Tìm Hiểu SÁu phái triết họC ẤN ĐỘ ht. Mãn Giác



tải về 1.03 Mb.
trang1/37
Chuyển đổi dữ liệu16.10.2017
Kích1.03 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   37
Tìm Hiểu
SÁU PHÁI TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ
HT.Mãn Giác

---o0o---



Nguồn

http://www.quangduc.com

Chuyển sang ebook 6-8-2009

Người thực hiện : Nam Thiên – namthien@gmail.com

Link Audio Tại Website http://www.phatphaponline.org
Mục Lục

CHƯƠNG I - TRIẾT THUYẾT MÌMÀMÏSÀ (PÙRAMÌMÀMÏSA) (DI MAN TÁC)

I.KHỞI NGUYÊN

II.CHÁNH TRÍ: HIỆU LỰC CỦA TRI THỨC (Tri thức luận)

III.NGUỒN GỐC CỦA TRI THỨC

IV.THANH THƯỜNG TRỤ

V.ĐA NGUYÊN THỰC TẠI (Bản thể luận)

VI.TỰ NGÃ

VII.CÁC CÚ NGHĨA KHÁC

VIII.NỘI DUNG MÌMÀMÏSÀ-SÙTRA  (Nghĩa vụ đạo đức)

IX.DHARMA: NGHĨA VỤ

Chương II - TRIẾT THUYẾT Sàmïkhya (Số luận)

I.KHỞI NGUYÊN VÀ VĂN HỌC UPANISHAD

II.TRUYỀN THỪA VĂN HỌC

III.HAI MƯƠI LĂM ĐẾ (Bản thể luận)

IV.THUYẾT NHÂN QUẢ

V.TỰ TÁNH (PRAKRÏTI)

VI.PURUSÏA: THẦN NGÃ

VII.Ý NGHĨA HIỆP TÁC (Hiện tượng luận)

VIII.LỊCH TRÌNH HIỆN TƯỢNG HÓA

IX.GIẢI THOÁT LUẬN

Chương III - Triết thuyết Yoga (Du Già)

I.YOGA TRONG UPANISHAD

II.PATANÕJALI

III.QUAN HỆ SÀMÏKHYA - YOGA (Triết lý và Pháp môn Yoga)

IV.BÁT PHẦN DU GIÀ

V.THÀNH TỰU VÀ GIẢI THOÁT

Chương IV - Triết thuyết Vaisùesïika (Thắng luận)

I.Ý NGHĨA

II.LỊCH SỬ

III.CÚ NGHĨA: (PADÀRTHA - Học thuyết)

IV.CỰC VI LUẬN

V.TRIỀN PHƯỢC VÀ GIẢI THOÁT

VI.KẾT LUẬN

Chương V - Triết thuyết Nyàya (Chính Lý) 

I.TỔNG QUÁT

II.CÁC CHỦ ĐIỂM CỦA TRIẾT LÝ

III.TRI GIÁC HAY HIỆN LƯỢNG (Pratyaksïa - Hiệu lực của tri thức)

IV.SUY LÝ HAY TỈ LƯỢNG (ANUMÀNA)

V.THÍ DỤ LƯỢNG (UPAMÀNA): Loại suy)

VI. THANH LƯỢNG (SÙABDA-PRAMÀNA - CHÍNH LÝ NGÔN NGỮ)

VII.NGŨ CHI TÁC PHÁP (Pháp thức luận lý)

VIII.TÔNG (PRATIJNÕA)

IX.LẬP NHÂN

X.DỤ (UDÀHARANÏA)

XI.HIỆP (UPANAYA) và KẾT (NIGAMANA)

XII.TỢ NHÂN (HETVÀBHÀSA)

Chương VI - Triết thuyết Vedànta (Phệ Đàn Đa) 

I.VEDÀNTA VÀ UPANISHAD (Khởi điểm của Nhất nguyên Tuyệt đối luận)

II.PHÂN LOẠI CÁC UPANISHAD SƠ KHỞI

III.BRAHMA-SÙTRA:  CĂN BẢN VEDÀNTA

IV.GAUDÏAPÀDA: KHỞI ĐIỂM NHẤT NGUYÊN TUYỆT ĐỐI LUẬN

V.GAUDÏAPÀDA VÀ PHẬT GIÁO

VI.TIỂU SỬ VÀ TÁC PHẨM VEDÀNTA TRONG TƯ TƯỞNG SÙANÏKARA

VII.VÔ MINH VÀ HUYỄN HÓA

VIII.BRAHMAN VÀ ÀTMAN: NHẤT THỂ TUYỆT ĐỐI

IX.TRI THỨC VÀ GIẢI THOÁT

X.PHÁT TRIỂN KHUYNH HƯỚNG HỮU THẦN

XI.TIỂU SỬ RÀMÀNUJA

XII.PHÊ BÌNH SÙANÏKARA

XIII.CỤC HẠN BẤT NHỊ (VISÙISÏTA-ADVAITA)

XIV.THẦN LUẬN

XV.GIẢI THOÁT

XVI.MADHVA và VEDÀNTA NHỊ NGUYÊN

PHỤ LỤC I

I.TRIẾT THUYẾT CỔ SÀMÏKHYA (SỐ LUẬN)

II.PHÁI ĐẠO HỌC YOGA

III.HỌC PHÁI MÌMÀMÏSÀ (DI MAN TÁC)

IV.HỌC PHÁI VAISÙESÏIKA (THẮNG LUẬN)

V.HỌC PHÁI NYÀYA (CHÍNH LÝ) VỚI KHOA LUẬN LÝ HỌC

VI.HỌC PHÁI VEDÀNTA (PHỆ ĐÀN ĐA)

VII.SIÊU HÌNH HỌC VỀ NGÔN NGỮ


---o0o---


CHƯƠNG I - TRIẾT THUYẾT MÌMÀMÏSÀ (PÙRAMÌMÀMÏSA) (DI MAN TÁC)

I.KHỞI NGUYÊN


Tất cả sáu phái triết học Ấn Độ, theo Vàcaspati Misùra, đều lấy Veda làm thẩm quyền. Nhưng riêng có hai bộ phận của Mìmàmïsà được coi như là trực tiếp thừa kế tư tưởng Veda. Một bộ phận nhấn mạnh trên thánh điển Brahmanïa chú trọng về các nghi tiết tế tự thần linh, lập thành bộ phận hành nghiệp (karma-kanïdïa), gọi là phần trước hay Tiền Mìmàmïsà (Pùrva-Mìmàmïsà). Bộ phận khác, chú trọng về tri thức và lập thành trí nghiệp (jnõàna-kanïdïa), và được gọi là Hậu Mìmàmïsà (Uttara-Mìmàmïsà).

Từ ngữ Mìmàmïsà có ngữ căn là “man”, nghĩa là tư duy. Sự phát triển của nó song song với sự phát triển về ngữ pháp Sanskrit. Nguồn gốc của nó khởi từ thời đại của nền văn học Brahmanïa. Các tác phẩm trong thời đại này chuyên chú về các nghi thức tế tự. Theo thời gian, nhiều nghi vấn được đặt cho các lễ nghi đó. Bằng phương pháp và theo ý nghĩa nào mà một cuộc lễ như thế mang lại nhiều hiệu quả tốt đẹp cho người tế tự, đây có lẽ là những hoài nghi đương nhiên, khi con người phản tỉnh về ý nghĩa nơi những hành động của mình. Tiến xa hơn nữa, con người nỗ lực để tìm thấy một nền tảng triết lý, hay một vũ trụ luận nào đó của một cuộc lễ.

Cùng lúc, con người cũng phản tỉnh, tư duy về ý nghĩa của ngôn ngữ; với những lời cầu nguyện như thế, chúng được kết hợp như thế nào để có thể chuyển đạt nguyện vọng của người cầu nguyện đến các thần linh. Ngay trong đời sống thường nhật, bất cứ là dân tộc nào và nói thứ tiếng nào, khi mà những tương quan xã hội càng ngày càng trở nên phức tạp, thì các quy tắc trở thành mối bận tâm của loài người. Trật tự của các tiếng, nội dung của một mệnh đề, và sự liên hệ giữa các mệnh đề diễn tả một ý tưởng; tất cả những điều này đều bao hàm một mối tương quan xã hội vô cùng mật thiết. Nếu thấy được tính chất của quan hệ ấy, ta có thể thấy được quy ước cộng đồng của một xã hội trong từng thời đại.

Trên phương diện tôn giáo, sự giao tiếp giữa người và thần linh trở thành mối quan tâm không phải là nhỏ. Trước những hiện tượng bí mật của thiên nhiên, con người lúc nào cũng chỉ là một sinh vật bé bỏng. Đời sống của họ tùy theo những biến chuyển của thiên nhiên. Con người muốn tìm thấy, muốn nghe được những lời phán của các thần linh ngự trị trong thiên nhiên, để thỏa mãn những hành động mà mình phải có, và như vậy mới mong đạt đến một cuộc đời yên ổn, hạnh phúc trong sự bảo bọc của thần linh và thiên nhiên. Trên thế giới, không có một tôn giáo nào lại quên lãng không dạy tín đồ của mình những phương tiện, những quy tắc, để lắng lòng nghe được tiếng nói phán truyền của thần linh.

Trên đây chỉ là những suy luận về sự phát triển tất nhiên của ngôn ngữ. Nhưng chúng không phải không có căn cứ. Các tập Veda nguyên thủy đã cho thấy rõ: các bài ca về Vàk, ngôn ngữ nhân cách hóa, hay về rïta, điều lý vũ trụ, tất cả đều hàm ngụ ý nghĩa bí mật của ngôn ngữ.

Thể của ngôn ngữ tất nhiên là âm thanh. Một tiếng nói, một âm tiết được phản tỉnh về sự chi phối của một âm thanh được phát ra, cố nhiên là vô nghĩa. Nhưng sự kết hợp của một chuỗi âm thanh thành một lời hay một câu nói, là sự bộc lộ những gì ẩn kín sâu xa trong lòng người. Và hơn thế nữa, đấy cũng là sự phát hiện từ những năng lực bí nhiệm của thiên nhiên. Phản tỉnh về sự chi phối của âm thanh đối với năng lực mầu nhiệm đôi khi dẫn đến khuynh hướng coi âm thanh như là bản thể thường tại. Và điều này đã xảy ra nơi các nhà Mìmàmïsà trước kỷ nguyên Tây lịch, và trở thành những tranh luận sôi nổi giữa các nhà Mìmàmïsà và các giáo phái khác sau kỷ nguyên Tây lịch, nhất là với các nhà luận lý học Phật giáo. Đối với các nhà luận lý học này, phái Mìmàmïsà thường được gọi dưới danh hiệu Thanh thường trú luận. Bởi vì, mẫu tiền đề luận lý mà họ thường dẫn chứng để trình bày thế nào là một luận chứng sai lầm, thường thường là chủ trương “âm thanh thường trụ”, sábdahï nityahï.

Chúng ta cũng biết rằng sau sự phát triển của nền văn học Brahmanïa, là tiếp đến nền văn học Àranïayaka, Sâm lâm thư, mà sau này nới rộng thành các tập Upanishad. Trong khi, Brahmanïa chú trọng về tế lễ, thuộc bộ phận Karmakanïdïa, thì trái lại Àranïyaka chú trọng về triết lý thuộc bộ phận Jnõànakanïdïa. Bộ phận trước trở thành hệ phái Purva-Mìmàmïsà hay nói tắt là Mìmàmïsà. Bộ phận sau trở thành hệ phái Uttara-Mìmàmïsà, hay Vedànta. Các nghi tiết phụng thờ và tế tự thần linh của Brahmanïa đầu tiên được tập thành và hệ thống hóa bởi Jaimini, trong tác phẩm Mìmàmïsà-sùtra, khoảng 200 trước Tây lịch. Tác phẩm này về sau trở thành nền tảng của triết phái Mìmàmïsà.

Mìmàmïsà-sùtra cũng bắt đầu như Brahma-sùtra của triết phái Vedànta. Một bên chỉ định karmakanïdïa và một bên chỉ định jnõànakanïdïa. Mìmàmïsà-sùtra bắt đầu nói: “athàto dharma-jijnõàsà”: bấy giờ, khởi sự nghiên cứu về dharma. Từ ngữ này có một lịch sử phức tạp trong tư tưởng triết học Ấn Độ. Nhưng ở đây nó muốn nói đến “bổn phận” và có nguồn gốc trong thánh thư Veda. Sùtra I.i.2 nói: “codanàlaksïano’rtho dharmahï”, pháp là mục đích của nhân gian mà thánh thư Veda khải thị đặc tướng. Trong khi đó, Brahma-sùtra I.i.1 nói: “athàto brahma-jijnõàsà”, rồi bấy giờ khởi sự khảo nghiệm về Brahman như là Tuyệt đối thể. Trong cả hai, từ ngữ “jijnõàsà” đều có nghĩa là “muốn biết”. Người ta cũng tìm thấy từ ngữ này trong Sàmïkhya-sùtra, theo đó, sự “muốn biết” là động cơ cho nỗ lực diệt trừ đau khổ.

Toàn bộ Mìmàmïsà-sùtra chia làm 12 chương (adyàya), 60 tiết (pàda), 915 đề mục (adhikaranïa); mỗi đề mục được trình bày bằng một số sùtra và tất cả có 2.742 sùtras. Trong số các bản chú giải hiện còn, xưa nhất có lẽ là bản của SÙabara, được gọi là SÙabarabhàsïya; thời đại không rõ, nhưng được phỏng định khoảng 57 trước Tây lịch bởi Dr. Ganïgànàtha Jhà, người đầu tiên, và cũng gần như duy nhất, viết nhiều về triết phái này. Chú giải của SÙabara lại được chú giải thêm bởi hai quan điểm khác nhau, do Kumàrila viết Slokavartika, và Prabhàkara viết Brïhati. Cả hai đều sống trong khoảng thế kỷ thứ VII.

Kumàrila gọi đầy đủ là Kumàrila Bhatïtïa, cùng một thời đại với SÙanïkara nhưng lớn tuổi hơn SÙanïkara. Đó là thời đại hưng thịnh của Phật giáo. Cả hai, theo quan điểm của hệ phái mình, cùng kịch liệt công kích Phật giáo, cổ xúy phục hưng tư tưởng chính thống của Veda. Prabhàkara được tôn xưng là Guru. Sự bất đồng giữa hai nhà chú giải này tạo thành hai ngành Mìmàmïsà, được gọi là ngành Bhatïtïa và ngành Guru. Có lẽ ngành Guru của Prabhàkara có trước Kumàrila, nhưng trước bao lâu thì chưa được xác định.

Mỗi ngành Mìmàmïsà cũng có tác phẩm riêng, dựa vào bản chú giải của mỗi vị Tổ của mình. Nhưng Dasgupta cho rằng những chú giải của họ không quan trọng, vì không có ý tưởng mới mẻ nào ngoài Bhatïtïa và Guru.

---o0o---


  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   37


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương