TỔng quan về phưƠng pháp chỉnh hình giác mạC ĐIỀu chỉnh tật cận thị MẮc phảI



tải về 0.91 Mb.
trang2/2
Chuyển đổi dữ liệu28.05.2018
Kích0.91 Mb.
1   2

Những lợi ích của phương pháp sử dụng kính tiếp xúc ban đêm

Sau 40 năm thực hành phương pháp chỉnh hình bề mặt giác mạc và tiến hành nhiều nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu thực nghiệm, phương pháp này có 2 lợi ích được công nhận: 1) mắt cận thị có thị lực tốt vào ban ngày, không cần các loại trợ thị khác. 2) kiểm soát sự tiến triển của tật cận thị. Những nghiên cứu thống kê cho thấy mức độ tiến triển tật cận thị nếu sử dụng kính gọng ban ngày là 0.75 đến 1.00 D/năm, nếu sử dụng kính tiếp xúc ban đêm là 0.25 – 0.50 D/ năm.

    1. Người sử dụng có thị lực tốt vào ban ngày

  • Thuận tiện trong cuộc sống, nâng cao thẩm mỹ. Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành cho thấy người sử dụng các loại kính tiếp xúc ban ngày, ban đêm tự tin trong giao tiếp hàng ngày, thuận tiện trong khi chơi thể thao. Tuy nhiên, việc đeo kính gọng hay đặt kính áp tròng cũng còn tùy thuộc vào sở thích, thói quen sinh hoạt, điều kiện môi trường và khả năng kinh tế.

  • Kết quả của phương pháp: Phương pháp sử dụng kính tiếp xúc qua đêm được nhiều tác giả trên thế giới khẳng định về hiệu quả, an toàn cho người mắc tật cận thị. Từ năm 2002, phương pháp này đã được FDA phê chuẩn điều trị trên những người mắc cận thị <-6,00D và độ loạn thị <1,50D. Nguyên tắc của phương pháp dựa trên thiết kế đặc biệt của mặt sau kính áp tròng chất liệu silicon có độ thấm khí cao (Dk100), làm thay đổi độ cong của bề mặt giác mạc và làm giảm độ cận trong khi ngủ với lực tác động của mi mắt thông qua lớp nước mắt (chiều dày khoảng 5 đến 10 µm). Kết quả của phương pháp là mức độ cận thị giảm dần và mất hẳn vào ban ngày theo số đêm sử dụng kính tăng lên và người sử dụng có thị lực tốt vào ban ngày. Sự tác động của kính làm thay đổi chiều dày lớp biểu mô giác mạc, là lớp tế bào biểu mô không sừng hóa, được đổi mới hàng ngày, vì vậy sự tác động này chỉ mang tính tạm thời, nếu người sử dụng ngừng đặt kính vào ban đêm từ 2 đến 4 tuần chiều dày của lớp biểu mô giác mạc sẽ trở về như trước khi đặt kính. Do đó, phương pháp này được đánh giá cao về độ an toàn, tác động mang tính tạm thời, không gây nên biến chứng như làm thay đổi hình thái hay biến dạng giác mạc vĩnh viễn.

Tỷ lệ người được chỉnh hình giác mạc đạt thị lực ≥9/10 đạt 57% đến 74% tùy theo từng nghiên cứu. Thị lực không kính tăng sau 1 đến 2 đêm sử dụng kính tiếp xúc. Sự thay đổi về khúc xạ cũng như thị lực sẽ ở mức độ bền vững sau 7 đêm đến 10 đêm sử dụng kính.

    1. Kiểm soát sự tiến triển của cận thị

  • Vai trò mức độ thị lực đạt được của vùng võng mạc trung tâm, ngoại vi quy định gây ảnh hưởng tới sự tiến triển của tật khúc xạ.

Nhiều nghiên cứu đã đưa ra những bằng chứng chắc chắn rằng những phản hồi về mức độ thị lực của vùng võng mạc trung tâm và chu vi ảnh hưởng tới sự tiến triển của tật khúc xạ tại mắt. (Vitale S. et al, 2009). Sự phản hồi về mức độ thị lực gây ảnh hưởng tới sự tăng kích thước trước sau của trục nhãn cầu. Từ những nghiên cứu thực nghiệm, các vùng võng mạc khác nhau đều có tác động lên tật khúc xạ của mắt, phù hợp với giả thiết trước đây cho rằng khả năng mắc tật cận thị ở vùng võng mạc trung tâm phụ thuộc vào mức độ thị lực của vùng chu vi võng mạc.

Những nghiên cứu của Earl Smith và cs đã chỉ ra khúc xạ của vùng chu vi võng mạc gây ảnh hưởng tới khúc xạ của vùng trung tâm võng mạc. Các tác giả nhận định rằng sử dụng kính gọng chỉ điều chỉnh thị lực trung tâm (thị lực mang lại từ vùng võng mạc trung tâm) tức là đã gây nên thị lực có tật khúc xạ của vùng võng mạc chu vi, và chính tật khúc xạ ở vùng võng mạc chu vi thúc đẩy sự tiến triển của tật khúc xạ vùng trung tâm, mặc dù được điều chỉnh có thị lực tốt.



Từ lâu các nhà nghiên cứu cũng đã nhận thấy những mắt cận thị (trung tâm) có liên quan mật thiết tới sự tiến triển viễn thị (chu vi), tình trạng viễn thị (chu vi) là yếu tố gây kích thích sự tiến triển của cận thị (trung tâm). Ngược lại, có thể những mắt viễn thị khả năng bị cận thị sẽ thấp hơn. Câu hỏi được đặt ra là các tật khúc xạ ở vùng chu vi là lí do hay là nguyên nhân gây nên tật khúc xạ ở vùng trung tâm. Hầu hết các tác giả ủng hộ cho nhận định thay đổi khúc xạ của vùng chu vi gây ảnh hưởng tới tật khúc xạ của vùng trung tâm võng mạc. Trong mọi trường hợp, sử dụng kính gọng để điều chỉnh tật cận thị (chỉnh thị lực trung tâm) sinh ra tật viễn thị (thị lực ở vùng chu vi), tình trạng này là yếu tố kích thích sự tiến triển của tật cận thị.


Hình 4: Các tia sáng từ ngoài môi trường vào mắt sử dụng kính chỉnh hình bề mặt giác mạc đến các điểm khác nhau trên võng mạc chu vi và trung tâm.

Nhận định này cũng là bằng chứng giải thích khi con người nhìn quá gần, ngổi sai tư thế sẽ mắc tật cận thị và việc sử dụng mắt kính gọng cho các mức độ thị trường rộng khác nhau (gọi là kính kiểm soát độ tiến triển của cận thị - anti-myopic spectacle lenses) hoặc sử dụng kính gọng 2 tiêu cự hoặc đa tiêu cự để điều chỉnh thị lực trung tâm tốt nhưng giảm độ viễn thị cho thị lực chu vi, mong muốn giảm sự tiến triển của cận thị (Sankaridurg et al, 2011). Tác dụng hạn chế sự tiến triển cận thị của phương pháp chỉnh hình giác mạc, theo hình 8, vào ban ngày không sử dụng kính toàn bộ tia sang từ môi trường đi qua giác mạc đều tới mọi điểm khác nhau trên võng mạc trung tâm cũng như ngoại vi, nên mắt con người nhìn mọi vật đúng với sinh lí thị giác.



  1. Phương pháp chỉnh hình giác mạc: hiệu quả và an toàn

    1. Hiệu quả

Hiệu quả điều chỉnh mức độ cận thị phụ thuộc vào thiết kế mặt sau của kính chỉnh hình giác mạc đã được nghiên cứu và thay đổi liên tục trong vài thập kỉ tới nay. Mục đích của mọi thiết kế là tăng hiệu quả làm giảm hoặc mất độ cận thị vào ban ngày và kính tiếp xúc nằm ở trung tâm giác mạc khi mắt nhắm.

Theo John Mountford (năm 1997), nếu dựa vào giá trị e của giác mạc từ kết quả chụp bản đồ giác mạc thì cứ 0,2e sẽ giảm được -1.00 D. Nhưng giá trị e hiếm khi cao hơn 0,8, vì vậy thời điểm đó người ta cho rằng phương pháp chỉnh hình giác mạc chỉ có tác dụng giảm độ cận thị tối đa là -4.00 DS. Giả thuyết này chỉ dựa trên thống kê và có thể phù hợp cho một loại thiết kế, không đúng cho mọi thiết kế khác. Vào năm 1998, Helen Swarbrick đã sử dụng công thức Munnerlyn (Munnerlyn’s formula) để thiết kế độ cong của mặt sau kính Ortho-K, ET= RD2/3 Công thức này đã từng sử dụng để tính toán vùng điều trị trong phẫu thuật Lasik. Nhưng đối với Ortho-K là phương pháp không can thiệp, chỉ tác động ở lớp biểu mô giác mạc, vì vậy tối đa chiều dày có thể giảm là 20 µm trong khoảng 3 mm ở trung tâm giác mạc, có nghĩa là tối đa độ cận khử được là -6.00 DS. Nếu muốn tăng hiệu quả đối với độ cận thị cao hơn có nghĩa là phải giảm kích thước vùng điều trị 1 đến 2 mm, như vậy kích thước vùng điều trị sẽ nhỏ hơn kích thước của đồng tử, thị lực sẽ không tăng. Với những hạn chế về mặt thiết kế năm 2013, Jessie Charm và cs đã tiến hành nghiên cứu sử dụng kính chỉnh hình giác mạc có tác dụng làm giảm một phần mức độ cận thị (PR ortho-k) cho những người mắc cận ≥-6.00 DS và kết hợp đeo kính gọng số thấp hơn để giải quyết cận thị tồn dư.

Theo Arthur Tung, công thức Munnerlyn chỉ đề cập tới yếu tố chiều cao của kính, có nghĩa chỉ đề cập tới lực ấn vuông góc lên bề mặt vùng trung tâm của lớp biểu mô giác mạc. Vì sự tác động của thiết kế mặt sau kính lên sự di chuyển của các tế bào biểu mô giác mạc trên bề mặt, Arthur Tung cho rằng để tăng hiệu quả trong các trường hợp cận thị cao thì các tế bào biểu mô giác mạc ở vùng trung tâm cũng như các tế bào ở vùng chu vi giác mạc cùng dịch chuyển tới vùng giác mạc cạnh tâm. Dựa trên giả thuyết đó của ông, ông đã điều chỉnh công thức của Munnerlyn và thiết kế của kính Global-OK Vision® có khả năng khử độ cận lên tới -10.00 D. Công thức khả năng chiều dày lớp biểu mô giác mạc có thể giảm của Arthur Tung (Tung’s formula): ET = RD2/6 (ET: khả năng giảm của lớp biểu mô giác mạc; R: độ cận thị cần giảm; D: đường kính vùng giác mạc trung tâm có tác dụng khử độ cận thị) Thiết kế đặc biệt dựa vào công thức của Tung đã đăng kí bản quyền sở hữu tại Mỹ, số 6543897.

K


Hình 5: (a) Kính chỉnh hình giác mạc nằm trên bề mặt giác mạc.

(b) Thiết kế kính GOV® làm tăng hiệu quả khử cận.

(c) Thiết kế khác
hi kính Global-OK Vision® đặt trên bề mặt giác mạc tạo ra 2 lực tác dụng đồng thời lên bề mặt lớp biểu mô thông qua lớp nước mắt: áp lực thẳng trục và áp lực ở vùng ngoại vi. Sự kết hợp của 2 lực này, cùng với lớp nước mắt đã phân bố lại mật độ của tế bào biểu mô giác mạc làm thay đổi chiều dày của lớp biểu mô tại vùng trung tâm và cạnh trung tâm, do đó làm tăng hiệu quả của phương pháp và giúp cho kính định vị trung tâm tốt hơn trên bề mặt giác mạc.


Vùng điều trị



Vùng cạnh tâm

(a)


Vùng chu vi

(b)

(c)


Hình 6: Hình ảnh kính trên giác mạc và sự biến đổi trên hình chụp bản đồ giác mạc



    1. An toàn

Tháng 1 năm 2016, Yue M. Liu và cộng sự đã công bố tổng kết dựa trên 170 bài báo đăng trên các tạp chí khác nhau, trong đó có 58 bài đăng bằng tiếng Anh, 112 bài đăng bằng tiếng Trung (của các tác giả Trung quốc đại lục và Đài loan). Tổng kết này nhằm mục đích nêu ra các yếu tố liên quan tới việc ứng dụng phương pháp chỉnh hình giác mạc an toàn và hiệu quả. Từ các kết luận này các cơ sở chuyên khoa mắt cũng như các bác sĩ triển khai kĩ thuật này cần có quy trình thực hiện từ giai đoạn tư vấn lựa chọn phương pháp điều chỉnh tật cận thị, đánh giá tình trạng mắt, mức độ cận thị, cũng như trong suốt quá trình sử dụng kính tiếp xúc qua đêm.

Hình 7: Cơ chế tác dụng của phương pháp chỉnh hình bề mặt giác mạc bằng kính áp tròng ban đêm



  • Yếu tố tuổi cũng đã được nghiên cứu trên những người sử dụng kính áp tròng ban đêm, các nghiên cứu chỉ ra sự tác động trên bề mặt lớp biểu mô giác mạc xuất hiện sớm, nhanh cho kết quả thị lực tốt vào ban ngày. Nghiên cứu của Jaikishan Jayakumar và cs tiến hành trên 3 nhóm lứa tuổi khác nhau, nhóm I tuổi trung bình là 9,5 ± 1,7 năm, nhóm II là 24,6 ± 3,7 năm, nhóm III là 43,9 ± 6,1 năm. Quan sát trong suốt quá trình sử dụng kính ở người lớn tuổi thị lực không ổn định nếu độ cận thị cao. Mức độ ổn định thị lực có thể liên quan tới thời gian đặt kính một đêm và số đêm sử dụng kính trong một tuần của nhóm người lớn tuổi.

  • Nhãn áp/ Cảm giác giác mạc giảm hơn so với bình thường trong khoảng 1 tuần đầu khi bắt đầu đặt kính ban đêm, sau đó trở về bình thường

  • Chiều dày giác mạc thay đổi rõ sau 1 đêm sử dụng kính, chiều dày giác mạc trung tâm giảm, cạnh tâm tăng ở lớp biểu mô. Sự thay đổi chiều dày giác mạc ổn định sau 1 tháng đến 3 tháng sử dụng kính ban đêm. Lớp nhu mô phía trước của giác mạc trong vài tuần đầu có biểu hiện phù nhẹ, không ảnh hưởng tới độ trong của giác mạc, sau đó mất hoàn toàn. Nghiên cứu về các chỉ số sinh học khác của lớp biểu mô giác mạc như khả năng thẩm thấu, khả năng cảm giác và đàn hồi với lực tác dụng trên bề mặt của giác mạc cho thấy không có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê.

  • Tế bào nội mô giác mạc không thay đổi về mật độ cũng như hình thái tế bào.

  • Các chất lắng đọng trên bề mặt lớp biểu mô giác mạc bản chất là các tế bào biểu mô chết theo chương trình, chất lipid, protein là các thành phần có trong nước mắt. Việc hình thành lắng đọng liên quan chặt chẽ tới việc làm sạch kính tiếp xúc và bảo quản kính bằng các loại dung dịch.

  • Sự toàn vẹn của lớp biểu mô giác mạc, sự bền vững của màng nước mắt có liên quan chặt chẽ đến thao tác tháo lắp kính tiếp xúc, thiết kế mặt sau của kính, việc thử kính và quyết định thông số kính có phù hợp không, gây nên mất 2-3 hàng tế bào biểu mô giác mạc, hoặc tróc tế bào biểu mô, khô mắt. Trên những mắt cận thị cao, sử dụng kính chỉnh hình giác mạc thời gian kéo dài (>7 năm) lớp biểu mô giác mạc có bắt màu fluorescein rải rác dạng chấm.

  • Nhiễm khuẩn giác mạc đe dọa gây giảm thị lực, cần được cảnh báo và có các biện pháp phòng ngừa. Năm 1998, Van Meter và cộng sự báo cáo bằng tiếng Anh và gần đây là các báo cáo từ Trung quốc đại lục, Đài loan, Hồng Kông về nhiễm khuẩn giác mạc trong số những người sử dụng kính áp tròng qua đêm. Các báo cáo nhận định các yếu tố liên quan, gây nên nhiễm khuẩn giác mạc 1) bác sĩ và người sử dụng kính đều không được đào tạo. 2) Quy trình thử kính không chuẩn. 3) người sử dụng kính không tuân thủ quy trình bảo quản kính, tháo lắp kính như đã cam kết. 4) bỏ khám định kì. Tỷ lệ nhiễm khuẩn giác mạc tính tổng nhiều trung tâm và trong nhiều năm dựa trên các báo cáo là 7,7 ca/ 10000 ca (CI = 95%). Nhiễm khuẩn giác mạc không liên quan đến thiết kế kính hoặc hãng kính.

TÀI LIỆU THAM KHẢO



  1. Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự. Khảo sát tỷ lệ tật khúc xạ và kiến thức, thái độ, hành vi của học, cha mẹ học sinh và giáo viên về tật khúc xạ tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh 2009, 13 (S1): 13 -25.

  2. Bài viết về tỷ lệ tật khúc xạ của Tiến sĩ Nguyễn Văn Quý đăng trên trang web của tổ chức Fred Hollow.

  3. Nguyễn Bích Ngọc và cộng sự. Nghiên cứu tỷ lệ tật khúc xạ học đường. Tạp chí Nhãn khoa Việt nam 2009, 12: 24-28.

  4. Vitale S. et al. Increased prevalence of myopia in the United States between 1971 -1971 and 1999- 2004. Archives of Ophthalmology 2009, 127(12): 1632-39.

  5. Mingguang He et al. Prevalence of Myopia in Urban and Rural Children in Mainland China. Optometry and Vision Science 2009, 86(1): 40-44.

  6. LLK Lin et al. Prevalence of Myopia in Taiwanese SchoolChildren :1983-2000. Ann Acad Med Singapore 2004, 33: 27-33

  7. Fan DS, et al. Prevalence, incidence, and progression of myopia of school children in Hong Kong. Investigative Ophthalmology Visual Sciences 2004 ,45(4) 1071-5

  8. Mutti, D, O; Zadnik, K.. Is computer use a risk factor for myopia?. Journal of the American Optometric Association 1996, 67(9): 521-30.

  9. Saw, Seang-Mei,Chua, Wei-Hua,Hong,Ching-Ye, Wu,Hui-Min,Chan, Wai-Ying, Chia, Kee-Seng, Syone, Richard A., Tan Donald. Nearwork in Early Onset Myopia. Invest. Ophthalmol. Vis. Sci. 2002, 42 (2): 332-339.

  10. Goss, DA, Rainey BB. Relationship of accommodative response and nearpoint phoria in a sample of myopic children. Optom Vis Sci 1999;76(5):292-4.

  11. Swarbrick HA. Orthokeratology review and update. Clin Exp Optom 2006, 89(3): 124-143.

  12. Swarbrick HA. Orthokeratology (corneal refractive therapy): what is it and how does it work? Eye Contact Lens 2004, 30(4):181-5.

  13. Doughman D. Is corneal refractive therapy a new modality whose time has come or repackaged orthokeratology whose time has passed?A view from an experienced corneal Clinicians. Eye Contact Lens 2004, 30(4):219-22.

  14. John Mountford, David Ruston, Trusit Dave. Textbook of Orthokeratology: Principles and Practice. The 1st Edition.

  15. Yue M. Liu, Peiying Xie. The Safety of Orthokeratology: A Systemic Review. Eye & Contact Lens 2016,42: 35-42.

  16. Cho P, Cheung SW. Retardation of Myopia in Orthokeratology (ROMIO) Study: A 2-Year Randomized Clinical Trial. Invest Ophthalmol Vis Sci 2012, 53(11):7077-85.

  17. Jeffrey J. Walline. Myopia Control: A Review. Eye & Contact Lens 2016,42: 3-8.

  18. Chan B, Cho P, Cheung SW. Orthokeratology practice in children in a university clinic in Hong Kong. Clin Exp Optom 2008, 91(5):453-60.

  19. Kobayashi Y, Yanai R, Chikamoto N, Chikama T, Ueda K, Nishida T. Reversibility of effects of orthokeratology on visual acuity, refractive error, corneal topography, and contrast sensitivity. Eye Contact Lens 2008, 34(4):224-8.

  20. Johnson KL, Carney LG, Mountford JA, Collins MJ, Cluff S, Collins PK. Visual performance after overnight orthokeratology. Cont Lens Anterior Eye 2007, 30(1):29-36.

  21. Barr JT, Rah MJ, Jackson JM, Jones LA. Orthokeratology and corneal refractive therapy: a review and recent findings. Eye Contact Lens 2003, 29(1 Suppl):S49-53.

  22. Cho P, Cheung SW, Edwards MH, Fung J. An assessment of consecutively presenting orthokeratology patients in a Hong Kong based private practice. Clin Exp Optom 2003, 86(5):331-8.

  23. Rah MJ, Jackson JM, Jones LA, Marsden HJ, Bailey MD, Barr JT. Overnight orthokeratology: preliminary results of the Lenses and Overnight Orthokeratology (LOOK) study. Optom Vis Sci. 2002, 79(9):598-605.

  24. González-Méijome JM, Jorge J, Almeida JB, Parafita MA. Contact lens fitting profile in Portugal in 2005: strategies for first fits and refits. Eye Contact Lens 2007, 33(2):81-8.

  25. Soni PS, Nguyen TT, Bonanno JA. Overnight orthokeratology: refractive and corneal recovery after discontinuation of reverse-geometry lenses. Eye Contact Lens 2004. 30(4):254-62.

  26. Cho P, Cheung SW, Edwards M. The longitudinal orthokeratology research in children (LORIC) in Hong Kong: a pilot study on refractive changes and myopic control. Curr Eye Res 2005, 30(1):71-80.

  27. Walline JJ, Rah MJ, Jones LA. The Children's Overnight Orthokeratology Investigation (COOKI) pilot study. Optom Vis Sci 2004, 81(6):407-13.

  28. Adams,D.W. and McBrien, N.A. Prevalence of myopia and myopic progression in a population of clinical microscopists. Optom. Vis. Sci. 1992, 69: 467-473

  29. Szczotka-Flynn L, Diaz M. Risk of corneal inflammatory events with silicone hydrogel and low dk hydrogel extended contact lens wear: a meta-analysis. Optom Vis Sci. 2007, 84(4):247-56.

  30. Stapleton F. Contact lens-related microbial keratitis: what can epidemiologic studies tell us?.Eye Contact Lens 2003, 29(1 Suppl):S85-9.

  31. Efron N, Morgan PB, Hill EA, Raynor MK, Tullo AB. The size, location, and clinical severity of corneal infiltrative events associated with contact lens wear. Optom Vis Sci. 2005, 82(6):519-27.

  32. Efron N, Morgan PB, Hill EA, Raynor MK, Tullo AB. Incidence and morbidity of hospital-presenting corneal infiltrative events associated with contact lens wear. Clin Exp Optom. 2005, 88(4):232-9.

  33. Robine R. Shalmer et al. Survey of relationship between age, environmetal exposures, general healthstatus in younger contact lens wearers. Contact lens & Anterior Eye, 2012, 35S:e33-e50.

  34. Laura E. Downie, Russell Lowe. Corneal Reshaping Influences Myopic Prescription Stability (CRIMPS): An Analysis of Effect of Orthokeratology on Childhood Myopic Refractive Stability. Eye & Contact Lens 2013, 39:303-310

  35. Jacinto Santodomingo-Rubido et al. Factors Preveting Myopia Progression with Orthokeratology Correction. Optom Vis Sci 2013, 90(11):00-00

  36. Takahiro Hiraoka et al. Long-term Effect of Overnight Orthokeratology on Axial Length Elongation in Childhood Myopia: A 5 year follow up study. Optom Vis Sci 2012, 53:3913-3919

  37. Earl L. Smith III. Optical Treatment Strategies to slow myopic progression: Effect of visual extent of optical treatment zone. Experimental Eye Reaserch 2012

  38. Earl L. Smith III et al. Observation on the effects of form deprivation on the refractive status of the monkey. Invest Ophthalmol Vis Sci 1987, 28: 1236-1245

  39. Earl L. Smith III et al. Hemiretinal form deprivation: evidence of local control of eye growth and refractive development in infants monkey. Invest Ophthalmol Vis Sci 2009ª, 50: 5057-5069

  40. Earl L. Smith III et al. Effect of optical defocus on refractive development in infant monkeys: evidence for local, regionally selective mechanism. Invest Ophthalmol Vis Sci 2010, 51:3864-3873

  41. Earl L. Smith III et al. Peripheral vision can inluence eye growth and refractive development in infant monkeys. Invest Ophthalmol Vis Sci 2005, 46:3965-3972

  42. Tarbenero J. Et al. Peripheral refraction profiles in subjects with foveal low refractive errors. Optom Vis Sci 2011, 88:388-394.
1   2


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương