Tài liệu tham khảo



tải về 0.52 Mb.
trang1/7
Chuyển đổi dữ liệu27.07.2016
Kích0.52 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7
Tài liệu tham khảo

1/ Kinh Thánh

2/ Sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo (bản in năm 1992 hoặc bản in 2010)

3/ Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II (Hiến Chế Về Phụng Vụ Thánh -Sacrosantum Concilium) ; Hiến Chế tín lý về Giáo Hội - Lumen Gentium) ; Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải Của Thiên Chúa - Dei Verbum).

4/ “Hướng dẫn tổng quát việc dạy Giáo lý” của Thánh bộ Giáo sỹ (1997)

5/ “Giáo lý mới” của Hòa Lan

6/ Tóm tắt GLGHCG của HĐGMVN

7/ Tài liệu học hỏi, đào tạo Giáo lý viên của Nha Trang

8/ Bộ Giáo lý hồng ân của Xuân Lộc

9/ Luân lý cơ bản (của cha Phêrô Hoàng Bảo – phần Bí tích)

10/ Một số tham khảo các trang Web của Đà Lạt, Nha Trang, Vĩnh Long, Ban Giáo lý cho người Việt Nam tại Mỹ, Giáo lý từ xa của Thanhlinh.net

11/ Giáo Lý Giáo Hội Việt Ban (Của tiểu ban Giáo lý HĐGMVN, xb năm 1996)

12/ Bản Toát yếu sách Giáo lý của HTCG (của HĐGM-VN – 2007)

PHẦN I : TIN

PHẦN II : PHỤNG VỤ BÍ TÍCH

PHẦN III : LUÂN LÝ

PHỤ TRƯƠNG
PHẦN I: TIN

Kinh tin kính

                                                                


Nhập đề               

                                                                

Bài 1   : Con người có khả năng đón nhận Thiên Chúa

Bài 2   : Thiên Chúa tới gặp con người       

Bài 3   : Con người đáp trả lời Thiên Chúa           

Bài 4   :Thiên Chúa Duy Nhất.       

Bài 5   : Chúa Ba Ngôi.       

Bài 6   :Thiên Chúa sáng tạo và quan phòng.           

Bài 7   :Thiên Chúa tạo dựng con người.      

Bài 8   : Sự sa ngã.          

Bài 9   : Chúa Giêsu Kitô Con Một Thiên Chúa.   

Bài 10   : Con Thiên Chúa làm người.               

Bài 11   : Cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu.     

Bài 12   : Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.         

Bài 13 : Chúa Giêsu sống lại và lên trời.     

Bài 14 : Chúa Giêsu phán xét.   

Bài 15 : Chúa Thánh Thần.      

Bài 16 : Hội Thánh.                   

Bài 17 : Các đặc tính của Hội Thánh.           

Bài 18 : Tổ chức của Hội Thánh.            

Bài 19 : Các Thánh thông công.        

Bài 20 : Đức Maria Mẹ Chúa Kitô, Mẹ Hội Thánh.  

Bài 21 : Ơn Phục Sinh và đời sống vĩnh cửu.               

DẪN NHẬP

1- ĐỊNH NGHĨA GIÁO LÝ

Giáo lý là lý thuyết, lý lẽ của một đạo, một tôn giáo: Sách Giáo lý.

Là trình bày chân lý đức tin cách đơn giản, cụ thể, sống động, giúp người học hiểu và sống đức tin: Dạy Giáo lý. Làm vang dội Lời Chúa trong lòng người nghe, giúp họ hoán cải. Là một phần của Thần học mục vụ, một môn học như mọi môn học khác: có thầy dạy trò nghe, có học có hành; nhưng khác ở chỗ: chính Chúa dạy cả thầy lẫn trò. “Giáo lý là giáo dục đức tin cho trẻ em, giới trẻ và người lớn, được hiểu cách đặc biệt là giảng dạy đạo lý Kitô giáo, thực hiện cách có tổ chức và có hệ thống, nhằm dẫn vào sự sung mãn đời sống Kitô hữu ” (DGL.18). 

2 - BẢN CHẤT CỦA GIÁO LÝ

Giáo lý là tác động chính yếu của Giáo hội trong sứ mạng Truyền giáo.

Giáo lý là môn Trí dục: dùng ngôn ngữ, hình ảnh... để làm cho hiểu.

Giáo lý là môn Đức dục: đưa giá trị đạo đức vào tâm hồn người, để họ hiểu, cảm nghiệm và quyết tâm hành động

Giáo lý là sự Hướng dẫn đến sự gặp gỡ và hiệp thông trong đức tin: Chúa nói, con người tiếp nhận, đưa đến gặp gỡ và hiệp thông với Chúa và Giáo Hội.


Chúa nói..........................................Gặp gỡ Chúa Sống với Chúa

Con người

tiếp nhận

Bài giáo lý..........................................Quyết tâm cầu nguyện

Giảng dạy Thực tập: - Tài liệu, Bài tập



3 - VỊ TRÍ CỦA GIÁO LÝ 
 

Giáo Lý là một trong những hình thức thi hành nhiệm vụ giáo huấn của GH:

1). Truyền giảng Phúc âm: cho người chưa tin (Tiền Huấn giáo).   

2). Dạy Giáo lý: Đào sâu đức tin trong các lớp Giáo lý (Huấn giáo).  

3). Giảng thuyết: bài giảng trong Thánh lễ (Homélie).
4). Thần học: trình bày chân lý đức tin cách hệ thống và khoa học.


4 - MỤC ĐÍCH GIÁO LÝ 
 

1). Giáo dục đức tin: (hay Thông truyền Đức tin)   

Đào tạo trưởng thành Đức tin: đứng vững trong mọi hoàn cảnh.

Đào tạo ki tô hữu toàn diện: nhân bản, qui hướng về Chúa Kitô.


Đào tạo ki tô hữu sẵn sàng dấn thân phục vụ: Giáo Hội, xã hội.

2). Mục đích của Dạy Giáo lý không chỉ nhằm giúp con người tiếp xúc gặp gỡ, nhưng còn hiệp thông thân mật với Đức Kitô: chỉ mình Ngài đưa ta đến tình yêu Chúa Cha, trong Thánh Thần, và làm cho ta thông dự vào đời sống TCBN (DGL.5).

3). Cụ thể:- Giáo lý nhằm Chuẩn bị lãnh nhận Bí tích, qua 3 giai đoạn:

Thông truyền kiến thức tôn giáo (hiểu biết) Hoán cải bản thân (luân lý) Đưa vào đời sống mới trong Chúa Giêsu (Bí tích)



5 - NỘI DUNG GIÁO LÝ CÔNG GIÁO 
 

Cấu trúc căn bản: Có 4 phần (x.GLGHCG, 1992 )



I - Tuyên xưng đức tin  (Tín lý)  

II - Các Bí tích đức tin (Phụng vụ - Bi tích)  

III - Đời sống đức tin (Luân lý)  

IV - Kinh nguyện trong đời sống đức tin (Kinh Lạy Cha)
 

Bốn phần được nối kết với nhau = Mầu nhiệm Kitô giáo: là đối tượng của Đức tin (P.I); mầu nhiệm ấy được cử hành và thông truyền trong Phụng vụ (P.II); mầu nhiệm ấy soi sáng và nâng đỡ tín hữu trong đời sống Luân lý (P.III); mầu nhiệm ấy đặt nền tảng cho Kinh nguyện, diễn tả đặc biệt qua kinh “ Lạy Cha ” , là nội dung lời cầu nguyện của tín hữu.

Dạy Giáo lý, ta cần trình bày Tin Mừng tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, mà vị trí trung tâm Giáo lý là Đức Kitô, Đấng Cứu độ duy nhất, Đấng luôn hiện diện và hoạt động nơi trần thế, qua Thánh Thần và Hội Thánh.

6 - NGUỒN MẠCH GIÁO LÝ 
 

Giáo lý phát xuất từ kho tàng Lời Chúa, được khơi từ 4 nguồn sau:
 

Thánh Kinh: là nguồn chủ yếu của Giáo lý: chính Chúa ngỏ lời với con người. TK thuật lại sự can thiệp của TC vào lịch sử nhân loại để thực hiện việc cứu độ. Nội dung Lịch sử cứu độ cũng là nội dung Giáo lý.

Thánh Truyền: là một phần mạc khải, được lưu lại dưới hình thức truyền khẩu và trong các lời giáo huấn của các Giáo phụ.

Phụng Vụ: Phụng vụ làm cho bài Giáo lý trở thành cụ thể, sống động, biến sự hiểu biết bằng lý trí thành cảm nghiệm nơi tâm hồn. Phụng vụ tạo sự hiểu biết các mầu nhiệm ki tô giáo và gợi lên lòng tin, cậy, mến.

Giáo huấn và đời sống của Giáo Hội: Giáo huấn của Đức Giáo hoàng, các Công Đồng, Giám mục đoàn, và đời sống chứng tá đức tin của toàn thể Dân Chúa cũng là nguồn sống động và mang thời sự của Giáo lý.
ĐỨC TIN KITÔ GIÁO.

Từ những ngày đầu tiên, các Tông Đồ đã diễn tả và trao ban Đức Tin cho người khác bằng những công thức vắn gọn.

Hội thánh cũng tiếp tục truyền thống đó, nên có những lời tuyên xưng đức tin gọi là Tín Biểu. Do đó chúng ta có hai bản tuyên xưng Đức Tin, gọi là Kinh Tin Kính.

Kinh Tin Kính của các Tông Đồ. Trong đó tóm gọn 12 tín điều phải tin.
Kinh Tin Kính của Công Đồng Nicéa và Constantinopoli.

Đây là kinh Tin Kinh mà chúng thường đọc trong thánh lễ. Kinh nầy rỏ ràng và chi tiếc hơn kinh thời các Tông Đồ.

Bản tổng hợp Đức tin nầy soạn thảo dựa trên những giáo lý quan trọng nhất của Thánh Kinh, để tạo nên một giáo huấn Đức Tin duy nhất.

12 điều kinh  Tin Kính. 

1.Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.

2.Tôi tin k1nh Đức Chúa Giêsu là Con Một Đức Chúa Cha cùng là Chúa Chúng tôi.

3. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bỏi Bà Maria đồng trinh.

4.Chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông.

5.Ngày thứ ba bởi trong kẻ chêùt mà sống lại.

6. Lên Trời ngự bên hữu đức Chúa Cha phép tắc vô cùng.

7.Ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.

8.Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.

9.Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công.

10.Tôi tin Phép tha tội.

11.Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.

12.Tôi tin hằng sống vậy. Amen .

Bài 1 : CON NGƯỜI "CÓ KHẢ NĂNG" ÐÓN NHẬN THIÊN CHÚA

27-49

Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật là hiển nhiên trước mắt họ, vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ” (Rm 1,19)


I - CON NGƯỜI KHAO KHÁT THIÊN CHÚA (GLGHCG, số 27 – 30)

1/ Xác định :

Khả năng, là những điều kiện cần và đủ để có thể làm một điều gì đó. Ở đây, cụ thể, khả năng đón nhận Thiên Chúa của con người tức là con người có những điều kiện để có thể nhận biết Thiên Chúa của mình, vị thần của mình, vì Thượng Đế của mình mà chưa cần tới mạc khải của Thiên Chúa.


2/ Con người khao khát Thiên Chúa

Con người ở bất cứ thời nào, lứa tuổi nào cũng đều khao khát hạnh phúc. Và vì thế, mọi người đều tìm kiếm hạnh phúc. Phải chăng hạnh phúc ở tiền bạc, ở danh vọng, ở hưởng thụ, tiện nghi … ? Trong thực tế, đã có biết bao nhiêu người đạt danh vọng cao, tiền bạc chất đống mà vẫn không thấy hạnh phúc, vẫn thất vọng chán chường ; luôn khao khát một điều gì khác hơn, cao hơn, không bao giờ thấy đủ cho chính mình.

Nếu ta sống mà không biết mục đích để làm gì thì cuộc sống còn có ý nghĩa gì đâu ? Vì thế, tìm hiểu mục đích đời người là một vấn đề tối ư quan trọng đối với mỗi người chúng. Ai sẽ chỉ cho ta biết mục đích đời mình ?

Kinh Thánh đã cho ta biết : từ thuở ban đầu, con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1,26-27). Thiên Chúa muốn cho con người được sống hạnh phúc. Chúa Giêsu cũng đã nói “Sự sống đời đời, đó là nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Chúa Giêsu Kitô” (Ga 17,3).

Được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, con người tự bản chất là một tạo vật có tôn giáo, xuất phát bởi Thiên Chúa và đi về với Thiên Chúa, có mối tương quan hiệp thông với Thiên Chúa và Thiên Chúa không ngừng lôi kéo con người lại với Người. Chính vì thế, con người tận sâu thẳm của tâm hồn mang nỗi khát mong Thiên Chúa. Và chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm thấy chân lý và hạnh phúc đích thực. Thánh Augustinô đã kêu lên : “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con và lòng con khắc khoải cho tới khi tâm hồn con được an nghỉ trong Chúa” (St. Augustino, tự thuật 1,1). Quả thật, Thiên Chúa là hạnh phúc đích thật và vĩnh cửu của con người.

Không ai trong chúng ta đã thấy Thiên Chúa. Tuy nhiên, thánh Phaolô Tông đồ đã cho ta biết con người có thể nhận biết Thiên Chúa. “Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật là hiển nhiên trước mắt họ, vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ” (Rm 1,19). Như vậy, dù Thiên Chúa là thiêng liêng, không thể xác, con người vẫn có khả năng nhận biết Người, vì Người vẫn đang tỏ mình cho chúng ta.



II. NHỮNG CON ÐƯỜNG GIÚP CON NGƯỜI NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA (GLGHCG số 31 – 35)

Con người luôn khắc khoải đi tìm lời giải đáp về nguồn gốc của mình cũng như của vũ trụ bao la này. Tất cả do đâu mà có ? Phải chăng do ngẫu nhiên mà vũ trụ này lại diệu kỳ đến thế ?

Qua Kinh Thánh (Rm 1,19-20 ; Ep 1,17-19…), đã cho chúng ta thấy rằng con người có thể nhận biết Thiên Chúa bằng nhiều cách thế bổ túc và hoàn thiện nhau :

1/ Con đường vũ trụ thiên nhiên :

Quan sát vũ trụ, con người khám phá ra sự tuyệt vời của nó. Không chỉ là vẻ đẹp huy hoàng của những vì tinh tú soi chiếu lấp lánh khi đêm về, hoặc sự tỏa sáng ấm áp của vầng thái dương vào ban ngày, mà còn biết bao điều lạ lùng của vụ trụ này. Những nhà thiên văn, qua nghiên cứu, đã cho chúng ta thấy : nếu như mặt trời xích lại gần ta một tý, hoặc cách xa trái đất chúng ta một tý nữa, thì con người sẽ không có mặt ở trên trái đất này. Đó là chưa nói đến sự hùng vỹ bao la của vũ trụ và hằng hà sa số những thiên thể khổng lồ gấp mấy triệu lần trái đất. Chúng chuyển động với tốc độ kinh hồn theo một quỹ đạo nhất định.

Lý trí con người khi nhìn xem vũ trụ và trật tự lạ lùng của nó, đã phải nhìn nhận có Đấng quyền năng vô biên tạo dựng nên. Tất cả vẻ đẹp của vũ trụ này là một lời tuyên xưng mạnh mẽ về Đấng đã dựng nên nó. Nó khơi gợi trong lòng người sự thán phục, tâm tình chúc tụng và biết ơn đối với Đấng là nguyên lý của mọi sự. Đến nỗi, thánh Augustinô đã viết : “Bạn hãy hỏi vẻ đẹp của trái đất, hãy hỏi vẻ đẹp của biển cả, hãy hỏi vẻ đẹp của bầu trời hãy hỏi tất cả những thực tại này. Tất cả sẽ trả lời cho bạn rằng : bạn hãy nhìn chúng tôi đẹp, vẻ đẹp này là một lời tuyên xưng. Những cái này đẹp này đều chịu sự thay đổi : vậy ai đã làm nên cái đẹp này ? Nếu không phải là Đấng đẹp tuyệt đối ?” (Bài giảng 241,2).

Hội Thánh dạy rằng, nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí, con người có thể nhận biết Thiên Chúa một cách chắc chắn, vì con người đã được tạo thành “giống hình ảnh Thiên Chúa” (x. St 1,26 ; Hc. MK 6).



2/ Con đường lương tâm :

Ngoài sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng con đường chiêm ngắm vũ trụ, con người còn có thể gặp được Thiên Chúa khi trở về nơi sâu kín trong lòng mình. Đi vào chiều sâu của tâm hồn, với sự cởi mở đón nhận chân lý và cái đẹp ; với lương tâm nhạy bén phân biệt điều lành, điều dữ ; với tự do, biết lựa chọn … con người luôn mang trong mình nỗi khát khi mà không gì có thể lấp đầy được. Một nỗi khát khao vô biên, không chỉ là vật chất, mà còn vượt lên trên, đó là khát khao tìm về CHÂN – THIỆN MỸ.

Ý thức mình có lương tâm, có tự do, ý chí, đồng thời khát khao vươn tới vô biên, vĩnh cửu … Tất cả những điều này giúp ta khám phá ra sự hiện diện của linh hồn thiêng liêng bất tử phát xuất từ nguồn gốc duy nhất là Thiên Chúa hằng hữu.

3/ Con đường mạc khải :

Với trí khôn tự nhiên, nhìn vào sự tốt đẹp và trật tự của vũ trụ, với lương tâm ngay thẳng, con người có thể nhận biết Thiên Chúa. Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh thực tế của lịch sử, con người không dễ nhận biết Thiên Chúa.

Vì thế, Thiên Chúa đã đến với con người bằng một con đường khác : con đường mạc khải. Chính vì yêu thương, Thiên Chúa đã đoái thương tỏ mình cho ta, ban mình cho ta, để ta có thể gặp gỡ, nhận biết và yêu mến Người. Nhờ đó, ta được trở nên con Thiên Chúa và được sống đời đời.

III. QUAN NIỆM CỦA HỘI THÁNH VỀ VIỆC NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA

"Hội Thánh, mẹ chúng ta, khẳng định và dạy rằng: Từ những loài thụ tạo, con người nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí, có thể nhận biết cách chắc chắn về Thiên Chúa như là nguyên lý và cùng đích của mọi loài" (Cđ Vat I: DS 3004; x. 3026; DV 6). Không có khả năng này, con người không thể đón nhận mặc khải của Thiên Chúa. Con người có được khả năng đó là vì đã được tạo dựng "theo hình ảnh Thiên Chúa (x. St 1, 26)" (36, 355).

Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể của mình, con người rất khó nhận biết Thiên Chúa nếu chỉ dựa vào ánh sáng của lý trí, nên cần có ánh sáng của mạc khải (37, 1960).

IV. PHẢI NÓI VỀ THIÊN CHÚA THẾ NÀO ?

Khi chủ trương lý trí có khả năng nhận biết Thiên Chúa, Hội Thánh tin tưởng có thể nói về Thiên Chúa cho tất cả mọi người và với mọi người, tuy nhiên trong giới hạn của con người giới hạn chúng ta, cũng như ngôn ngữ mà chúng ta dùng để có thể diễn tả về Thiên Chúa. Niềm xác tín này là khởi điểm cho cuộc đối thoại của Hội Thánh với các tôn giáo khác, với triết học và khoa học, cũng như với những người vô tín ngưỡng và vô thần (x. 39, 40, 851).

Như thế, có thể nói mọi thụ tạo đều mang dáng vấp nào đó của Thiên Chúa, đặc biệt là con người được sáng tạo theo hình ảnh Người. Những nét hoàn hảo thiên hình vạn trạng của thụ tạo (tính chân, thiện, mỹ của chúng) phản chiếu sự toàn hảo vô biên của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa khởi từ những nét hoàn hảo của thụ tạo, "vì từ sự nguy nga của thụ tạo, người ta luận ra được ý niệm về Ðấng Tạo Hoá" (Kn 13, 5 ; x. 41, 213, 299).

Con người chúng ta giới hạn, nên cần phải cố gắng học hỏi, thanh luyện, để có thể nói về Thiên Chúa một cách chính xác nhất cho anh chị em của mình, mặc dù Thiên Chúa là Đấng mà lý trí con người chúng ta không thể hiểu thấu, hay như Công đồng Latêranô IV đã nói : "Giữa Ðấng Sáng Tạo và loài thụ tạo, không thể nhấn mạnh sự tương đồng mà không làm cho sự bất tương đồng giữa hai bên càng thêm lớn hơn nữa" (Cđ La-tran IV: DS 806), và "chúng ta không thể hiểu được Thiên Chúa như thế nào, mà chỉ hiểu được Người không như thế nào, và những hữu thể khác có vị trí nào trong tương quan với Thiên Chúa" (Th. Tô-ma Aqu. s. gent. 1, 30)(x. 42, 43, 206, 212, 300 370).


Bài 2 : THIÊN CHÚA ÐẾN GẶP CON NGƯỜI

(MẠC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA)

50-141

Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua các ngôn sứ ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.



Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn
I. THIÊN CHÚA MẶC KHẢI "Ý ÐỊNH YÊU THƯƠNG" (x. 51-53)
Với lý trí tự nhiên, con người vẫn có khả năng để nhận biết Thiên Chúa, thế nhưng, việc nhận biết này chỉ là nhận biết của lý trí tự nhiên, và chưa hoàn hảo. Chính vì thế, Thiên Chúa đã phải mạc khải cho con người để con người có thể biết về Thiên Chúa một cách hoàn hảo nhất. Qua Kinh Thánh Cựu Ước, con người đã biết Thiên Chúa, nhưng cái biết đó cũng vẫn chưa hoàn hảo, phải nhờ Đức Giêsu Kitô mạc khải, thì con người mới có thể biết Thiên Chúa một cách hoàn hảo nhất.

Ngày hôm nay, chúng ta tiếp tục học hiểu, đào sâu về mầu nhiệm Thiên Chúa dựa trên Lời Thiên Chúa và giáo huấn của Giáo Hội, bởi chỉ Giáo Hội mới có thể giải thích lời Chúa cách chắc chắn nhất cho chúng ta, và cũng chỉ Giáo Hội mới có khả năng định hướng cho chúng ta hiểu về Kinh Thánh cách đúng nhất, bởi Giáo Hội chính là nơi lưu truyền mạc khải chân truyền nhất.

Cũng như con người chúng ta, nếu chúng ta không nói, không bày tỏ cho người khác biết về mình, thì cái biết của họ mới chỉ là cái biết bên ngoài, chưa thể biết hết về chúng ta được. Thiên Chúa cũng vậy, nói theo kiểu Đức Giêsu đã từng nói : “Không ai biết Thiên Chúa, ngoại trừ Người Con và những ai Người Con muốn mạc khải cho” (Lc 10,22).

II. CÁC GIAI ÐOẠN MẶC KHẢI (x. 54-64)
Để chuẩn bị cho con người đón nhận mạc khải trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã mạc khải cách tiệm tiến cho con người qua từng giai đoạn khác nhau, bởi nếu mạc khải một lúc tất cả các mầu nhiệm, con người không thể nào lãnh hội được ; cũng như cuộc đời con người cần qua các giai đoạn để hiểu biết về nhân sinh quan và vũ trụ quan. Được chia thành 3 giai đoạn :

1/ Giao ước với ông Nô-ê (x. 56-58)

2/ Thiên Chúa tuyển chọn ông Áp-ra-ham (x. 59-61)

3/ Thiên Chúa huấn luyện dân Ít-ra-en (x. 62-64)


III. ÐỨC GIÊ-SU KI-TÔ "ÐẤNG TRUNG GIAN VÀ SỰ VIÊN MÃN CỦA TOÀN BỘ MẶC KHẢI" (DV 2)

Trong Cựu ước, Thiên Chúa đã phán dạy con người qua các ngôn sứ, tiên tri, vua, thủ lãnh …, nhưng những phán dạy đó chỉ mang tính từng phần, mảnh ghép ; với Đức Giêsu, Thiên Chúa “đã nói” hết với con người, hay chúng ta dùng ngôn ngữ của thần học là Thiên Chúa đã mạc khải cho con người trọn vẹn trong và qua Đức Giêsu. Chính vì thế, sau Đức Giêsu, Thiên Chúa không còn nói với con người nữa, vì đã trọn vẹn.



1/Thiên Chúa đã phán dạy mọi sự trong Ngôi Lời (x. 65, 516, 2717)

2/ Sẽ không còn Mặc Khải nào khác nữa (x. 66-67)

Đọc thêm từ số 101 – 141 để bố túc bài 2 này về Thánh Kinh

Bài 3 : CON NGƯỜI ÐÁP LỜI THIÊN CHÚA

142 - 184

Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng,



là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11,1)
Chúng ta đã được Thiên Chúa mời gọi đón nhận tình yêu thương cứu độ của Ngài bằng Lời hằng sống, được tỏ bày qua lịch sử cứu độ và được ghi chép thành sách. Điều quan trọng là chúng ta có mau mắn đáp lại Lời Thiên Chúa hay không ? Đây là vấn đề được đặt ra hôm nay, để mỗi người suy nghĩ và biểu lộ thái độ của mình đối với Lời Thiên Chúa.
I. SỰ VÂNG PHỤC BẰNG ÐỨC TIN (x. 144-149)

Thiên Chúa là Đấng vô hình, mắt thường chúng ta không thể thấy ; nhưng mạc khải lại cho chúng ta thấy Thiên Chúa vẫn đang nói với con người bằng nhiều cách thế khác nhau, nhất là qua Kinh Thánh. Do vậy, con người phải lấy đức tin để đáp lại Lời Thiên Chúa nói với mình. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa đang nói với chúng ta qua Kinh Thánh, qua Giáo Hội của Ngài, như thế cần tin tưởng và tin tưởng tuyệt đối vào Ngài bằng sự đáp trả của đức tin.

Hai gương mẫu cho chúng ta trong đời sống đức tin đó là ông Áp-ra-ham và chính Đức Maria, mẹ Đấng Cứu Thế. Ông Áp-ra-ham đã là biểu tượng cho đức tin của mọi người, mọi nơi và mọi thời, đến nỗi ông được gọi là “Cha của những kẻ tin”, mặc dù ông không sinh ra tất cả mọi người, nhưng là mẫu cho những người tin, tin vào Thiên Chúa, tin vào tình thương của Ngài đang luôn bao bọc và chở che chúng ta.

Đức Maria, cũng là biểu tượng cho Đức tin, nhưng có lẽ biểu tượng cho đức tin của những người đã sống đức tin, hơn là những người chưa sống đức tin, bởi Mẹ đã từng đọc, nghe và suy niệm Lời Thiên Chúa nói với con người.

Tuy nhiên, cả hai đều có mẫu số chung là tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa để rồi phó thác hoàn toàn cuộc đời của mình trong tay từ ái của Ngài, đến nỗi thực hiện điều mà mình chưa biết “sẽ xảy đến cách nào” (Lc 1,34), xảy đến làm sao và cũng không biết rồi Chúa sẽ dẫn mình đến nơi nào, chỉ biết hoàn toàn tin tưởng và phó thác.
II. THÁI ĐỘ CỦA ĐỨC TIN

Nói theo kiểu thánh Phaolô : "TÔI BIẾT TÔI ÐÃ TIN VÀO AI" (2Tm 1, 12), tin vào Thiên Chúa, tin vào Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, tin vào Chúa Thánh Thần là Đấng thánh hóa và đang thánh hóa Giáo Hội của chúng ta. Niềm tin này là niềm tin đặt trọn vào Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh và gắn bó mật thiết với Ngài, bởi chính Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm nền tảng cho đức tin của chúng ta. Hay chúng ta có thể diễn tả thế này :

1/ Chỉ tin vào Thiên Chúa (x. 150, 222)

2/ Tin vào Ðức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa (x. 151, 424)

3/ Tin vào Chúa Thánh Thần (x. 152, 232, 243, 683)

III. NHỮNG ÐẶC ÐIỂM CỦA ÐỨC TIN

Đức tin là một khái niệm trừu tượng, mắt thường chúng ta không thể thấy, không thể diễn tả được bằng những khái niệm mà lý trí con người có thể lãnh hội, nhưng phải diễn tả bằng chính cuộc sống của mình, đến nỗi thánh Giacôbê đã phải nói “Đức tin không có hành động là đức tin chết”(Gc 2,26). Chính vì thể, chúng ta chỉ có thể diễn tả bằng các đặc điểm này :

1/ Ðức tin là một ân sủng (x. 153, 552, 1841, 1996, 2606)

2/ Ðức tin là một hành vi nhân linh (x. 154, 155, 1749, 2126)

3/ Ðức tin và trí khôn (x. 156, 157, 158, 159)

4/ Ðức tin là hành vi tự do (x. 160, 616, 1738, 2106)

5/ Ðức tin cần thiết để được cứu độ (x. 161, 432, 846, 1257)

6/ Kiên trì trong Ðức Tin (x. 162, 1037, 2016, 2089, 2573, 2849)

  1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương