TRƯỜng đẠi học nông lâm cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 203.58 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu21.08.2016
Kích203.58 Kb.
  1   2   3

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



QUY ĐỊNH

Đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ

tại Trường Đại học Nông Lâm

(Ban hành kèm theo Quyết định số 756 /QĐ-ĐT

Ngày 21 tháng 8 năm 2013 của Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm)

–––––––


Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy định này quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, bao gồm: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét học vụ, xét và công nhận tốt nghiệp.

2. Quy định này áp dụng đối với sinh viên các khoá đào tạo hệ chính quy ở trình độ đại học và cao đẳng thực hiện theo hình thức tích luỹ tín chỉ.

Điều 2. Chương trình đào tạo

1. Chương trình đào tạo của nhà trường (sau đây gọi tắt là chương trình đào tạo) được xây dựng trên cơ sở chuẩn đầu ra, phù hợp với: trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, kỹ năng thực hành, thực tập, rèn nghề; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình.

2. Mỗi chương trình đào tạo được thiết kế gắn với một ngành (theo Danh mục đào tạo cấp IV của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành), mỗi ngành có thể có một hoặc nhiều chuyên ngành. Chương trình đào tạo được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.

3. Mỗi học phần phải có Đề cương chi tiết trong đó thể hiện rõ số lượng tín chỉ, điều kiện tiên quyết (nếu có), điều kiện học trước, nội dung kiến thức và kỹ năng, số tiết lý thuyết, số tiết thực hành, thực tập, rèn nghề…cách thức đánh giá học phần, giáo trình, tài liệu tham khảo và điều kiện thí nghiệm, thực hành, thực tập phục vụ học phần.

4. Chương trình đào tạo do Hiệu trưởng phê duyệt, với khối lượng của mỗi chương trình không dưới: 135 tín chỉ đối với khoá đại học 4,5 năm; 120 tín chỉ đối với khoá đại học 4 năm; 90 tín chỉ đối với khoá cao đẳng 3 năm; 60 tín chỉ đối với khoá cao đẳng 2 năm.

5. Chương trình đào tạo văn bằng 2:

a) Đối với những người đã học văn bằng thứ nhất là một trong những ngành do Trường Đại học Nông Lâm đào tạo và cấp bằng: chương trình đào tạo văn bằng 2 sẽ bao gồm các học phần khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp (kiến thức cơ sở ngành, chuyên ngành, bổ trợ, thực tập nghề nghiệp, thực tập tốt nghiệp, rèn nghề). Các học phần khối kiến thức giáo dục đại cương, giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng học ở văn bằng thứ nhất sẽ được bảo lưu và công nhận điểm cho chương trình của văn bằng thứ 2.

b) Đối với những người đã học văn bằng thứ nhất không do Trường Đại học Nông Lâm đào tạo và cấp bằng: sinh viên phải học đầy đủ theo chương trình đào tạo văn bằng 2 của ngành đăng ký học. Các học phần khối kiến thức giáo dục đại cương được xem xét bảo lưu điểm nếu tương đồng với chương trình đào tạo của Nhà trường, nếu không sẽ phải học bổ sung thêm một số học phần. Phòng Đào tạo xem xét các học phần được bảo lưu điểm và các học phần phải học bổ sung và trình Hiệu trưởng phê duyệt trước khi khóa học bắt đầu.

Thời gian học văn bằng 2 tối đa 3 năm. Tổng số tín chỉ thiết kế cho toàn bộ chương trình đào tạo văn bằng 2 thuộc điểm a, b của khoản 5 phải đảm bảo số tín chỉ tối thiểu cho một chương trình đào tạo như ở khoản 4 của điều này và phải tương đương với số tín chỉ của chương trình đang đào tạo tại trường.

Điều 3. Học phần và Tín chỉ

1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập. Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Các học phần được bố trí theo từng học kỳ phù hợp với trình độ theo năm học. Riêng học phần thực tập tốt nghiệp có khối lượng 10 tín chỉ (với khóa đào tạo 4 và 4,5 năm, văn bằng 2) và 5 tín chỉ (với hệ đào tạo liên thông) được xếp vào học kỳ cuối cùng của khóa học. Mỗi học phần có mã số riêng do nhà trường quy định.

2. Các loại học phần

a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy;

b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn. Sinh viên phải tích lũy đủ số tín chỉ của các học phần tự chọn trong chương trình thiết kế cho khóa học.

c) Học phần tương đương: là học phần thuộc chương trình đào tạo của một khóa, ngành khác đang tổ chức đào tạo tại trường hoặc một đơn vị đào tạo khác thuộc Đại học Thái Nguyên được phép tích lũy để thay thế cho học phần trong chương trình của ngành đào tạo. Hiệu trưởng quy định học phần tương đương, ngành và khóa áp dụng trên cơ sở để xuất của khoa chuyên môn và phòng Đào tạo.

d) Học phần thay thế: là học phần được sử dụng khi một học phần có trong chương trình đào tạo nhưng nay không còn tổ chức giảng dạy nữa và được thay thế bằng một học phần khác đang còn tổ chức giảng dạy. Hiệu trưởng quy định học phần thay thế trên cơ sở để xuất của khoa chuyên môn và phòng Đào tạo.

e) Học phần tiên quyết: Học phần A là học phần tiên quyết của học phần B, nghĩa là khi sinh viên muốn đăng ký học học phần B thì phải đăng ký học và có điểm học phần của học phần A từ điểm D trở lên.

f) Học phần học trước: Học phần A là học phần học trước của học phần B, nghĩa là khi sinh viên muốn đăng ký học học phần B thì phải đăng ký và học xong học phần A.

g) Học phần song hành: Học phần song hành với học phần A là những học phần có thể đăng ký học trước hoặc đồng thời với học phần A.

h) Học phần đặc biệt: Chương trình đào tạo của Trường Đại học Nông Lâm có 3 loại học phần đặc biệt: học phần Giáo dục thể chất, học phần giáo dục quốc phòng an ninh và các học phần rèn nghề. Số tín chỉ của các học phần này không được tính vào số tín chỉ chỉ tích lũy của chương trình đào tạo nhưng kết quả đánh giá của các học phần này là điều kiện để xét tốt nghiệp ra trường. Sinh viên phải tích lũy đạt các học phần đặc biệt mới được xét tốt nghiệp.

Học phần Giáo dục quốc phòng an ninh do Trung tâm GDQP-ĐHTN tổ chức đào tạo

Học phần Giáo dục thể chất và Rèn nghề do Trường Đại học Nông Lâm tổ chức đào tạo.

3. Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 60 giờ rèn nghề tại mô hình, thực tập nghề nghiệp tại cơ sở; 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc khoá luận tốt nghiệp.

Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.

4. Một tiết học được tính bằng 50 phút.

5. Tín chỉ học phí (TCHP) là đơn vị được sử dụng để xác định mức học phí cho mỗi học phần sinh viên đăng ký học. Số tín chỉ học phí phụ thuộc vào khối lượng và đặc thù của mỗi học phần. Số tín chỉ học phí của một học phần có thể khác số tín chỉ học tập của học phần đó. Học phí được xác định bằng tổng số tín chỉ học phí của các học phần mà sinh viên được xếp học trong học kỳ nhân với mức học phí/1 TCHP. Mức học phí trên một tín chỉ được Hiệu trưởng quy định theo từng năm theo quy định của Chính phủ và được thông báo để sinh viên biết trước khi bắt đầu mỗi năm học.

Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy

Thời gian hoạt động giảng dạy của trường được tính từ 7 giờ đến 19 giờ hằng ngày. Ngoài ra tùy trường hợp cụ thể, nhà trường vẫn có thể bố trí giảng dạy vào buổi tối hoặc các ngày thứ 7, chủ nhật trong tuần.

Căn cứ theo số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của trường, phòng đào tạo sắp xếp thời khóa biểu hàng ngày cho các lớp và tổ chức cho sinh viên đăng ký trực tuyến thời khóa biểu cá nhân

Điều 5. Đánh giá kết quả học tập

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:

1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký).

2. Điểm trung bình chung học kỳ

Điểm trung bình chung học kỳ (TBCHK) là điểm trung bình cộng của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó (bao gồm các học phần đạt điểm A, B, C, D, F) sau khi đã nhân với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần. Các học phần GDTC, GDQP, rèn nghề không tính vào điểm TBCHK.

3. Khối lượng kiến thức tích lũy

Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần đã được đánh giá theo thang điểm chữ A, B, C, D tính từ đầu khóa học. Các học phần GDTC, GDQP, rèn nghề không tính vào khối lượng kiến thức tích lũy.

4. Điểm trung bình chung tích lũy

Điểm trung bình chung tích lũy (TBCTL) là điểm trung bình cộng của các học phần sinh viên đã đăng ký học trong học kỳ hoặc tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm xét và đạt điểm A, B, C, D. Điểm F không được tính vào điểm trung bình chung tích lũy; các học phần GDTC, GDQP-An ninh và rèn nghề không tính vào điểm TBCTL).

Chương II

TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 6. Thời gian và kế hoạch đào tạo

1. Nhà trường tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ.

a) Khoá học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Tuỳ thuộc chương trình đào tạo, khoá học được quy định như sau:

- Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo;

- Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến bốn năm rưỡi tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành đào tạo.

b) Học kỳ chính: một năm học có hai học kỳ chính, bắt buộc trong chương trình đào tạo của năm học. Học kỳ chính gồm học kỳ 1 và học kỳ 2, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thực học và 3 tuần thi.

c) Học kỳ phụ (còn gọi là học kỳ hè hay học kỳ 3): là học kỳ được tổ chức trong thời gian nghỉ hè của sinh viên. Học kỳ phụ tổ chức để sinh viên có điều kiện được học lại; học cải thiện hoặc học vượt đăng ký học. Học kỳ phụ có ít nhất 5 tuần thực học và 1 tuần thi. Sinh viên đăng ký học học kỳ phụ trên cơ sở tự nguyện, không bắt buộc. Tất cả các sinh viên đăng ký học trong học kỳ phụ đều phải đóng học phí theo quy định của Nhà trường. Không có chế độ miễn, giảm học phí trong học kỳ phụ. Kế hoạch tổ chức học kỳ phụ phải được Hiệu trưởng phê duyệt trong Kế hoạch đào tạo ngay từ đầu năm học.

2. Việc phân bổ số học phần, số tín chỉ cho từng năm học, từng học kỳ phải được thiết kế cùng với chương trình đào tạo và phải được Hiệu trưởng phê duyệt.

3. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình bao gồm: thời gian thiết kế cho chương trình quy định tại điểm a khoản 1 của Điều này, cộng thêm 2 học kỳ đối với các khoá học dưới 3 năm; 4 học kỳ đối với các khoá học từ 3 đến 4,5 năm và không vượt quá hai lần so với thời gian thiết kế cho chương trình đó.

Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình



Điều 7. Nhập học

1. Khi đã trúng tuyển, có giấy gọi vào học hệ chính quy tại Trường Đại học Nông Lâm, thí sinh đến nhập học phải nộp các loại giấy tờ theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành. Tất cả giấy tờ khi sinh viên nhập học phải được xếp vào túi hồ sơ của từng cá nhân do phòng Công tác học sinh sinh viên (CT HSSV) quản lý.

2. Một số trường hợp khác nhập học hệ chính quy:

- Sinh viên trúng tuyển các chương trình đào tạo liên thông hệ chính quy;

- Sinh viên đang học ở nước ngoài có nguyện vọng và được giới thiệu về nước học tiếp đã được Đại học Thái Nguyên chấp thuận bằng văn bản;

- Sinh viên hệ chính quy các trường đại học, cao đẳng khác ở trong nước có nguyên vọng chuyển trường nếu có đủ các điều kiện do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định (được cụ thể hóa tại Điều 18 của Quy định này);

- Sinh viên nước ngoài đăng ký theo học các chương trình đào tạo của trường;

- Sinh viên đã hết thời gian chấp hành kỷ luật đình chỉ học tập. Sinh viên có đủ hồ sơ xin trở lại học tập theo quy định (Đơn xin trở lại học tập, Bản kiểm điểm đối với sinh viên bị kỷ luật có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú)

3. Sau khi đã hoàn tất cấc thủ tục nhập học, phòng CT HSSV phân thí sinh vào các lớp, lập danh sách và trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận thí sinh là sinh viên chính thức và được nhà trường (giao các phòng chức năng) cung cấp đầy đủ điều kiện ban đầu cũng như các thông tin liên quan đến khóa học bao gồm:

a) Mã số sinh viên và tài khoản internet cá nhân;

b) Thẻ sinh viên;

c) Sổ tay sinh viên. Trong sổ tay sinh viên có các văn bản pháp quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các quy định của Đại học Thái Nguyên và của Trường Đại học Nông Lâm về đào tạo, chế độ chính sách, các quyền lợi và nghĩa vụ của học sinh sinh viên, quản lý học sinh sinh viên, chương trình đào tạo, kế hoạch đào tạo, quy trình hướng dẫn đăng ký thời khóa biểu trực tuyến;

d) Sổ theo dõi học sinh, sinh viên ở nội trú, ngoại trú.

e) Giáo viên chủ nhiệm (kiêm cố vấn học tập)

4. Mọi thủ tục nhập học phải được hoàn thành trong thời hạn theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành và theo quy đinh cụ thể của Đại học Thái Nguyên.

Điều 8. Sắp xếp sinh viên vào học các ngành hoặc chuyên ngành đào tạo

Trường Đại học Nông Lâm tuyển sinh theo ngành đào tạo. Thí sinh đủ điểm xét tuyển theo quy định trong kỳ thi tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ được sắp xếp vào lớp học theo ngành đào tạo. Trường hợp ngành có các chuyên ngành đào tạo khác nhau, tùy theo số lượng sinh viên nhà trường sẽ xếp lớp theo chuyên ngành ngay từ khi nhập học hoặc sau khi học xong phần kiến thức chung của ngành.

Đối với các ngành/chuyên ngành có dưới 20 sinh viên đăng ký nhập học, nhà trường sẽ không tổ chức lớp học/khóa học và khuyến khích sinh viên đăng ký chuyển sang ngành học khác (trường hợp đặc biệt, có thể tổ chức lớp/khóa học dưới 20 sinh viên nhưng phải có quyết định của Hiệu trưởng).

Điều 9. Lớp học, lớp học phần và tổ chức lớp học

1. Lớp sinh viên: được thành lập trên cơ sở số lượng sinh viên đã nhập học theo ngành hoặc chuyên ngành đào tạo (như quy định ở điều 8). Lớp sinh viên được tổ chức theo Quy chế Công tác học sinh sinh viên có đầy đủ hệ thống tổ chức như: giáo viên chủ nhiệm, ban cán sự, ban chấp hành chi đoàn, các tổ sinh viên. Lớp sinh viên có tên riêng gắn với khoa, khóa, ngành/chuyên ngành và duy trì trong suốt khóa học.

Tùy theo điều kiện cụ thể, Hiệu trưởng quy định số lượng sinh viên trong một lớp sinh viên cho phù hợp.

2. Lớp học: được tổ chức theo từng học phần dựa vào đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở từng học kỳ. Mỗi lớp học phần có thời khóa biểu, lịch thi và được gán một mã số riêng. Số lượng sinh viên tối thiểu cho mỗi lớp học phần được quy định như sau:

a) Đối với các lớp học lý thuyết

- Không quá 120 sinh viên đối với đa số các học phần trong chương trình đào tạo (kể cả các học phần GDTC). Riêng đối với các học phần lý luận chính trị; luật; khoa học xã hội, nhân văn có thể bố trí lớp học trên 120 sinh viên tùy điều kiện phòng học và phải bố trí thêm giáo viên trợ giảng và các trang thiết bị phục vụ giảng dạy phải đảm bảo cho việc dạy và học

- Không quá 60 sinh viên đối với các học phần ngoại ngữ

Nếu số lượng sinh viên đăng ký ít hơn 40 sinh viên thì lớp học phần sẽ không được tổ chức và sinh viên phải đăng ký chuyển sang học những học phần khác có lớp nếu chưa đảm bảo đủ quy định về khối lượng học tập tối thiểu cho mỗi học kỳ (Trường hợp đặc biệt vẫn có thể mở lớp ít hơn 40 người nhưng phải được Hiệu trưởng cho phép).

b) Đối với các nhóm thực hành: 40-60 sinh viên (riêng tập giảng ngành sư phạm KTNN chia nhóm từ 10-15 sinh viên), rèn nghề: từ 30-40 sinh viên. Thực tập nghề nghiệp tổ chức theo lớp, không chia nhóm.

c) Hình thức tổ chức và quản lý lớp học phần:

- Tổ chức học các học phần theo lớp sinh viên theo từng học kỳ đã được thiết kế cho khóa học. Quản lý sinh viên lớp học phần trong thời gian học do ban cán sự lớp thực hiện.

- Tổ chức theo nhu cầu mở lớp của sinh viên để học lại, học cải thiện điểm, học vượt… (lớp có 1sinh viên hoặc một nhóm sinh viên). Lớp học phần này sẽ giải tán sau khi kết thúc học phần. Lớp học phần này không có ban cán sự lớp. Để duy trì và quản lý lớp, giảng viên giảng dạy học phần là người trực tiếp quản lý hoặc có thể chỉ định một hoặc một nhóm sinh viên giúp giảng viên quản lý lớp trong thời gian giảng dạy học phần.



Điều 10. Đăng ký khối lượng học tập

1. Đầu mỗi năm học, phòng Đào tạo thông báo kế hoạch học tập trong từng học kỳ, danh sách các học phần (bắt buộc và tự chọn dự kiến sẽ dạy), đề cương chi tiết, điều kiện để được đăng ký học cho từng học phần, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần.

2. Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, tùy theo khả năng và điều kiện học tập của bản thân, từng sinh viên phải tự đăng ký học các học phần dự định sẽ học trong học kỳ đó trên mạng internet theo tài khoản email cá nhân.

Sinh viên phải tự đăng ký thời khóa biểu trực tuyến trước mỗi học kỳ sau khi có thông báo của phòng Đào tạo. Thời gian đăng ký thời khóa biểu trực tuyến được quy định như sau:

a) Đăng ký sớm là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ từ 1 đến 2 tháng;

b) Đăng ký bình thường là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tuần;

c) Đăng ký muộn là hình thức đăng ký được thực hiện trong 2 tuần đầu của học kỳ chính hoặc chậm nhất trong ngày học đầu tiên của học kỳ phụ cho những sinh viên muốn đăng ký học cải thiện, học thêm, rút bớt học phần hoặc đăng ký học đổi sang học phần khác khi không có lớp.

3. Khối lượng học tập tối thiểu và tối đa quy định cho mỗi sinh viên phải đăng ký trong một học kỳ:

a) 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường;

b) 10 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu.

c) Không quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ phụ.

4. Sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu chỉ được đăng ký khối lượng học tập không quá 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ chính.

5. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết hoặc điều kiện học trước của từng học phần và trình tự học tập đã được thiết kế cho mỗi chương trình đào tạo đã được Hiệu trưởng phê duyệt.

Điều 11. Rút bớt học phần đã đăng ký

1. Sinh viên được quyền rút bớt (hủy) học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký vì các lý do cá nhân (sức khỏe không đảm bảo, tài chính khó khăn, hoặc các lý do đặc biệt khác…), nhưng phải đảm bảo các điều kiện sau:

a) Trước khi kết thúc tuần thứ 2 của học kỳ chính và chậm nhất trong ngày học đầu tiên của học kỳ phụ, sinh viên có nhu cầu rút bớt học phần không cần phải viết đơn. Sinh viên vào tài khoản cá nhân trên internet để thực hiện lệnh rút học phần đã đăng ký trên phần mềm quản lý đào tạo.

b) Trong tuần thứ 3 của học kỳ chính và từ ngày học thứ 2-3 của học kỳ phụ, nếu muốn rút bớt học phần đã đăng ký, sinh viên phải trực tiếp nộp đơn lên phòng Đào tạo; đơn phải điền đầy đủ thông tin theo mẫu chung của nhà trường và phải có xác nhận của giáo viên chủ nhiệm lớp kiêm cố vấn học tập. Phòng Đào tạo sẽ trực tiếp hủy học phần cho sinh viên sau khi đơn của sinh viên đã có chữ ký đồng ý của Trưởng hoặc phó trưởng phòng Đào tạo.

c) Không vi phạm khoản 3 Điều 10 của Quy định này.

2. Từ tuần thứ 4 của học kỳ chính và từ ngày học thứ 4 của học kỳ phụ, các học phần đã đăng ký sẽ không được phép hủy và giữ nguyên trong kết quả đăng ký học. Sinh viên có tên trong danh sách lớp học phần, phải nộp học phí để học và nếu không đi học sẽ được xem như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F.

Trường hợp đặc biệt, nếu sinh viên vẫn có nguyện vọng và nộp đơn xin rút bớt học phần, sinh viên được chấp nhận rút bớt học phần nhưng không được rút lại học phí đã nộp đối với học phần đó.

3. Sinh viên chỉ được phép nghỉ thôi không đến lớp học đối với học phần xin rút bớt sau khi phòng đào tạo xóa tên trong danh sách lớp học phần và gửi danh sách lớp cho giảng viên phụ trách giảng dạy học phần đó.



Điều 12. Đăng ký học lại, học cải thiện điểm, học vượt

1. Học lại

Sinh viên có học phần nào bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, B, C hoặc D.

Đối với các sinh viên sau khi đã hết thời gian học tập chính thức tại trường theo quy đinh tại điểm a khoản 1 của Điều 6 nhưng vẫn còn thời gian kéo dài theo quy định tại khoản 3 của Điều 6 và vẫn còn nợ điểm học phần (do chưa học hoặc đã học nhưng bị điểm F), nếu muốn học hoặc học lại sinh viên phải nộp đơn xin học hoặc học lại lên phòng Đào tạo chậm nhất trước khi bắt đầu học kỳ mới một tuần để phòng xếp lớp. Trường hợp không có lớp để học ghép trong học kỳ, nhà trường sẽ xem xét mở lớp riêng nếu sinh viên có nhu cầu và phải có đơn tự nguyện xin mở lớp riêng.

2. Học cải thiện điểm

Đối với học phần đã có kết quả đạt điểm C hoặc D, sinh viên được phép đăng ký học lại để cải thiện điểm trung bình chung tích lũy (trừ các học phần thực hành, thực tập nghề nghiệp, thực tập tốt nghiệp, rèn nghề). Học cải thiện điểm chỉ tổ chức vào học kỳ phụ, không tổ chức học cải thiện trong các học kỳ chính và không hạn chế số lần học cải thiện điểm đối với mỗi học phần.

3. Học vượt

Học vượt là hình thức sinh viên đăng ký học thêm một hoặc một số học phần so với khối lượng học tập đã thiết kế trong chương trình đào tạo cho một học kỳ, năm học để tốt nghiệp ra trường sớm hơn so thời gian quy định cho khóa đào tạo.

Chỉ cho phép sinh viên đăng ký học vượt trong các học kỳ chính. Sinh viên muốn học vượt trong học kỳ nào phải nộp đơn (theo mẫu của Nhà trường) xin học vượt lên phòng Đào tạo trước khi bắt đầu học kỳ, đơn phải có chữ ký xác nhận của giáo viên chủ nhiệm.

Điều 13. Nghỉ ốm

Sinh viên xin nghỉ ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin phép gửi trưởng khoa trong vòng một tuần kể từ ngày ốm, kèm theo giấy chứng nhận của trạm xá nhà trường, hoặc trạm y tế xã, hoặc phòng khám đa khoa/trung tâm y tế huyện/thị/thành phố, hoặc của bệnh viện.



Điều 14. Xếp hạng năm đào tạo và học lực

1. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, sinh viên được xếp hạng năm đào tạo như sau:



a) Sinh viên năm thứ nhất:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy dưới 30 tín chỉ;

b) Sinh viên năm thứ hai:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 30 tín chỉ đến dưới 60 tín chỉ;

c) Sinh viên năm thứ ba:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 60 tín chỉ đến dưới 90 tín chỉ;

d) Sinh viên năm thứ tư:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 90 tín chỉ đến 120 tín chỉ;

đ) Sinh viên năm thứ năm:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ trên 120 tín chỉ đến 135 tín chỉ;

2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích luỹ, nhà trường tổ chức xét học vụ và xếp hạng về học lực cho sinh viên trong học kỳ như sau:

a) Hạng bình thường: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 trở lên.

b) Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 2,00, nhưng chưa rơi vào trường hợp bị buộc thôi học.

3. Kết quả học tập trong học kỳ phụ của năm học nào (bao gồm học lại, học cải thiện điểm, học vượt) được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ 2 của năm học đó để xếp hạng học lực cho sinh viên.


  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương