; độ che phủ rừng dự kiến đạt 53,5%; trồng cây ăn quả 574 ha, đạt 164% kế hoạch, tăng 19,6% so với cùng kỳ. Công tác quản lý, bảo vệ rừng được tăng cường, không để xảy ra các điểm nóng, tụ điểm phức tạp5.

Chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục được các cấp, các ngành tập trung thực hiện, nhất là tại 35 xã điểm. Chương trình đã tạo được chuyển biến tích cực về nhận thức của cả hệ thống chính trị và nhân dân, công tác huy động sức dân tham gia xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ; cơ sở hạ tầng về đường giao thông, thuỷ lợi, điện, nhà văn hóa… được cải thiện đáng kể; đã đầu tư 238 công trình hạ tầng với tổng kinh phí 153 tỷ đồng từ ngân sách và nhiều công trình lồng ghép từ các nguồn vốn khác. Triển khai 54 mô hình phát triển sản xuất mới với 1.556 hộ tham gia và một số mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và người dân; đời sống của dân cư nông thôn từng bước được cải thiện, nâng cao. Số lượng tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới của các xã ngày càng tăng. Hoàn thành xây dựng 02 xã: Chi Lăng (huyện Chi Lăng) và Mai Pha (thành phố Lạng Sơn) đạt chuẩn nông thôn mới, có 21 xã đạt 10 tiêu chí trở lên, 88 xã đạt từ 5 - 9 tiêu chí, 96 xã đạt dưới 5 tiêu chí, không có xã trắng tiêu chí.

Các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở đã chủ động triển khai các phương án ứng phó với bão số 2 và số 3, góp phần giảm thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra. Tuy nhiên, do lượng mưa lớn, gây ngập lụt trên diện rộng đã làm thiệt hại lớn về người, nhà cửa, công trình hạ tầng, tài sản, tổng giá trị thiệt hại ước tính 628 tỷ đồng6. Công tác khắc phục hậu quả do bão được chỉ đạo thực hiện tích cực, kịp thời, nhanh chóng khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. UBND tỉnh đã sử dụng ngân sách địa phương, hỗ trợ của Thủ tướng Chính phủ, đóng góp của các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp hỗ trợ kịp thời cho các gia đình bị thiệt hại.

b) Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng khá, thị trường tiêu thụ một số sản phẩm được mở rộng. Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 3.586 tỷ đồng, tăng 14,2% so với năm 20137. Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu tăng so với cùng kỳ: Điện thương phẩm 492 triệu Kwh, tăng 11,6%; xi măng 580 nghìn tấn, tăng 11,5%; Clinker 600 nghìn tấn, tăng 102,7%; nước máy 7.390 nghìn m3, tăng 10,4%; chì thỏi 4.070 tấn, tăng 44,3%; bột đá mài 6.720 tấn, tăng 9,3%; gỗ và các sản phẩm từ gỗ 44.000 m3, tăng 47,7%. Tuy nhiên, còn một số sản phẩm giảm: Than sạch 462 nghìn tấn, giảm 7,2%; đá các loại 2.000 nghìn m3, giảm 3,4%; gạch các loại 140 triệu viên, giảm 6,7%... nguyên nhân là do một số cơ sở công nghiệp lớn đang tập trung sửa chữa, nâng cấp.

c) Hoạt động thương mại, du lịch và dịch vụ có nhiều chuyển biến tích cực. Đã tập trung cải thiện môi trường thuận lợi, thông thoáng, tích cực cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn ước đạt 3 tỷ USD, bằng 117,3% kế hoạch, tăng 27,2% so với cùng kỳ, trong đó, kim ngạch xuất khẩu 1,43 tỷ USD, bằng 100,7% kế hoạch, tăng 35,5%; kim ngạch nhập khẩu 1,57 tỷ USD, bằng 137,8% kế hoạch, tăng 20,6%. Hàng hóa xuất khẩu của địa phương ước đạt 83,8 triệu USD, bằng 107,7% kế hoạch, tăng 23,2%.

Thương mại nội địa tiếp tục phát triển, hệ thống cung ứng hàng hóa đa dạng, rộng khắp, đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Công tác bình ổn thị trường, giá cả được nghiêm túc, hiệu quả. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ ước 11.907 tỷ đồng, đạt 87,5% kế hoạch, tăng 10,3% so với năm 2013. Thực hiện tốt Chương trình đưa hàng Việt về nông thôn năm 2014 gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; tổ chức hiệu quả, thiết thực các hội chợ trên địa bàn huyện Tràng Định, Đình Lập, Chi Lăng, Hữu Lũng, Cao Lộc, thành phố8.

Trong năm, thu hút được 2.210,4 nghìn lượt khách du lịch, đạt 92% kế hoạch, tăng 1,8% so với cùng kỳ. Trong đó, khách quốc tế đạt 207,1 nghìn lượt, giảm 21,7%; khách trong nước đạt 2.003,3 nghìn lượt, tăng 5,0%. Doanh thu xã hội ước đạt 819 tỷ đồng, tăng 1,1%.

Sau sự kiện Biển Đông, hoạt động xuất nhập khẩu, kinh doanh vẫn duy trì ổn định; riêng khách du lịch quốc tế giảm mạnh.

Mạng lưới bưu chính, viễn thông cơ bản đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, chuyển phát kịp thời9. Giao thông vận tải thông suốt, an toàn, đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách10.

Tổng nguồn vốn tín dụng huy động đến 31/12/2014 ước đạt 13.503 tỷ đồng, tăng 28,6% so với 31/12/2013; tổng đầu tư tín dụng đạt 12.226 tỷ đồng, tăng 11,9%. Triển khai có hiệu quả Đề án xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng trên địa bàn, nợ xấu đến 30/9/2014 là 156 tỷ đồng, chiếm 1,38% tổng dư nợ.

d) Tập trung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn thành vùng kinh tế động lực của tỉnh. Các cấp, ngành đã tích cực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi, kịp thời giải quyết vướng mắc cho các hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu; kịp thời công bố các cửa khẩu phụ, điểm thông quan được phép tái xuất hàng hoá, giải quyết ách tắc hàng hóa cục bộ tại một số cửa khẩu; chủ động gặp gỡ doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp xuất nhập khẩu qua địa bàn. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch chi tiết một số khu chức năng, cửa khẩu, điểm thông quan cho phù hợp; chủ động đề xuất với Trung ương cơ chế chính sách ưu tiên phát triển kinh tế cửa khẩu. Đã hoàn thành 02 dự án quy hoạch, 8 công trình đưa vào sử dụng. Tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án lớn trong khu kinh tế cửa khẩu. Công tác quản lý cửa khẩu thường xuyên được quan tâm, các Trung tâm quản lý cửa khẩu đã chủ động phối hợp tốt với các lực lượng chức năng duy trì ổn định hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh.

đ) Lĩnh vực đầu tư xây dựng

Lĩnh vực đầu tư xây dựng được tập trung chỉ đạo quyết liệt ngay từ đầu năm, điều hành linh hoạt trong quá trình tổ chức thực hiện, huy động bổ sung các nguồn vốn cho các chương trình, dự án quan trọng; tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thi công, chú trọng đảm bảo chất lượng công trình theo quy định; tích cực tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện kế hoạch đầu tư xây dựng.

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được bổ sung, tăng cường. Trong năm, phê duyệt đầu tư 116 dự án với tổng vốn 2.897 tỷ đồng; khởi công mới 37 dự án, hoàn thành đưa vào sử dụng 30 dự án lớn; có thêm 2 xã có đường ô tô đến trung tâm xã đi được bốn mùa11; xây mới 11 trụ sở xã, phường; có thêm 300 ha đất lúa được tưới củng cố và tưới mở rộng; hoàn thành 57 phòng học, 14 phòng ở nội trú cho học sinh trường trung học cơ sở nội trú; 96,6% số hộ được dùng điện; 96% dân cư thành thị được sử dụng nước sạch và 83% dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh.

Giá trị khối lượng ước thực hiện các nguồn vốn do tỉnh quản lý 1.953,2 tỷ đồng, đạt 97,8% kế hoạch, tăng 10,6% cùng kỳ năm 201312. Công tác giải ngân, thanh toán được kiểm soát chặt chẽ, đúng quy định. Ước thực hiện giải ngân thanh toán các nguồn vốn là 1.895,8 tỷ đồng, đạt 94,9% kế hoạch, bằng 97,0% khối lượng thực hiện. Tổ chức thẩm tra, phê duyệt quyết toán 145 công trình, dự án với tổng giá trị đề nghị thẩm tra 1.250 tỷ đồng, giá trị sau thẩm tra 1.230 tỷ đồng, giảm chi cho ngân sách nhà nước 20 tỷ đồng.

e) Phát triển doanh nghiệp, công tác xúc tiến đầu tư

Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp tiếp tục được phục hồi, phát triển; thị trường, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh được mở rộng; một số doanh nghiệp tạm ngừng đã hoạt động trở lại. Trong năm 2014, có 250 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 673 tỷ đồng; hiện có 1.600 doanh nghiệp đang hoạt động, tổng số vốn đăng ký 7.328 tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng 29.000 lao động với mức thu nhập bình quân từ 3,5 - 4 triệu đồng/người/tháng, nộp ngân sách nhà nước trên 400 tỷ đồng.

Tiếp tục thực hiện cổ phần hóa đối với 2 doanh nghiệp nhà nước là Công ty TNHH một thành viên Đầu tư phát triển Nhà và Đô thị, Công ty TNHH một thành viên Đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn; triển khai phương án bán vốn nhà nước tại Công ty Cổ phần Du lịch và Xuất nhập khẩu. Tiến hành xây dựng phương án sắp xếp 2 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đình Lập và Lộc Bình. Đã thành lập và đưa vào hoạt động Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã, tạo điều kiện để các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn tín dụng.

Công tác xúc tiến đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh. Cấy giấy chứng nhận đầu tư cho 41 dự án vốn trong nước, tổng vốn đăng ký 2.245,2 tỷ đồng; điều chỉnh 20 dự án, vốn tăng thêm 337,1 tỷ đồng; chấm dứt hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư 05 dự án. Hiện có 28 dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 224,7 triệu USD13.

g) Công tác thu - chi ngân sách

Công tác quản lý, điều hành ngân sách tiếp tục được tăng cường. Tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác thu vào ngân sách các nguồn thu hiện có, đẩy mạnh tăng thu đối với các khoản thuế, phí, lệ phí còn thất thu, phát sinh và thu hồi nợ đọng thuế. Kết quả thu ngân sách đạt khá so với cùng kỳ. Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước 4.693,2 tỷ đồng, đạt 143% dự toán, tăng 40,3% so với năm 2013, trong đó: Thu nội địa 810 tỷ đồng, đạt 105,2% dự toán, giảm 0,68%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 3.873,2 tỷ đồng, đạt 154,9% dự toán, tăng 53,8%; thu quản lý qua ngân sách 10 tỷ đồng, đạt dự toán, tăng 0,58%; thu phí sử dụng bến bãi khu vực cửa khẩu 571,1 tỷ đồng, đạt 228,5% dự toán, tăng 3%.

Công tác chi ngân sách được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo chi đúng mục đích, đúng đối tượng, hiệu quả, tiết kiệm. Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 6.890,7 tỷ đồng, đạt 119% dự toán, tăng 8,8% so với năm 2013, trong đó: Tổng chi cân đối là 5.856,4 tỷ đồng, đạt 121,2% dự toán, tăng 10,3%14; chi các chương trình mục tiêu và nhiệm vụ khác 1.034,9 tỷ đồng, đạt 107,6% dự toán, tăng 1,3%.

2. Về văn hoá, xã hội 

Nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được tập trung triển khai. Chất lượng dạy và học được nâng cao, hệ thống trường, lớp học, trang thiết bị được bổ sung. Tỷ lệ học sinh khá, giỏi của các cấp học, đạt giải học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh tăng, riêng học giỏi cấp quốc gia giảm so với năm học 2012 - 2013; hệ thống trường lớp được củng cố và phát triển15. Thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục và huy động học sinh vào các cấp học, hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi của 3 huyện, thành phố16. Chuyển đổi 86 trường tiểu học và trung học cơ sở vùng đặc biệt khó khăn sang loại hình trường phổ thông dân tộc bán trú, tăng 13 trường so với năm trước. Hết năm 2014, có thêm 9 trường học đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia toàn tỉnh lên 122 trường17.

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình với nhiều hình thức phong phú, đa dạng đã tập trung tuyên truyền và tổ chức tốt các ngày lễ lớn, các nhiệm vụ chính trị của tỉnh, của đất nước. Tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao lần thứ VII của tỉnh gắn với kỷ niệm 183 năm ngày thành lập tỉnh, 105 năm ngày sinh đồng chí Hoàng Văn Thụ. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh18.

Chất lượng khám, chữa bệnh phục vụ nhân dân có chuyển biến tích cực19. Tập trung chỉ đạo phòng, chống các dịch bệnh: Bệnh Sởi, tay chân miệng, cúm A H5N1, H7N9, vi rút Ebola..., không để xảy ra dịch trên địa bàn tỉnh. Hoàn thành chỉ tiêu tiêm đủ 8 loại vắc-xin cho trẻ em dưới 1 tuổi (90%), tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới mức 18,3%. Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm cơ bản được bảo đảm20. Mức giảm tỷ lệ sinh tự nhiên khoảng 0,1‰21 (mục tiêu 0,2%o). Cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ đảm bảo công tác khám, chữa bệnh tại cơ sở22. Tổng số giường bệnh công lập là 1.885 giường (không tính giường bệnh tại các trạm y tế xã), đạt tỷ lệ 24,8 giường bệnh/vạn dân (chỉ tiêu toàn quốc là 22,5 giường).

Công tác bảo đảm an sinh xã hội được chú trọng. Các chính sách đối với người có công, hộ nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện nghiêm túc, kịp thời23. Giải quyết việc làm cho 12.764 lao động, đạt 102% kế hoạch. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 41,2%, tăng 2,2% so với năm 201324. Tỷ lệ hộ nghèo còn 14,9% (giảm 3,1%). Tổng số thu bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp cả năm là 1.090 tỷ đồng, đạt kế hoạch25.

3. Khoa học - công nghệ, tài nguyên và môi trường

Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất và đời sống được quan tâm chỉ đạo. Đã triển khai 50 đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, trong đó 37 đề tài, dự án chuyển tiếp từ các năm trước sang; 13 đề tài, dự án mới năm 2014; tổ chức nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của 22 đề tài, dự án. Thường xuyên kiểm tra đo lường - chất lượng, nhãn hàng hoá, mã số mã vạch, sở hữu công nghiệp, an toàn bức xạ hạt nhân.

UBND tỉnh ban hành 09 văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa, tổ chức triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2013. Hoàn thành 09 cuộc thanh tra chuyên ngành đối với 14 tổ chức; qua thanh tra, kiểm tra đã xử lý vi phạm hành chính và kiến nghị truy thu số tiền sai phạm 403,5 triệu đồng; thu hồi 373,7ha đất sử dụng sai mục đích. Hoàn thành, phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2015 của 11/11 huyện, thành phố; xây dựng Bảng giá đất của tỉnh. Công tác đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý khai thác khoáng sản, bảo vệ môi trường được đẩy mạnh26.

4. Công tác thanh tra; giải quyết khiếu nại tố cáo; chống buôn lậu, gian lận thương mại

Công tác thanh tra được các cấp, các ngành chủ động, tích cực triển khai theo kế hoạch đã phê duyệt và các nhiệm vụ đột xuất được cấp trên giao. Năm 2014 đã triển khai 164 cuộc thanh tra, kiểm tra, tăng 48,6%, tập trung vào các lĩnh vực: Tài chính; đầu tư xây dựng; quản lý, sử dụng đất đai; chấp hành pháp luật về thuế, giáo dục, y tế… Đã kết thúc 129 cuộc, phát hiện sai phạm về kinh tế 10,1 tỷ đồng, sai phạm về quản lý, sử dụng đất 4.248 m2, kiến nghị xử lý hành chính 4 tập thể, 34 cá nhân và chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra 03 vụ; cấp có thẩm quyền đã có kết luận, quyết định thu hồi 5,07 tỷ đồng, đã thu hồi được 4,05 tỷ đồng. Các kiến nghị xử lý hành chính cơ bản đã được thực hiện nghiêm túc.

Công tác tiếp công dân đư­ợc tổ chức đúng quy định. Cơ quan hành chính các cấp tiếp 1.564 lượt công dân, giảm 15,5% so với cùng kỳ, trong đó UBND tỉnh tiếp 239 lượt. Đã thành lập Ban Tiếp công dân cấp tỉnh, cấp huyện; ban hành quy định tiếp công dân của các cơ quan trực thuộc sở, ban, ngành và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện theo Luật Tiếp công dân năm 2013.

Chất lượng giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được được cải thiện; tập trung xử lý các vụ việc phức tạp, kéo dài; giảm tối đa khiếu nại vượt cấp. Tổng số đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấp là 180 đơn, giảm 2,7% so với năm 2013. Đã giải quyết được 163/180 đơn, đạt 90,5%, bằng cùng kỳ; trong đó số đơn liên quan đến lĩnh vực đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng chiếm 80,5%. Tiếp tục thực hiện kiểm tra, rà soát, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài, đã chỉ đạo giải quyết được 31/34 vụ, đạt tỷ lệ 91,1%; còn 03 vụ đang xem xét. Cơ bản các văn bản, quyết định giải quyết đều đảm bảo đúng trình tự, thủ tục, nội dung, thời hạn quy định; góp phần làm giảm bức xúc trong nhân dân.

Công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục được quan tâm. Trong năm đã triển khai 22 cuộc thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, đã kết thúc 18 cuộc. Kết quả thanh tra đã kịp thời chấn chỉnh các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện các quy định về phòng, chống tham nhũng; 8.685/8.697 đối tượng đã thực hiện kê khai, công khai, minh bạch tài sản thu nhập theo quy định.

Công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả được chỉ đạo quyết liệt, đặc biệt là trong những tháng cuối năm. Các ngành chức năng tăng cường lực lượng, phối hợp kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh ngăn chặn ngay từ biên giới và trong nội địa, xử lý nghiêm vi phạm; tình hình buôn lậu được kiềm chế, không để hình thành các đường dây, tủ điểm buôn lậu lớn. Tính đến hết tháng 11/2014 đã kiểm tra, xử lý 3.152 vụ, giảm 23,8% so với cùng kỳ, với tổng giá trị hàng hóa ước tính 51, tỷ đồng; phạt vi phạm hành chính 11,1 tỷ đồng, phạt bổ sung và truy thu thuế do gian lận thương mại trên 21,9 tỷ đồng27.



5. Quốc phòng - an ninh; công tác dân tộc, tôn giáo; đối ngoại

Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững. Thực hiện tốt các chỉ đạo của Trung ương về công tác đối ngoại liên quan đến sự kiện Biển Đông, đảm bảo các hoạt động xuất nhập cảnh, giao thương khu vực biên giới ổn định. Tổ chức tốt huấn luyện lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng; hoàn thành công tác tuyển quân năm 2014. Tổ chức thành công diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh với sự tham gia của tất cả các ngành, huyện, thành phố; kết quả chung đạt loại tốt, một số nội dung đạt xuất sắc.

Các lực lượng chức năng nắm chắc tình hình, địa bàn, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, không để xảy ra các vụ việc phức tạp28. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tiếp tục được củng cố và phát triển. Trong những tháng đầu năm, tình hình người dân xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động tăng mạnh; tỉnh đã tập trung các biện pháp tuyên truyền, ngăn chặn, xử lý kiên quyết cùng với tác động của sự kiện Biển Đông nên từ tháng 5 đến nay đã giảm mạnh; tuy nhiên còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp trong thời gian tới. Công tác phòng chống cháy nổ được đẩy mạnh, tuy nhiên số vụ cháy tăng so với cùng kỳ29.

Tình hình trật tự an toàn giao thông có nhiều chuyển biến tích cực, tai nạn giao thông được kiềm chế, giảm cả 3 tiêu chí so với cùng kỳ. Tính từ ngày 16/12/2013 đến 15/11/2014, trên địa bàn tỉnh xảy ra 71 vụ, làm chết 66 người, bị thương 41 người; so với cùng kỳ giảm 15 vụ (-17,4%), giảm 20 người chết (-23,3%), giảm 23 người bị thương (-35,9%).

Công tác dân tộc, tôn giáo được các cấp, ngành quan tâm. Các chính sách dân tộc được thực hiện đầy đủ, đúng quy định; ngoài ra, tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số ít người vùng khó khăn. Tổ chức tốt Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số cấp huyện, cấp tỉnh lần thứ II. Không phát sinh những vấn đề nổi cộm về tôn giáo.

Công tác đối ngoại được triển khai tích cực. Tiếp tục duy trì, củng cố quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Quảng Tây (Trung Quốc). Đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, thiết lập quan hệ với các tổ chức quốc tế khác như: Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), các Đại sứ quán Nhật Bản, Hàn Quốc, tổ chức JICA, KOICA, JETRO trong hợp tác phát triển, vận động các nguồn vốn đầu tư. Đã tổ chức 40 đoàn, với 563 lượt cán bộ, công chức, viên chức tham dự hội nghị, hội thảo, trao đổi hợp tác tại 16 quốc gia/vùng lãnh thổ; đón tiếp và làm việc với 74 đoàn, với 794 lượt người đến từ 18 quốc gia/vùng lãnh thổ.



6. Công tác cải cách hành chính

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương của công chức, viên chức gắn với đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức, viên chức. Nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành. Xây dựng Đề án vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, viên chức; đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức; thực hiện tốt quy định về điều động, bổ nhiệm một số vị trí lãnh đạo trong các cơ quan, đơn vị. Tổ chức thí điểm thi tuyển Trưởng phòng của Sở Thông tin và Truyền thông, UBND huyện Văn Lãng để đánh giá, rút kinh nghiệm để thực hiện các bước tiếp theo. Chỉ số cải cách hành chính năm 2013 (PARINDEX) xếp thứ 26, Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI) năm 2013 xếp thứ 10/63 tỉnh, thành phố.



7. Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh

UBND tỉnh tập trung chỉ đạo, điều hành nghiêm túc, toàn diện và quyết liệt các nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014 của Chính phủ, Nghị quyết của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân tỉnh, trong đó lựa chọn, xác định một số lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm để tập trung nỗ lực thực hiện; tạo được chuyển biến tích cực, hiệu quả.

Xây dựng, triển khai Chương trình hành động thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Chỉ đạo tăng cường quản lý chất lượng các loại giống, phân bón, vật tư nông nghiệp; chủ động phòng chống dịch bệnh, đảm bảo tưới tiêu cho sản xuất, công tác khuyến nông khuyến lâm. Chỉ đạo quyết liệt thực hiện các mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch.

Tích cực tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay tín dụng, mặt bằng sản xuất, thị trường. Chỉ đạo các chi nhánh ngân hàng thương mại tạo điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp vay vốn, cơ cấu lại nợ, giải quyết nợ xấu. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch; tạo điều kiện thuận lợi, thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn; giải quyết kịp thời ách tắc cục bộ. Vận dụng linh hoạt, đề xuất kịp thời với Trung ương trong việc thực hiện quy định về hoạt động tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển khẩu hàng hóa. Tăng cường công tác bình ổn giá cả, thị trường, kiểm soát, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Tập trung chỉ đạo xây dựng và phát triển kinh tế cửa khẩu thành khu vực động lực phát triển. Trọng tâm là cải thiện môi trường thuận lợi, thông thoáng; đề xuất với Trung ương các cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển kinh tế cửa khẩu; điều chỉnh quy hoạch xây dựng cho phù hợp; tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu khu vực cửa khẩu và thành phố Lạng Sơn, ; cải cách mạnh các thủ tục hành chính, tăng năng lực thông quan, thu hút hàng hóa xuất nhập khẩu qua địa bàn.

Chỉ đạo quyết liệt, điều hành linh hoạt, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các chương trình, dự án trọng điểm; tăng cường thanh tra, kiểm tra nhằm quản lý, sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích các nguồn vốn đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước. Kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thủ tục, nguồn vốn, mặt bằng. Tổ chức rà soát nợ xây dựng cơ bản đến hết năm 2014, xây dựng phương án xử lý. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, thực hiện rộng rãi các hình thức huy động vốn.

Tăng cường quản lý, điều hành thu, chi ngân sách; tập trung chỉ đạo thu nợ thuế, chống thất thu, thất thoát các nguồn thu; chi ngân sách đúng mục đích, đúng đối tượng, hiệu quả, tiết kiệm.

Triển khai thực hiện các nhiệm vụ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân, y đức của đội ngũ y bác sỹ; giám sát, phòng, chống bệnh dịch nguy hiểm. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo và các chính sách dân tộc, tôn giáo.

Chỉ đạo đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Thực hiện tốt công tác chuẩn bị diễn tập khu vực phòng thủ năm 2014. Đẩy mạnh truy quét, kiềm chế, làm giảm các loại tội phạm. Thực hiện quyết liệt các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông, kiểm soát tải trọng phương tiện vận tải đường bộ. Tiếp tục duy trì, củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với Quảng Tây (Trung Quốc) và đẩy mạnh quan hệ với các tổ chức quốc tế khác.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện các giải pháp khắc phục một số chỉ tiêu đạt thấp để nâng cao chỉ số cải cách hành chính và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Chỉ đạo xử lý kịp thời những tình huống phát sinh. Triển khai đồng bộ các giải pháp khi xảy ra sự kiện Biển Đông, tạo sự yên tâm trong sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa, không để xảy ra tình hình phức tạp. Khi xảy ra bão số 2 và số 3, đã chỉ đạo các cấp, ngành chủ động triển khai các phương án ứng phó, giảm tối đa thiệt hại do thiên tai gây ra; công tác khắc phục hậu quả được thực hiện tích cực, kịp thời.

Tổ chức xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020. Tập trung chuẩn bị điều kiện cần thiết để thực hiện các Luật mới có hiệu lực thi hành trong năm 2014 và 2015. Xây dựng, ban hành 48 văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực; trong đó có 9 văn bản cụ thể hóa Luật Đất đai mới.

UBND tỉnh thường xuyên xem xét điều chỉnh, bổ sung linh hoạt các nhiệm vụ chỉ đạo, điều hành đối với từng ngành, lĩnh vực cho phù hợp với yêu cầu thực tế; có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể cho các chủ thể thực hiện. Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh dành nhiều thời gian kiểm tra, làm việc trực tiếp với các ngành, các huyện và tại cơ sở để chỉ đạo giải quyết kịp thời những phát sinh, vướng mắc.

II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM

1. Kinh tế mặc dù có mức tăng trưởng khá, nhưng còn thiếu ổn định, bền vững. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn còn chậm, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu. Năng suất lao động, sức cạnh tranh còn thấp. Việc làm, đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Nhiều doanh nghiệp vẫn còn lúng túng trong tổ chức sản xuất, kinh doanh.

2. Sản xuất nông lâm nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, chậm đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, hiệu quả kinh tế chưa cao. Công tác tuyên truyền, cảnh báo, kiểm tra những nơi có nguy cơ sạt lở cao ở một số cấp, ngành chưa được quan tâm đúng mức, đã để lại hậu quả không đáng có. Kết quả xây dựng nông thôn mới chưa đồng đều, tiến độ chậm; trách nhiệm của Ban Chỉ đạo ở một số nơi chưa cao, nhất là ở cấp huyện; việc phân bổ vốn, tổ chức thi công các công trình hạ tầng ở cấp huyện còn chậm, khả năng huy động nguồn lực còn hạn chế; chưa hình thành được nhiều mô hình sản xuất hiệu quả.

3. Kết quả huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng. Trong đó nguồn ngân sách chỉ đáp ứng được 25 - 30% nhu cầu đầu tư; nhiều công trình, dự án hạn chế về vốn đầu tư nên chậm phát huy hiệu quả; một số dự án, công trình chưa bảo đảm chất lượng. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc từ cơ chế, chính sách đến cách thức tổ chức thực hiện.

4. Thực hiện các mục tiêu, tiến độ xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn chậm so với yêu cầu của khu vực kinh tế động lực; kết cấu hạ tầng còn thấp kém. Việc xây dựng, điều chỉnh bổ sung cơ chế, chính sách phát triển Khu kinh tế chưa kịp thời. Chất lượng xây dựng quy hoạch chưa cao. Công tác xúc tiến đầu tư, thu hút nhà đầu tư có đủ năng lực còn hạn chế. Hoạt động của các Trung tâm quản lý cửa khẩu chưa thật sự hiệu quả.

5. Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học mặc dù đã được ưu tiên bổ sung nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhất là ở các khu vực đặc biệt khó khăn, vùng xa, trong các trường phổ thông dân tộc bán trú. Chất lượng dạy và học ở nhiều nơi còn thấp. Chất lượng khám chữa bệnh tuyến huyện, xã chưa đáp ứng yêu cầu. Tiến độ xây dựng xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã còn chậm. Công tác quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế, giáo dục, đào tạo nghề còn bất cập, yếu kém, có tình trạng thiết bị không được đưa vào sử dụng, gây lãng phí. Thiết chế văn hoá thông tin, thể thao ở cơ sở còn nhiều khó khăn; quản lý nhà nước đối với một số loại hình dịch vụ văn hóa còn buông lỏng, nhất là dịch vụ Karaoke. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo ở một số nơi thiếu quyết liệt, thiếu cụ thể, còn nặng tư tưởng ỷ lại, trông chờ. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là người nghèo, người có thu nhập thấp chưa được cải thiện đáng kể. Một số tệ nạn xã hội còn bức xúc.

6. Các cơ quan chức năng quản lý nhà nước chưa thường xuyên theo dõi, kiểm tra, chấn chỉnh kịp thời các vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản. Một số cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất quản lý sử dụng kém hiệu quả, không đúng mục đích,… nhưng chưa được xử lý triệt để. Một số cơ sở sản xuất, khai thác khoáng sản chưa thực hiện tốt quy định về bảo vệ môi trường.

7. An ninh, trật tự an toàn xã hội, trật tự an toàn giao thông vẫn còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp. Tình hình buôn lậu, gian lận thương mại, buôn bán hàng cấm, hàng giả chưa được ngăn chặn triệt để. Vẫn còn hiện tượng người dân xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc làm thuê. Công tác tuyên truyền, cảnh báo, kiểm tra phòng, chống cháy nổ chưa đáp ứng được yêu cầu, số vụ cháy tăng so với cùng kỳ.

8. Công tác cải cách hành chính tuy được cải thiện nhưng hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, công dân chưa cao; vẫn còn nhiều sở, ngành, UBND cấp huyện, xã triển khai chậm, thiếu quyết tâm cải cách gây cản trở môi trường kinh doanh, kìm hãm năng lực cạnh tranh của tỉnh. Công tác triển khai thực hiện một số Luật mới ban hành còn lúng túng, chưa chủ động xử lý các tình huống phát sinh.

Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở một số mặt chưa cao; cấp dưới chưa thực hiện nghiêm túc các quyết định, chỉ thị, chỉ đạo của cấp trên. Trách nhiệm tham mưu, năng lực điều hành của một số người đứng đầu chưa đáp ứng yêu cầu. Một bộ phận cán bộ, công chức ít nghiên cứu, học hỏi, năng lực chuyên môn yếu, bảo thủ, trì trệ, thiếu nghiêm túc trong thực thi công vụ. Sự phối hợp của các cấp, các ngành thiếu chủ động, còn tình trạng đùn đẩy, né tránh.



Trong năm 2014, mặc dù còn gặp khó khăn, thách thức, hạn chế, yếu kém, nhưng các cấp, các ngành, đoàn thể, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp đã nỗ lực, cố gắng phấn đấu đạt nhiều kết quả tích cực trên tất cả các lĩnh vực. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, nông lâm nghiệp phát triển ổn định, thương mại, dịch vụ có nhiều chuyển biến tích cực, công nghiệp duy trì được đà tăng trưởng, thu ngân sách trên địa bàn đạt kết quả khá; giá cả, thị trường tương đối ổn định. Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được cải thiện; an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ổn định, từng bước được nâng cao. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững.

Phần thứ hai

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ KẾ HOẠCH NĂM 2015

Năm 2015, bên cạnh những khó khăn, thách thức, các yếu tố thuận lợi vẫn là cơ bản: Kinh tế - xã hội trong nước sẽ tiếp tục ổn định và phát triển; hệ thống cơ chế, chính sách của Nhà nước tiếp tục phát huy hiệu quả; cùng với những kết quả đạt được của tỉnh trong phát triển kinh tế - xã hội, những kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh là điều kiện tích cực trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2015.



I. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU NĂM 2015

1. Mục tiêu tổng quát

Phấn đấu thực hiện tối đa các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV. Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Tập trung xây dựng, phát huy vai trò động lực của Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững; tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải cách hành chính, bảo đảm an sinh xã hội, môi trường sinh thái. Củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia.



2. Các chỉ tiêu chủ yếu

a) Các chỉ tiêu kinh tế

- Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng từ 9% trở lên, trong đó: Nông lâm nghiệp tăng 4 - 4,5%; công nghiệp - xây dựng tăng 12 - 13%; dịch vụ tăng 10 - 11%. Cơ cấu kinh tế: Nông lâm nghiệp chiếm 26 - 27%, công nghiệp - xây dựng chiếm 19 - 20%, dịch vụ chiếm 54 - 55%.

- Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người 33 - 34 triệu đồng.

- Sản lượng lương thực khoảng 304,8 nghìn tấn.

- Kim ngạch xuất khẩu hàng địa phương tăng 14 - 15%.



- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 9.950 tỷ đồng.

- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 4.995 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 885 tỷ đồng, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 4.100 tỷ đồng, thu xổ số kiến thiết quản lý qua ngân sách 10 tỷ đồng. Thu phí sử dụng bến bãi khu vực cửa khẩu 300 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách địa phương 6.469,9 tỷ đồng, trong đó: Chi cân đối ngân sách địa phương 5.043,7 tỷ đồng, chi các chương trình mục tiêu và nhiệm vụ khác 1.426,2 tỷ đồng.

b) Các chỉ tiêu xã hội



- Xây dựng 11 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

- Đầu tư 2 xã có đường ô tô đến trung tâm đi 4 mùa.

- Tỷ lệ hộ được sử dụng điện: 97,5%.



- Xây dựng 8 trường đạt chuẩn quốc gia.

- Xây dựng 20 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã.

- Tỷ lệ thôn, bản khối phố có nhà văn hoá: 85%.

- Mức giảm tỷ lệ sinh tự nhiên: 0,1‰.

- Giải quyết việc làm mới cho 13.000 lao động.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 43,4%.

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 3%.

- Giảm tai nạn giao thông theo cả 3 tiêu chí: 5 - 10%.

c) Các chỉ tiêu môi trường

- Trồng mới 9.500 ha rừng; tỷ lệ che phủ rừng 54,5%.

- Tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh: 85%.

- Tỷ lệ dân cư đô thị được sử dụng nước sạch: 97%.

- Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom và xử lý: 85%.



II. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH, LĨNH VỰC

1. Về phát triển kinh tế

Thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Phát triển các sản phẩm lợi thế có giá trị gia tăng cao. Triển khai có hiệu quả Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Thực hiện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới. Trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ, phát triển các cây lợi thế, hình thành vùng tập trung; từng bước phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đảm bảo công tác thuỷ lợi; chủ động phòng chống dịch bệnh, giảm nhẹ thiên tai; tích cực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để sớm triển khai dự án Hồ chứa nước Bản Lải. Tiếp tục kiên trì thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng nông thôn mới; mỗi huyện, thành phố xác định và phấn đấu hoàn thành 1 xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2015; tỉnh sẽ lựa chọn, ưu tiên nguồn lực cho 5 - 6 xã.

Đẩy mạnh đầu tư xây dựng, phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn để thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng một số khu chức năng phù hợp với yêu cầu phát triển. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án tại Khu kinh tế. Tranh thủ các nguồn vốn để tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng. Nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung hệ thống cơ chế, chính sách để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế cửa khẩu. Tích cực thu hút các nhà đầu tư có trong nước và nước ngoài có đủ năng lực để đầu tư trong các lĩnh vực ưu tiên. Thúc đẩy sớm hình thành Khu hợp tác kinh tế biên giới Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Bằng Tường (Quảng Tây).

Tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở sản xuất công nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, lắp ráp, gia công, tái chế hàng hoá xuất nhập khẩu gắn với lợi thế cửa khẩu. Khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản gắn với các vùng nguyên liệu. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng các khu, cụm công nghiệp. Tạo điều kiện thuận lợi để triển khai dự án nhiệt điện Na Dương (giai đoạn 2) và các dự án thủy điện nhỏ.

Tập trung phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các ngành dịch vụ có thế mạnh, trọng tâm là các dịch vụ vận tải, kho bãi, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm..., phát triển một số loại hình dịch vụ mới có giá trị gia tăng cao. Tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư cho ngành dịch vụ. Chủ động gặp gỡ, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút, giữ chân các doanh nghiệp xuất nhập khẩu qua địa bàn. Tăng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chủ lực của tỉnh. Chỉ đạo quyết kiệt công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả. Tổ chức khai thác tốt thị trường nội địa, củng cố hệ thống chợ nông thôn, chợ thị trấn, thị tứ; thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tăng cường quảng bá, xúc tiến thương mại và du lịch. Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, đa dạng hóa sản phẩm du lịch; tăng cường hợp tác, tuyên truyền, quảng bá nhằm thu hút khách du lịch trong nước và nước ngoài. Triển khai xây dựng khu du lịch Mẫu Sơn thành khu du lịch quốc gia.

Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách. Thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Đầu tư công, Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ. Tranh thủ các nguồn vốn tập trung đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng vùng kinh tế động lực của tỉnh. Phấn đấu tăng thu ngân sách, tiết kiệm chi để bổ sung cho đầu tư phát triển. Thực hiện tốt công tác nghiệm thu, thanh quyết toán; quản lý chất lượng công trình xây dựng.

Tăng cường huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Hướng dẫn triển khai, tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách ưu đãi đầu tư của Chính phủ. Tiếp tục điều chỉnh, bổ sung và ban hành mới các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư. Thực hiện huy động vốn đầu tư theo nhiều hình thức: BOT, BTO, BT, PPP để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường vận động tài trợ vốn hỗ trợ phát triển chính thức nước ngoài (ODA), thúc đẩy giải ngân vốn ODA. Đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Tập trung cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước về công khai, minh bạch các thủ tục hành chính và thông tin doanh nghiệp. Thực hiện có hiệu quả Quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ hỗ trợ hợp tác xã, các chính sách hỗ trợ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Chú trọng đổi mới, phát triển các hợp tác xã, tổ hợp tác. Tiếp tục thực hiện Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước thuộc UBND tỉnh. Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Chỉ đạo tốt công tác quản lý, điều hành thu, chi ngân sách. Thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp quản lý thu, tăng cường chống thất thu ngay từ đầu năm. Tập trung xử lý kiên quyết các khoản nợ thuế. Đảo đảm chi ngân sách đúng định mức, tiết kiệm, chống thất thoát lãng phí; đáp ứng nhiệm vụ thường xuyên và chi đột xuất. Tăng cường kiểm soát thị trường, giá cả.

Kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, thực hiện nghiêm túc quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất huy động và cho vay tối đa. Thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu và phòng ngừa, hạn chế nợ xấu gia tăng. Chỉ đạo các Chi nhánh ngân hàng thương mại tiếp tục tập trung vốn cho 5 lĩnh vực ưu tiên theo quy định của Chính phủ; chủ động tiếp cận doanh nghiệp để tư vấn cho vay đối với các dự án, phương án kinh doanh hiệu quả.

2. Về lĩnh vực văn hóa, xã hội

Thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Duy trì và phát huy kết quả phổ cập giáo dục, nhất là giáo dục tiểu học, phổ thông cơ sở. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Tăng cường cơ sở vật chất, đồ dùng dạy và học; tiếp tục đầu tư nâng cấp, mở rộng hệ thống trường, lớp học. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác giáo dục và đào tạo.

Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nâng cao y đức của đội ngũ y bác sỹ. Nâng cao chất lượng công tác y tế dự phòng, nhất là các bệnh dịch nguy hiểm. Quản lý tốt các cơ sở hành nghề y, dược tư nhân; tập trung đầu tư trang thiết bị y tế; đẩy mạnh xã hội hoá công tác khám chữa bệnh. Tăng cường công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Triển khai có hiệu quả các biện pháp bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án xây dựng bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ.

Gắn phát triển văn hoá với phát triển kinh tế, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống; xây dựng đời sống văn hoá, gia đình, làng bản và cơ quan văn hoá. Tổ chức thực hiện tốt các hoạt động văn hoá thể thao chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước. Tiếp tục thực hiện Đề án phát triển thể thao thành tích cao giai đoạn 2011 - 2015. Nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản; xây dựng, nâng cấp và hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý của các cơ quan Nhà nước. Tăng cường thanh tra, kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa. Đẩy mạnh xã hội hóa, đa dạng hoá nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực văn hóa, thể thao.

Tập trung thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách tạo việc làm mới và giải quyết việc làm. Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng, năng suất lao động. Xây dựng các chương trình xúc tiến, giới thiệu việc làm ở nước ngoài, tỉnh ngoài cho người lao động. Huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ giảm nghèo, lồng ghép các chương trình để thực hiện giảm nghèo nhanh, bền vững. Thực hiện tốt các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, chính sách đối với người có công. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách lao động, an toàn lao động và đóng bảo hiểm cho người lao động.

3. Khoa học - công nghệ; quản lý tài nguyên, môi trường

Chú trọng ứng dụng, chuyển giao khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và đời sống, nhất là sản xuất nông nghiệp. Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động khoa học - công nghệ; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào công nghệ cao. Tăng cường quản lý các lĩnh vực: Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, quản lý công nghệ và an toàn bức xạ, quản lý sở hữu trí tuệ,…

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tập trung tuyên truyền và triển khai thực hiện Luật Đất đai năm 2013. Tiếp tục rà soát, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách về đất đai thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh. Đẩy mạnh công tác đo đạc, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giảm thiểu mức độ gia tăng ô nhiễm, phục hồi suy thoái và nâng cao chất lượng môi trường. Khuyến khích xã hội hoá đầu tư, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong thu gom, xử lý rác thải, nước thải. Quản lý hiệu quả các nguồn nước, giải quyết tốt vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; triển khai các dự án về ứng phó với biến đổi khí hậu.

4. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và đối ngoại

Tập trung đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, nhất là tại các khu vực trọng điểm, biên giới. Chú trọng kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng an ninh. Xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác cùng phát triển. Tiếp tục nâng cao khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang, dân quân tự vệ, dự bị động viên. Tăng cường các biện pháp trấn áp, kiềm chế các loại tội phạm. Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông; tăng cường tuần tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; hạn chế ở mức thấp nhất các tai nạn giao thông. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về đảm bảo an toàn, phóng chống cháy nổ.

Tiếp tục thúc đẩy, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc); tổ chức tốt Đoàn Đại biểu của tỉnh tham dự phiên họp Uỷ ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc, phiên họp Uỷ ban công tác liên hợp các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang (Việt Nam) với Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc). Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế, thiết lập quan hệ, xúc tiến tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư với các tổ chức nước ngoài khác. Tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương để tham gia các diễn đàn hợp tác quốc tế, các hoạt động xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư ngoài nước.

5. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020. Nâng cao năng lực điều hành, trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, công chức. Triển khai thực hiện nghiêm túc chính sách tinh giản biên chế. Cải thiện chất lượng dịch vụ hành chính công tại các bộ phận một cửa, một cửa liên thông. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành của hệ thống hành chính các cấp. Nâng cao chất lượng công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tiếp tục rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp, kéo dài; kịp thời xử lý, không để hình thành các tình huống phát sinh phức tạp về khiếu nại, tố cáo trong dịp Đại hội Đảng các cấp. Tăng cường công tác đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng cơ bản, quản lý vốn, tài sản của Nhà nước.



6. Chuẩn bị điều kiện phục vụ Đại hội Đảng các cấp

Tổ chức thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết, chương trình của Trung ương, của Tỉnh ủy về chuẩn bị các điều kiện và tổ chức Đại hội Đảng các cấp; xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI.

Phát động phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp, lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước./.


Nơi nhận:

- Văn phòng Chính phủ;

- Ban Chỉ đạo Tây Bắc;

- Các Bộ: KH&ĐT, TC, Tổng cục TK;

- Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh QK1;

- Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (75 bản);

- Thường trực Tỉnh uỷ, Thường trực HĐND tỉnh;

- Các Ban đảng Tỉnh ủy;

- Các Đại biểu Quốc hội tỉnh;

- Hội đồng nhân dân tỉnh (150 bản);

- Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh;

- Ủy ban MTTQ tỉnh, các đoàn thể tỉnh;

- Tòa án ND, Viện Kiểm sát ND tỉnh;

- Các sở, ban, ngành;

- HĐND, UBND các huyện, thành phố;

- Báo LS, Đài PT-TH tỉnh; TT Báo ND,

Phân xã TTXVN tại Lạng Sơn;

- C, PVP UBND tỉnh,

các phòng chuyên viên, TH-CB;

- L­ưu: VT, TH (NVH).



TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH


Đã ký

Vy Văn Thành



1 Tốc độ tăng trưởng được tính theo phương pháp cũ.

2 Sản lượng thóc ước đạt 210.508 tấn, đạt 104,5% kế hoạch, tăng 1,2% so với cùng kỳ; ngô 98.502 tấn, đạt 95,8% kế hoạch, bằng 93,5% so với cùng kỳ.

3 Sản lượng một số cây trồng: Khoai tây 12.448 tấn, tăng 57,2%; thạch đen 11.113 tấn, tăng 13,9%; thuốc lá 10.719 tấn, tăng 2,9%; rau các loại 69.809 tấn, tăng 2,3%; khoai lang 12.042 tấn, tăng 2,6%...

4 Trồng rừng phòng hộ 935 ha, đạt 77,9% so với kế hoạch, rừng sản xuất tập trung là 3.264 ha, đạt 61,6% kế hoạch; trồng cây phân tán 6.776 ha, đạt 225,9% kế hoạch.

5 Xảy ra 15 vụ cháy (13 vụ cháy rừng, 02 vụ cháy trảng cỏ) với tổng diện tích 66,9 ha; đã xử lý 60 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng giảm 54,3% so với cùng kỳ, tịch thu 97,6 m3 gỗ các loại giảm 42,6% so với cùng kỳ, thu nộp ngân sách trên 893 triệu đồng giảm 58,2% so với cùng kỳ.

6 Thiệt hại do bão số 2 là 460 tỷ, bão số 3 là 168 tỷ; có 16 người chết, 6 người bị thương, hơn 735 nhà bị sập đổ, 1.634 nhà bị tốc mái, hơn 5.940 ha lúa, ngô, hoa màu bị thiệt hại, ảnh hưởng đến năng suất...

7 Công nghiệp chế biến 1.987 tỷ đồng, tăng 18,3%; sản xuất và phân phối điện, ga, nước, rác thải 1.281 tỷ đồng, tăng 16,3%; công nghiệp khai khác 317 tỷ đồng, giảm 11,8%;

8 Ngoài ra, tham gia 08 Hội chợ trên đại bàn các tỉnh bạn.

9 Hiện có 224/226 xã có điểm phục vụ bưu chính với 230 điểm phục vụ; 214/226 xã có báo đến trong ngày phát hành, đạt 94,6%; 100% xã có sóng di động 2G và 100% thị trấn, thành phố có sóng di động 3G. Tổng số máy điện thoại đang duy trì hoạt động là 701.251 thuê bao (TB), trong đó điện thoại cố định 34.545 TB, di động trả sau 73.176 TB, di động trả trước 593.530 TB. Tổng số thuê bao Internet là 61.040 TB, tăng 8,2% so với cùng kỳ.

10 Vận chuyển 9,6 triệu lượt hành khách, tăng 8,7%; luân chuyển 329,6 triệu HK.Km, tăng 3%; vận chuyển 5,3 triệu tấn hàng hóa, tăng 3,7%, luân chuyển 239,4 triệu tấn.km, tăng 1,73%.

11 Xã Hữu Lễ, huyện Văn Quan và xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình, đạt tỷ lệ 92,5% số xã.

12 Trong đó: Đầu tư trong cân đối ngân sách địa phương 276,0 tỷ đồng, đạt 114,5% kế hoạch, bằng 99,8% cùng kỳ; Chương trình mục tiêu quốc gia 84,57 tỷ đồng, đạt 100,0% kế hoạch, bằng 87,0% cùng kỳ; Chương trình bổ sung có mục tiêu từ NSTW 388,3 tỷ đồng, đạt 92,8% kế hoạch, tăng 14,8% cùng kỳ; Vốn ứng trước ngân sách Trung ương năm 2015 là 82 tỷ đồng, đạt 94,3% kế hoạch; Vốn trái phiếu Chính phủ 497,1 tỷ đồng, đạt 100,0% kế hoạch; Vay tín dụng ưu đãi 87 tỷ đồng, đạt 66,9%, bằng 29% cùng kỳ; Các nguồn vốn do ngân sách tỉnh cân đối 469,4 tỷ đồng, đạt 100,0% kế hoạch, bằng 87,6% cùng kỳ.

13 Trong đó: 18 dự án hoạt động ổn định, 06 dự án đang tạm ngừng hoạt động, 04 dự án gặp khó khăn vướng mắc.

14 Trong đó: chi đầu tư phát triển là 517,6 tỷ đồng, đạt 214,2% dự toán, tăng 2,9%; chi thường xuyên 5.242,2 tỷ đồng, đạt 116,7% dự toán, tăng 9,1%.

15 Toàn ngành hiện có 728 trường học, tăng 08 trường so với năm học 2013-2014.

16 Các huyện Tràng Định, Cao Lộc, thành phố Lạng Sơn.

17 Gồm 17 trường mầm non, 60 trường tiêu học, 42 trường THCS, 03 trường THPT.

18 Ước năm 2014 có 63% hộ đạt gia đình văn hóa, 40% số thôn, bản, khối phố đạt tiêu chuẩn văn hóa; 80,4% thôn, bản, khu phố có nhà văn hóa, 80,5% xã có sân thể thao; 100% hộ được nghe đài tiếng nói Việt Nam, 92% hộ được xem đài Truyền hình Việt Nam; tổng số thuê bao Internet tăng 8,2%.

19 Khám 1.275.000 lượt đạt 100% KH năm; điều trị 164.000 bệnh nhân đạt 100% KH.

20 Thành lập 389 đoàn kiểm tra liên ngành an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm tra 4.166/6.910 cơ sở, số cơ sở đạt yêu cầu an toàn vệ sinh thực phẩm là 3.353 chiếm 80,4%.

21 Tỷ số giới tính (nam/nữ) khi sinh vẫn còn ở mức cao là 118/100; trẻ mới sinh là con thứ 3 trở lên có 575 trẻ, chiếm 6,7%, tương đương cùng kỳ.

22 Đến nay, 100% số xã trong tỉnh đã có trạm y tế, trên 80% số trạm y tế xã có bác sĩ, 100% số trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi, trên 90% thôn bản có nhân viên y tế.

23 Đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà, trợ giúp các gia đình, đối tượng chính sách nhân dịp tết Nguyên đán với tổng kinh phí 9,3 tỷ đồng. Tổ chức cứu trợ đột xuất 38.841 nhân khẩu, với trên 600 tấn gạo; cứu trợ thường xuyên 13.554 người, kinh phí 35,4 tỷ đồng.

24 Trong đó qua đào tạo nghề là 33,2%, tăng 2,2%. Dạy nghề cho trên 8.135 người đạt 102% kế hoạch.

25 Hết tháng 9/2014, tổng thu là 803 tỷ đồng, đạt 73,7% kế hoạch, tổng số chi là 880 tỷ đồng; tổng số nợ là 34,6 tỷ đồng (nợ BHTN là 0,98 tỷ đồng, nợ BHYT 26,1 tỷ đồng).

26Năm 2014, cấp 589 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, đạt 98,2% kế hoạch; cấp 60.806 giấy cho hộ gia đình, cá nhân, đạt 101% kế hoạch. Thực hiện đo đạc, lập bản đồ địa chính được 10.250 ha, đạt 100% kế hoạch. Phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 35 điểm mỏ với tổng số tiền 650 tỷ đồng. Phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường của 12 dự án; hoàn thành quan trắc môi trường năm 2014.


27 Điển hỉnh như trong tháng 10, 11 bắt giữ 4 xe ô tô tải chở hàng hóa do Trung Quốc sản xuất nhưng có bao bì Việt Nam, trị giá khoảng 9,5 tỷ đồng; bắt 03 xe ô tô chở hàng tạm nhập tái xuất không khai báo Hải quan trị giá 18 tỷ đồng; tổ chức truy quét các tụ điểm gom hàng tại biên giới, bắt giữ 2,5 tấn hàng trị giá khoảng 2 tỷ đồng...

28 Toàn tỉnh đã xảy ra 271 vụ phạm pháp hình sự, giảm 50 vụ so với cùng kỳ; đã điều tra làm rõ 287 vụ, 442 đối tượng (252 vụ 396 đối tượng trong kỳ, tỷ lệ khám phá án đạt 92,9%, án đặc biệt nghiêm trọng 98,3%). Đã bắt 406 vụ vi phạm pháp luật về kinh tế, môi trường; 228 vụ, 338 đối tượng vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, thu 10,4 kg heroin, 22 kg ma túy tổng hợp; 144 vụ, 163 đối tượng có hành vi sai phạm về pháo, thu 9.268 kg pháo các loại. Đã có 25.300 lượt công dân xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc.

29 Mở 117 lớp tập huấn cho cơ quan, doanh nghiệp, triển tra công tác PCCC được 3.045 lượt cơ sở, yêu cầu khắc phục 959 cơ sở; xảy ra 36 vụ cháy (tăng 21 vụ so với cùng kỳ), thiệt hại khoảng 2 tỷ đồng và 66,9 ha rừng; vụ cháy quán karaoke tại phường Đông Kinh làm 4 người chết


: Uploaded -> duongphuonglien -> 2014 12 27
Uploaded -> Tiểu sử 10 Công dân Ưu tú Thủ đô năm 2011 Nhà báo, nhà nghiên cứu Giang Quân
Uploaded -> THỐng kê ĐIỂm trung bình kỳ thi tuyển sinh đẠi học khối a,A1,B,C,D
Uploaded -> BỘ giáo dục và ĐÀo tạo viện nghiên cứu phát triểN giáo dụC
duongphuonglien -> HỘI ĐỒng bầu cử quốc gia số: 53 /nq-hđbcqg cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
2014 12 27 -> Năm 2014, thành phố Hà Nội triển khai Kế hoạch kinh tế xã hội (kt-xh) trong điều kiện tiếp tục có nhiều khó khăn lớn hơn so với dự báo
duongphuonglien -> UỶ ban nhân dân tỉnh lào cai cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
2014 12 27 -> Ủy ban nhân dân tỉnh sơn la số: 349/bc-ubnd cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương