TÀi liệu bồi dưỠng kiến thức cải cách hành chính nhà NƯỚc ban hành kèm theo Quyết định số 1296/QĐ-ubnd ngày



tải về 5.53 Mb.
trang1/30
Chuyển đổi dữ liệu13.05.2018
Kích5.53 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   30
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

-----------------------------------------

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG

KIẾN THỨC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

(Ban hành kèm theo Quyết định số 1296/QĐ-UBND ngày 24 tháng 6 năm 2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh)


Ninh Thuận 2014

1. Tổ Thẩm định:

- Ông Kiều Văn Bê, Giám đốc Sở Nội vụ.

- Ông Thái Văn Lai, Phó Giám đốc Sở Nội vụ

- Ông Phạm Văn Muộn, Phó Trưởng ban thường trực Ban Tổ chức Tỉnh ủy

- Ông Đào Trọng Định, Phó Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh

- Ông Nguyễn Hoàng, Phó Giám đốc Sở Tài chính.

- Ông Trương Tiến Hưng, Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh.

2. Tổ Biên soạn:

- Ông Phạm Phú Rong, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ.

- Bà Nguyễn Huỳnh Thanh Khiết, Trưởng Phòng Cải cách hành chính thuộc Sở Nội vụ.

- Ông Trần Hải, Trưởng Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Sở Tư pháp.

- Ông Quý Minh Phương, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông trực thuộc Sở Thông tin và Truyền thông.

- Ông Phạm Ngọc Tiến, Phó Trưởng Phòng Cải cách hành chính thuộc Sở Nội vụ.



3. Tổ Chỉnh sửa, biên tập:

- Bà Nguyễn Huỳnh Thanh Khiết, Trưởng Phòng Cải cách hành chính thuộc Sở Nội vụ

- Ông Đinh Duy Minh, Phó Trưởng Phòng Nội chính thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh

- Bà Huỳnh Thị Chí Huyên, Chuyên viên Phòng Cải cách hành chính thuộc Sở Nội vụ

- Ông Phùng Đại Toàn, Chuyên viên Phòng Công nghệ thông tin thuộc Sở Thông tin và Truyền thông.

LỜI NÓI ĐẦU


Thực hiện Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 859/QĐ-BNV ngày 31 tháng 7 năm 2013 của Bộ Nội vụ phê duyệt Chương trình bồi dưỡng công chức chuyên trách cải cách hành chính giai đoạn 2013-2015; Quyết định 2465/QĐ-UBND ngày 03 tháng 11 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chương trình, Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 của tỉnh Ninh Thuận.

Để trang bị và cập nhật những kiến thức, kỹ năng cần thiết về cải cách hành chính nhằm tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở các cấp, các ngành thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính đáp ứng yêu cầu tham mưu, hướng dẫn triển khai, theo dõi công tác cải cách hành chính tại các cơ quan, đơn vị; đồng thời góp phần triển khai thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.

Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phụ trách các lĩnh vực liên quan đến công tác cải cách hành chính tổ chức biên soạn tài liệu bồi dưỡng kiến thức cải cách hành chính.

Tài liệu gồm 2 phần:

Phần một: Kiến thức về cải cách hành chính (02 chuyên đề);

Phần hai: Kỹ năng, nghiệp vụ về cải cách hành chính (06 chuyên đề:).

Đây là tài liệu biên soạn lần đầu, các tác giả đã có nhiều cố gắng biên soạn nhưng vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót; trên tinh thần xây dựng rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của học viên và bạn đọc để tài liệu bồi dưỡng kiến thức cải cách hành chính của tỉnh được tiếp tục hoàn thiện hơn./.

PHẦN MỘT
KIẾN THỨC VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH




CHUYÊN ĐỀ 1
TỔNG QUAN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH




I. CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1. Khái niệm


a) Cải cách hành chính nhà nước

Từ nhiều năm nay, cải cách hành chính đã là một vấn đề mang tính tương đối phổ cập của xã hội Việt Nam. Người dân, tổ chức cảm nhận được kết quả, tác động của cải cách hành chính một cách trực tiếp nhất khi có việc phải tiếp xúc, giải quyết công việc với các cơ quan hành chính nhà nước. Vậy cải cách hành chính là gì?

Nói đầy đủ thì phải gọi là cải cách hành chính nhà nước. Thêm từ nhà nước vào là để phân biệt với cải cách hành chính không chỉ diễn ra ở khu vực nhà nước, mà còn ở các tổ chức, cơ quan, nhất là doanh nghiệp tư nhân, tức là khu vực tư nhân. Yếu tố quản trị, hành chính trong các doanh nghiệp khu vực tư cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp và nếu không đổi mới, cải cách thì hoạt động của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng, hiệu quả thấp. Trong phạm vi chương này, đề cập đến cải cách hành chính là nói đến cải cách nhà nước.

Sơ bộ có thể đưa ra khái niệm như sau:

Cải cách hành chính nhà nước là tạo ra những thay đổi trong các yếu tố cấu thành của nền hành chính nhằm là cho các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội tốt hơn.

Cần chú ý và phân biệt khái niệm cải cách hành chính với khái niệm cải cách khu vực công (Public Sector Reform) và khái niệm quản trị công mới (New Public Mangement).

b) Khu vực công

Theo Wikipedia thì khu vực công là một bộ phận của nền kinh tế cung cấp các dịch vụ cơ bản của Chính phủ. Cấu thành của khu vực ở mỗi nước có thể khác nhau, nhưng nhìn chung bao gồm các dịch vụ như cảnh sát, quân đội, đường xá công cộng, vận tải công cộng, giáo dục tiểu học, chăm sóc y tế cho người nghèo... Một định nghĩa khác nhưng về bản chất là giống như vừa nêu đó là khu vực công bao gồm chính quyền trung ương, chính quyền địa phương và doanh nghiệp công; khu vực công là một bộ phận của nền kinh tế cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ mà khu vực tư không thể hoặc không muốn cung cấp. Như vậy, dưới góc độ tổ chức, khu vực công bao gồm các thiết chế công sử dụng ngân sách nhà nước để cung cấp các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho xã hội, cụ thể là:

- Các cơ quan nhà nước,

- Các đơn vị sự nghiệp công,

- Các doanh nghiệp công.

Cải cách khu vực công là cải cách ở cả 3 loại thiết chế này và do đó có nội hàm rộng hơn cải cách hành chính nhà nước. Cải cách khu vực công đề cập đến cả cải cách các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, cải cách doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp cung ứng dịch vụ công. Trong khi đó, cải cách hành chính nhà nước chỉ đề cập tới các yếu tố cấu thành của nền hành chính, mà chủ yếu là cải cách các cơ quan hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, không bao hàm cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách các cơ quan ở lĩnh vực lập pháp, tư pháp,…


c) Quản trị công mới (QTCM)

Quản trị công mới là lý thuyết về việc chính quyền làm thế nào làm tốt công việc của mình. Trào lưu QTCM bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ 20 bằng các cải cách của Thủ tướng Anh Thatcher, sau đó là ở Úc, Niu Di Lân và nhiều nước trên thế giới. Tư tưởng chủ đạo của lý thuyết này là hành chính công, quản trị công truyền thống đã lỗi thời và cần phải được thay thế bởi QTCM. Nền tảng của hành chính công truyền thống là lý luận của Max Weber về mô hình hành chính đã thống trị trong suốt thế kỷ 20.

Quản trị công mới từ đầu những năm 90 của thế kỷ 20 được coi là khái niệm chủ đạo của cải cách và hiện đại hóa nhà nước và hành chính. Đối tượng của quản trị công mới là sự xóa bỏ điều hành đặc trưng bởi quy chế, thể lệ thay bằng quan hệ hành chính. Tuy nhiên, quản trị công mới không phải là một mô hình thống nhất, mà là một khái niệm chung, bao quát các cải cách của nhà nước và hành chính và do đó có rất nhiều các yếu tố cải cách cũng như khuynh hướng cải cách. Quản trị công mới có những đặc trưng sau đây:

- Định hướng nhiều hơn tới thị trường, cạnh tranh,

- Quản lý theo kết quả, mục tiêu (định hướng theo tác động, đầu ra),

- Cơ cấu tổ chức phi tập trung,

- Định hướng quản lý (công vụ, quy trình) theo mô hình doanh nghiệp, chuyển hành chính từ định hướng nội bộ sang hành chính hướng tới khách hàng là công dân.

Như vậy, khái niệm quản trị công mới cũng như khái niệm cải cách khu vực công có phần rộng hơn khái niệm cải cách hành chính công. Cải cách khu vực công cũng như quản trị công mới có đối tượng cải cách là cả nhà nước nói chung, là hành chính, trong khi cải cách hành chính khuôn lại trong khu vực hành chính nhà nước.


2. Sự cần thiết của cải cách hành chính nhà nước


Hệ thống hành chính nhà nước luôn trong quá trình động, vừa bảo đảm sự quản lý nhà nước trên các lĩnh vực xã hội, vừa tìm cách thức ứng với những thay đổi của xã hội, của nền kinh tế. Đến một lúc nào đó, các yếu tố của nền hành chính nếu không có những thay đổi, cải cách sẽ trở thành lực cản, làm cho hiệu lực, hiệu quả hành chính nhà nước kém đi, đó là lúc nền hành chính cần phải được cải cách một cách tổng thể hoặc cải cách một số yếu tố đang bất cập.

Nhìn tổng thể, 3 yếu tố sau đây chi phối và lý giải sự cần thiết của cải cách hành chính nhà nước:

- Một là, sự yêu cầu của sự phát triển xã hội, đặc biệt là yêu cầu của phát triển kinh tế.

- Hai là, sự kém hiệu quả, hiệu lực của bản thân nền hành chính nhà nước.

- Ba là, yêu cầu của người dân, doanh nghiệp về sự phục vụ tốt hơn, hiệu quả hơn của nền hành chính nhà nước.

Cải cách là tất yếu, là mục tiêu tự thân để hành chính nhà nước tồn tại phù hợp điều kiện hoàn cảnh cụ thể trong điều kiện xã hội thay đổi.


II. CHỦ TRƯƠNG, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CỦA CHÍNH PHỦ

1. Chủ trương, quan điểm của Đảng về cải cách hành chính nhà nước


Nói chung, cải cách hành chính ở Việt Nam là công việc mới mẻ, diễn ra trong điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm về quản lý hành chính nhà nước trong thời kỳ mới, có nhiều vấn đề phải vừa làm, vừa tìm tòi rút kinh nghiệm. Vì vậy, Việc hình thành chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách hành chính cũng như xác định nội dung, phương hướng, giải pháp thực hiện cải cách hành chính trong từng giai đoạn là một quá trình tìm tòi, sáng tạo không ngừng, là một quá trình nhận thức liên tục, thống nhất trong đường lối đổi mới toàn diện đất nước được khởi đầu từ Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986.

Từ xác định những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, Đại hội VI đã chỉ rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân là công tác tổ chức và đề ra chủ trương: thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quan Nhà nước, theo phương hướng: xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý nhà nước thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp. Tăng cường bộ máy của nhà nước từ trung ương đến địa phương và cơ sở thành một hệ thống thống nhất, có sự phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm từng cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân biệt chức năng quản lý hành chính – kinh tế với quản lý sản xuất – kinh doanh, kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ, phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội. Thực hiện một quy chế làm việc khoa học, có hiệu suất cao; xây dựng bộ máy gọn nhẹ, có chất lượng cao với một đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị và năng lực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ, bớt đầu mối. Tuy nhiên, nhìn chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước vẫn còn quá cồng kềnh, nặng nề. Chính vì vậy, Đại hội VII đã xác định: Tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước theo phương hướng: Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch; bộ máy tinh giản, gọn nhẹ và hoạt động có chất lượng cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, quản lý. Trên cơ sở đó, cần tập trung làm tốt một số việc:

- Sửa đổi Hiến pháp, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục sửa đổi và xây dựng hệ thống pháp luật về kinh tế, văn hóa, xã hội, về hình sự, dân sự, hành chính, về quyền và nghĩa vụ công dân,… Nâng cao trình độ của các cơ quan nhà nước về xây dựng luật pháp, sớm ban hành luật về trình tự xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật, đảm bảo cho Nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật. Thường xuyên giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc theo pháp luật trong nhân dân.

- Cải tiến tổ chức hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân để làm đúng chức năng quy định. Đổi mới tiêu chuẩn đại biểu, chế độ bầu cử và quy chế hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

- Sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, coi trọng bàn bạc tập thể đồng thời đề cao trách nhiệm và quyền hạn cá nhân của người đứng đầu Chính phủ, đứng đầu bộ máy quản lý và điều hành.

- Xác định lại chức năng, nhiệm vụ của cấp tỉnh, huyện, xã để xắp xếp lại tổ chức của mỗi cấp; đề cao quyền chủ động và trách nhiệm của địa phương, đồng thời đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất của nhà nước trung ương, xây dựng chính quyền xã, phường vững mạnh.

- Tăng cường hiệu quả của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đổi mới hệ thống tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân. Bảo đảm các điều kiện và phương tiện cần thiết để các cơ quan bảo vệ pháp luật làm tốt nhiệm vụ.

- Kiên quyết sắp xếp lại tổ chức và tinh giản biên chế các cơ quan hành chính, sự nghiệp ngay từ năm 1991, làm cho bộ máy gọn nhẹ và hoạt động có hiệu quả. Sớm ban hành quy chế viên chức nhà nước. Xây dựng đội ngũ viên chức nhà nước có phẩm chất chính trị, tinh thần trách nhiệm cao và thành thạo nghiệp vụ.

- Tiếp tục tiến hành kiên quyết và thường xuyên cuộc đấu tranh chống tệ tham nhũng. Phương hướng cơ bản để khắc phục tệ tham nhũng là xây dựng và hoàn chỉnh bộ máy, cơ chế quản lý và pháp luật; xử lý nghiêm minh những người vi phạm, đồng thời tăng cường giáo dục tư tưởng, quản lý chặt chẽ nội bộ.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 do Đại hội VII thông qua đã khẳng định bước tiến về lý luận, nhận thức về nền hành chính nhà nước. Cương lĩnh đã nêu: về Nhà nước “phải có đủ quyền lực và có đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật. Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan luật pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của nhà nước”. Chiến lược cũng nêu trọng tâm cải cách “nhằm vào hệ thống hành chính với nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành pháp và quản lý hành chính nhà nước thông suốt từ trung ương xuống cơ sở, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu lực”.

Trên cơ sở những nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra, trong nhiệm kỳ này đã tiến hành đợt sắp xếp lần thứ hai kể từ Đại hội VI hệ thống chính trị ở Việt Nam bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân.

Sau Đại hội VII, từ 1992 đến 1995 là giai đoạn phát triển mạnh tư duy, quan niệm, nhận thức của Đảng về nền hành chính nhà nước và về cải cách hành chính. Hội nghị Trung ương 8 khoá VII (1/1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng và phát triển nền hành chính nhà nước. Cải cách một bước nền hành chính nhà nước được xác định là yêu cầu bức xúc và là trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, với mục tiêu xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội. Lần đầu tiên 3 nội dung chủ yếu của cải cách hành chính nhà nước được trình bày một cách hệ thống trong Nghị quyết Trung ương 8, đó là cải cách thể chế của nền hành chính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy cùng quy chế hoạt động của hệ thống hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính. Có thể nói Nghị quyết là tiền đề quan trọng xây dựng và thực hiện thể chế mới về công chức, công vụ của Việt Nam. Nghị quyết xác định: “Xây dựng và từng bước hoàn thiện chế độ công vụ và quy chế công chức, chú trọng cả yêu cầu về phẩm chất, đạo đức và trình độ, năng lực. Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống ngạch, bậc công chức và cải cách chế độ tiền lương, gắn trách nhiệm với quyền hạn, nhiệm vụ với chính sách đãi ngộ,… Ban hành quy chế tuyển dụng và đề bạt qua thi tuyển hoặc kiểm tra sát hạch”. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 Khoá VII đã mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn chuyển biến thật sự trong cải cách hành chính ở Việt Nam.

Đại hội VIII, sau đó là Hội nghị Trung ương 3, Trung ương 6 (lần 2) và Hội nghị Trung ương 7 (Khoá VIII) tiếp tục khẳng định chủ trương của Đảng về cải cách hành chính, xác định cải cách hành chính là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước và phải được tiến hành đồng bộ trong cả hệ thống chính trị.

Đại hội IX (năm 2001) đã đưa ra một loạt chủ trương, biện pháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng,…để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách nền hành chính trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, đồng thời thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, ngày 17/9/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, đánh dấu một bước phát triển mới trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước.

Đại hội X (năm 2006) tiếp tục khẳng định chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại và xác định một loạt các biện pháp quan trọng để đẩy mạnh cải cách hành chính.

Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Nghị quyết Trung ương 5 Khoá X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đã làm rõ, cụ thể hoá những vấn đề hết sức quan trọng trong cải cách hành chính thời gian tới ở Việt Nam. Nghị quyết xác định mục tiêu đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Đại hội XI (1/2011) tiếp tục khẳng định:

“Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân”

“Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả; tổ chức tinh gọn và hợp lý;

Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ. Thực hiện phân cấp hợp lý cho chính quyền địa phương đi đôi với nâng cao chất lượng quy hoạch và tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát của Trung ương, gắn quyền hạn với trách nhiệm được giao”.

Từ thực tiễn hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng có thể khẳng định rằng cải cách hành chính nhà nước luôn là một chủ trương nhất quán, thể hiện tầm nhìn của Đảng trong lãnh đạo tổ chức và hoạt động của nhà nước, thông qua các biện pháp cụ thể ở từng giai đoạn phát triển của đất nước để cải cách, đổi mới nền hành chính nhà nước phù hợp với yêu cầu của quá trình phát triển.


2. Quá trình thực hiện của Chính phủ


Quá trình thực hiện cải cách hành chính nhà nước của Chính phủ có thể được xác định qua các mốc thời gian như sau:

2.1. Cải cách thủ tục hành chính với Nghị quyết số 38/CP năm 1994 của Chính phủ

Việc xác định cải cách thủ tục hành chính từ năm 1994 là khâu đột phát trong cải cách là một chủ trương đúng đắn. Sự chỉ đạo thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong 7 lĩnh vực trọng điểm: thành lập và đăng ký kinh doanh doanh nghiệp; đầu tư trực tiếp của nước ngoài; xuất, nhập khẩu; xuất, nhập cảnh; cấp phép xây dựng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại đô thị; cấp phát vốn ngân sách Nhà nước; khiếu nại, tố cáo; đã góp phần giảm phiền hà cho dân và tổ chức, phát hiện và loại bỏ, sửa đổi nhiều thủ tục hành chính không còn phù hợp. Đặc biệt là trong quá trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính đã xuất hiện mô hình thí điểm mang lại kết quả tích cực, tác động đến những suy nghĩ, tìm tòi và cải cách tổ chức bộ máy, sử dụng tài chính công tạo ra những cách nhìn mới trong cải cách hành chính như mô hình “một cửa, một dấu, cấp quận, huyện của thành phố Hồ Chí Minh, mô hình “một cửa” ở một số địa phương khác và mô hình “một cửa, tại chỗ” tại các khu công nghiệp, khu chế xuất.


2.2. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII từ 1995 – 1998

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII ngày 23.1.1995 về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính”, Chính phủ đã xây dựng và tổ chức thực hiện nhiều kế hoạch, biện pháp cải cách từ 1995 đến 1998.

Bên cạnh việc tập trung cải cách thể chế, mà trọng tâm là cải cách thể chế về kinh tế, trong lĩnh vực cải cách tổ chức bộ máy hành chính đã có những kết quả tích cực. Cụ thể là đã tiếp tục sắp xếp tinh gọn lại hợp lý hơn tổ chức bộ máy của Chính phủ. Giảm số bộ từ 27 xuống còn 23. Đáng chú ý là việc hợp nhất 8 Bộ và Ủy ban Nhà nước thành 3 Bộ mới (Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Bộ Thuỷ lợi thành Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Bộ Công nghiệp nặng, Bộ Công nghiệp nhẹ và Bộ Năng lượng thành Bộ Công nghiệp; Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Uỷ ban nhà nước về đầu tư nước ngoài thành Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Một số cơ quan thuộc Chính phủ đã được đưa về trực thuộc các Bộ quản lý (Cục Lưu trữ Nhà nước về Ban Tổ chức – cán bộ Chính phủ, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương về Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài về Bộ Ngoại giao). Điều cần nhấn mạnh ở đây là kết quả của việc sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ đã khẳng định tính đúng đắn của mô hình tổ chức “Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực”. Ý nghĩa quan trọng của mô hình này không chỉ là qua đó giảm bớt được đầu mối tổ chức của Chính phủ, mà chính là ở chỗ đó là mô hình tổ chức hợp lý các Bộ phù hợp với các cơ chế mới về quản lý kinh tế - xã hội và là hướng đi đúng cho cải cách tổ chức bộ máy trong thời gian tới.

Đồng thời với quá trình trên là việc sắp xếp lại một số tổ chức theo ngành dọc cho phù hợp với yêu cầu mới như Tổng cục Thuế; tổ chức lại 2 Tổng cục thuộc Bộ Tài chính là Tổng cục quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và Tổng cục Đầu tư phát triển; thành lập mới một số tổ chức theo yêu cầu như Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước.

Việc sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ ảnh hưởng trực tiếp tới tổ chức các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân các cấp, đã giảm số đầu mới từ 30 xuống còn dưới 20 phòng ban cấp huyện xuống còn trên dưới 20 cơ quan ở cấp tỉnh, từ trên 20 phòng ban cấp huyện xuống còn dưới 10, ví dụ như Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư. Trong khi ở Trung ương còn có các cơ quan độc lập như Bộ Tài chính, Ban Vật giá Chính phủ thì ở địa phương đã thống nhất chỉ còn một cơ quan là Sở Tài chính-Vật giá. Đặc biệt, việc sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực địa chính và quản lý nhà ở các đô thị thành Sở Địa chính và nhà đất ở thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Mính là một kết quả quan trọng và cũng xuất phát từ yêu cầu về tổ chức bộ máy ở đô thị cần hợp lý hơn.

2.3. Triển khai CCHC thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá VIII năm 1999

Hội nghị Trung ương 7 khoá VIII (8/1999) khẳng định trong điều kiện một Đảng cầm quyền, sự đổi mới chưa đồng bộ các tổ chức trong hệ thống chính trị là trở ngại lớn của công cuộc cải cách hành chính nhà nước trong thời gian qua. Không thể tiến hành cải cách nền hành chính tách rời sự đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân, cũng không thể cải cách hành chính một cách biệt lập mà không đồng thời đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp. Nghị quyết đã chỉ rõ việc kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nước ta trong những năm tới phải quán triệt các quan điểm, nguyên tắc cơ bản về hệ thống chính trị đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và các Nghị quyết của Đảng.

Thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ đã chỉ đạo đợt tổng rà soát quy mô lớn chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính từ trung ương đến cơ sở và tổ chức thực hiện việc tinh giản biên chế với mục tiêu nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

2.4. Triển khai cải cách hành chính thông qua Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010.

2.5. Triển khai cải cách hành chính thông qua Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020.

III. KINH NGHIỆM THẾ GIỚI, TRONG NƯỚC VÀ TỈNH TA VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

1. Kinh nghiệm cải cách hành chính một số nước


1.1. Australia

Nền công vụ Australia luôn được cải cách đáp ứng các yêu cầu, thử thách đặt ra qua các giai đoạn phát triển của đất nước. Gần đây nhất, tháng 9/2009, Thủ tướng Australia đã thành lập một nhóm tư vấn để xem xét, đánh giá lại nền hành chính và xây dựng một kế hoạch cải cách công vụ. Tháng 3/2010, Nhóm tư vấn đã công bố báo cáo: Vượt lên cuộc chơi: Kế hoạch cải cách nền hành chính Australia. Tháng 5/2010, Chính phủ Australia đã thông qua kế hoạch cải cách này.

Kế hoạch cải cách hành chính tập trung vào 4 lĩnh vực rộng lớn là:

- Đáp ứng nhu cầu của công dân,

- Lãnh đạo và định hướng chiến lược mạnh mẽ,

- Tăng cường năng lực đội ngũ làm việc,

- Hoạt động hiệu quả theo tiêu chuẩn nhất quán cao.

4 lĩnh vực này được phân thành 9 nhóm lĩnh vực cải cách nhỏ và được hỗ trợ bởi 28 mảng hoạt động cụ thể thể hiện ở bảng sau đây:




Một nền công vụ hiệu quả cao

Đáp ứng nhu cầu của công dân

Lãnh đạo và định hướng chiến lược mạnh mẽ

Tăng cường năng lực đội ngũ làm việc

Hoạt động hiệu quả theo một tiêu chuẩn nhất quán cao

1. Cung cấp dịch vụ tốt hơn cho công dân

3. Nâng cao năng lực hoạch định chính sách

6. Làm rõ và sắp xếp điều kiện làm việc

8. Đảm bảo sự năng động, năng lực và hiệu quả của các cơ quan

1.1. Đơn giản hoá phương thức cung cấp dịch vụ công cho người dân.

3.1. Tăng cường chính sách chiến lược.

6.1. Đảm bảo các thỏa thuận làm việc hỗ trợ cho nền công vụ.

8.1. Đánh giá năng lực của cơ quan.

1.2. Xây dựng cách thức tốt hơn để cung cấp dịch vụ thông qua các cộng đồng và khu vực tư nhân.

3.2. Xây dựng quan hệ đối tác với các học giả, viện nghiên cứu, cộng đồng và khu vực tư nhân.

6.2. Đánh giá quy mô và vai trò của đội ngũ điều hành cấp cao.

8.2. Giới thiệu đầu ra, tác động được chia sẻ liên quan tới nhiều bộ.

1.3. Hợp tác chặt chẽ hơn giữa Nhà nước, Lãnh thổ và chính quyền địa phương trong cung cấp dịch vụ.

3.3. Cải thiện việc thực thi chính sách.

7. Tăng cường lực lượng lao động.

8.3. Giảm tính quan liêu để thúc đẩy sự năng động.

1.4. Cắt giảm những gánh nặng về quy định hành chính không cần thiết cho doanh nghiệp.

4. Tiếp thêm sinh lực lãnh đạo chiến lược

7.1. Phối hợp quy hoạch lực lượng lao động.

9. Nâng cao hiệu quả tổ chức

2. Kiến tạo chính phủ cởi mở hơn

4.1. Sửa đổi và nâng tính bền vững các giá trị nền Công vụ Australia.

7.2. Tổ chức tốt hơn quy trình tuyển dụng và cải thiện sự thích ứng của đội ngũ công chức khi bước vào nền công vụ

9.1. Đánh giá đo lượng hiệu quả cơ quan.

2.1. Tạo điều kiện để công dân tham gia với chính phủ trong quá trình hoạch định chính sách và dịch vụ.

4.2. Làm rõ vai trò và trách nhiệm của các Thứ trưởng.

7.3. Mở rộng và tăng cường học tập và phát triển.

9.2. Tăng cường khuôn khổ quản trị.

2.2. Tiến hành khảo sát, lấy ý kiến người dân.

4.3. Sửa đổi điều khoản việc làm với các Thứ trưởng.

7.4. Tăng cường khung kết quả

9.3. Tổ chức nhỏ để nâng cao hiệu quả của chức năng phối hợp.




4.4. Tăng cường lãnh đạo đối với toàn bộ nền Công vụ Australia

7.5.Khuyến khích người làm việc nâng cao kinh nghiệm nghề nghiệp







4.5. Cải thiện quản lý tài năng đối với toàn bộ nền công vụ Australia.










5. Đổi mới Ban Công vụ Australia để chỉ đạo quá trình thay đổi và hoạch định kế hoạch chiến lược










5.1. Ban Công vụ Australia mới với trách nhiệm để lãnh đạo nền Công vụ Australia.






Văn phòng Thủ tướng và Nội các đóng vai trò quan trọng và tích cực trong thực thi kế hoạch cải cách. Một số tổ chức đã được thiết lập để chỉ đạo, hỗ trợ cải cách:

- Văn phòng Thủ tướng và Nội các đã thành lập Mạng lưới chính sách chiến lược (MLCSCL), bao gồm các nhà thực tiễn về chính sách chiến lược, kể cả những vấn đề về phương pháp luận thực tiễn tốt hơn. Mạng lưới do Văn phòng Thủ tướng và Nội các lãnh đạo, đang phát triển nguồn lực chính sách chiến lược trực tuyến để các cơ quan có thể vào mạng tiếp cận các công cụ phát triển chính sách thực tiễn.

- Ban Thứ trưởng đã được thành lập như là một diễn đàn lãnh đạo then chốt nhằm thảo luận các vấn đề tác động tới toàn bộ nền công vụ. Ban này bao gồm Thứ trưởng của các bộ cũng như các ủy viên Ban Công vụ Australia. Ban do Thứ trưởng Văn phòng Thủ tướng và Nội các lãnh đạo. Ban được hỗ trợ bởi nhóm lãnh đạo cao cấp, gọi là Công vụ Australia 200. Công vụ Australia 200 bao gồm Thứ trưởng và công chức tương đương Phó Thứ trưởng của các bộ, cơ quan. Công vụ Australia 200 thảo luận các dự án quan trọng liên quan tới toàn bộ nền công vụ, tập trung vào các thách thức liên quan tới nhiều bộ, ngành.



1.2. Malaixia

Malaixia đã trải qua nhiều cuộc cải cách hành chính trong thời gian qua:

- Cải cách cho đến đầu những năm 70 của thế kỷ trước với mục tiêu xây dựng tổ chức và tăng cường năng lực hành chính nhằm hỗ trợ sự phát triển kinh tế - xã hội do nhà nước lãnh đạo.

- Cải cách từ gần những năm 80: đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức, đó là coi trọng vai trò của thị trường và do đó Chính phủ phải thay đổi trong chính sách – Chính phủ chuyển từ vài trò can thiệp trực tiếp sang gián tiếp và hỗ trợ. Các trọng tâm cải cách hướng tới:

+ Nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng

+ Tăng cường phát triển nguồn nhân lực qua đánh giá kết quả hoạt động

+ Thay đổi hệ thống ngân sách

+ Thực thi chính sách nhìn về phương đông và tư nhân hóa

+ Chính phủ điện tử và đổi mới.

1.3. Một số bài học kinh nghiệm

Có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong cải cách hành chính của các nước như sau:

- Thứ nhất, quy mô cải cách, tức là nội dung cải cách nếu so với Việt Nam thì ở mức độ khiêm tốn. Điều đó được lý giải từ chính bản thân hệ thống hành chính các nước đã tương đối hợp lý, trong quá trình phát triển chỉ phát sinh một số vấn đề cần thay đổi, cải cách và do đó được tập trung nghiên cứu để thực hiện cải cách.

- Thứ hai, một khi đã lựa chọn, xác định rõ nội dung, nhiệm vụ cải cách, thì đều có chương trình được Chính phủ thông qua để triển khai. Như vậy, cải cách được xác định ở tầm Chính phủ. Chính phủ cam kết cải cách thông qua các nghị quyết, chương trình của Chính phủ.

- Thứ ba, trong mười năm trở lại đây, cải cách hành chính của các nước đều thể hiện 2 đặc trưng sau:

+ Nghiên cứu, áp dụng những vấn đề quản lý, giá trị tiên tiến từ khu vực tư vào khu vực công.

+ Cải cách đặt trọng tâm vào con người. Người dân được xác định là khách hàng của cơ quan hành chính. Đây là sự chuyển biến to lớn về nhận thức, về thái độ của công chức đối với người dân trong giải quyết công việc của dân theo quy định của pháp luật.

- Thứ tư, các nước đều chú trọng việc lập ra các cơ quan, tổ chức để giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo triển khai cải cách.


2. Bài học thực tiễn từ việc thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai 2001-2010 của Chính phủ


2.1. Những kết quả chủ yếu đạt được

Mười năm qua, cải cách hành chính đã được triển khai đồng bộ trên tất cả các nội dung, thực hiện được nhiều công việc, từng bước đi vào chiều sâu, đã tạo ra những chuyển biến đáng ghi nhận của nền hành chính. Cải cách hành chính đã được xác định là một trong 3 giải pháp quan trọng để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội (2001-2010). Chương trình tổng thể với mục tiêu và giải pháp thực hiện cải cách hành chính là đúng đắn, có cơ sở, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của nước ta. Đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong toàn bộ hệ thống cơ quan hành chính các cấp từ Trung ương đến địa phương là: Phải tự thay đổi, tự cải cách để theo kịp, phục vụ sự phát triển và hội nhập của đất nước. Kết quả cải cách hành chính đã thúc đẩy quá trình đổi mới kinh tế; dân chủ hoá đời sống xã hội; hội nhập quốc tế; củng cố và duy trì ổn định chính trị; phòng chống tiêu cực, tiết kiệm, chống lãng phí. Những kết quả chủ yếu trong cải cách hành chính 10 năm được tập trung trên các mặt:

Thể chế của nền hành chính được cải cách và hoàn thiện một bước cơ bản phù hợp với yêu cầu phát huy dân chủ với thiết lập chế độ công khai, minh bạch và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phần lớn các chủ trương quan trọng của Đảng về các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được thể chế hóa và tổ chức triển khai.

Thủ tục hành chính, nhất là thủ tục trong giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp có bước chuyển biến rõ rệt, theo hướng công khai, minh bạch tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Một loạt các biện pháp, như: thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan, cấp hộ chiếu, chứng minh nhân dân, công chứng, chứng thực… đã tạo đà cho những chuyển động sâu sắc trong cả hệ thống công vụ.

Bộ máy hành chính hoạt động hiệu quả hơn so với 10 năm trước đây: bớt trùng lắp, chồng chéo về chức năng nhiệm vụ; đầu mối các cơ quan Chính phủ được thu gọn hơn; cơ cấu bên trong có sự phân định rõ hơn giữa cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp. Hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính nhà nước của hệ thống hành chính được nâng cao, tính thống nhất, công khai, minh bạch của nền hành chính đã được cải thiện và bước đầu phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước có bước điều chỉnh cho phù hợp, bảo đảm quản lý nhà nước và phục vụ xã hội. Phân công, phân cấp giữa cơ quan Trung ương với địa phương và giữa các cấp ở địa phương với nhau đã có tiến bộ rõ rệt, nhất là phân cấp về quản lý tài chính, ngân sách, quản lý cán bộ... Quan niệm và nhận thức về vai trò, chức năng quản lý vĩ mô của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường ngày càng rõ nét và phù hợp hơn.

Công tác xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức có bước tiến mới. Đã từng bước rà soát, điều chỉnh và ban hành đồng bộ hệ thống tiêu chuẩn, chức danh công chức; tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức, viên chức. Đổi mới chế độ tuyển dụng, thi nâng ngạch cán bộ, công chức để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ.

Cải cách tài chính công đã đạt được kết quả bước đầu; công tác quản lý tài chính, ngân sách có chuyển biến rõ nét. Việc giám sát chi tiêu bằng quy chế chi tiêu nội bộ đã có chuyển biến tích cực.

Trụ sở làm việc từng bước được đầu tư khang trang hơn, nhất là Bộ phận một cửa cấp huyện. Việc áp dụng tiêu chuẩn ISO, ứng dụng công nghệ thông tin và các giải pháp quản lý khoa học trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ngày càng được mở rộng và có kết quả rõ nét (Phụ lục 9).

2.2. Những hạn chế, yếu kém

Nhiều cấp, nhiều ngành chưa đặt đúng cải cách hành chính là một trong 3 giải pháp cơ bản thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010. Tốc độ cải cách còn chậm, chưa nhất quán, hiệu quả còn thấp so với mục tiêu đặt ra là “đến năm 2010 xây dựng được một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại”. Nhìn một cách tổng thể, những kết quả đạt được trong 10 năm qua còn chưa tương xứng với yêu cầu, quy mô đổi mới toàn diện theo tinh thần Nghị quyết của Đảng và mục tiêu chung mà chương trình tổng thể đề ra; kết quả đạt được chưa bền vững.

Hệ thống thể chế còn thiếu đồng bộ, thống nhất, còn chồng chéo, nhiều về số lượng nhưng chất lượng còn hạn chế.

Có sự giảm đầu mối trực thuộc Chính phủ, nhưng bộ máy bên trong các bộ còn chưa giảm. Công tác kiểm tra sau phân cấp còn buông lỏng.

Chưa xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính và chưa thực hiện tốt việc đào tạo trước khi bổ nhiệm; cơ chế quy định trách nhiệm của người đứng đầu chưa rõ ràng và chưa đánh giá được chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức sau đào tạo; công tác cải cách tiền lương triển khai còn chậm, tiền lương chưa thực sự là động lực thúc đẩy cán bộ, công chức thực thi công vụ.

Cải cách tài chính công thực hiện mới chỉ là bước đầu, kết quả đạt được còn hạn chế. Các thể chế về cải cách tài chính công chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời cho phù hợp với thực tế.

Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001-2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước theo Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ kết quả đạt được còn hạn chế.

Việc hiện đại hoá công sở chưa đồng bộ, dẫn tới manh mún, phân tán. Kết quả đầu tư xây dựng trụ sở xã vẫn chưa thực hiện được như Chương trình tổng thể đề ra. Ứng dụng công nghệ thông tin không đạt mục tiêu của Chương trình tổng thể.

Có những đề án, dự án, biện pháp, chương trình hành động nhằm thực hiện cải cách hành chính trên 5 nội dung Chương trình tổng thể về hình thức và bản chất thì rất có ý nghĩa nhưng vấn đề triển khai trong thực tế chưa mang lại nhiều kết quả như mong muốn, việc triển khai còn mang nặng tính hình thức, chưa chú ý sâu về chất lượng thực tế, chất lượng thực thi.

Sự tham gia, đóng góp ý kiến của người dân, tổ chức, doanh nghiệp và công chúng vào quá trình cải cách hành chính còn ít, hạn chế.



2.3. Nguyên nhân

Cải cách hành chính là công việc khó khăn, phức tạp, nhiều lực cản. Tuy được xác định là nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên nhưng khâu tổ chức triển khai thực hiện từ Trung ương đến địa phương chưa ngang tầm nhiệm vụ. Tình trạng phó thác công việc cho cơ quan chức năng còn khá phổ biến ở nhiều bộ, ngành, địa phương. Chưa có nhiều giải pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả và chưa có sự chỉ đạo tập trung quyết liệt. Công tác truyền thông về Chương trình tổng thể làm chưa tốt, nên chưa tạo ra sự thống nhất cao về nhận thức trong toàn bộ hệ thống chính trị và sự đồng thuận trong nhân dân.

Cải cách hành chính có mối quan hệ hữu cơ với cải cách lập pháp và cải cách tư pháp, nhưng do đặc điểm cấu trúc hệ thống chính trị nước ta nên thực chất, đó là ba bộ phận cấu thành cải cách nhà nước không tách rời nhau. Vì vậy, hiện tại vẫn thiếu một giải pháp cần thiết đủ tầm về mặt chỉ đạo để bảo đảm sự kết nối có hiệu quả.

Một số mục tiêu xây dựng còn định tính nên rất khó đánh giá đúng hiệu quả, khó làm rõ trách nhiệm của cơ quan, tập thể, cá nhân có liên quan trong tổ chức thực hiện. Nhiều vấn đề quan trọng, cốt lõi nhưng chưa được làm rõ về mặt cơ sở lý luận nên khi triển khai còn lúng túng, khó tạo ra sự thống nhất cao trong chủ trương, nhận thức và cách làm.

Nhiệm vụ đề ra nhiều nhưng chưa gắn với biện pháp bảo đảm cần thiết nên làm không đến nơi, đến chốn. Nguồn lực và những điều kiện bảo đảm cần thiết cho cải cách hành chính chưa ngang tầm, kể cả nguồn lực con người và tài chính.

Tính chuyên nghiệp và chuyên sâu, kỹ năng hành chính của cán bộ, công chức còn thấp. Trình độ hiểu biết và kỹ năng của cán bộ, công chức để xử lý các vấn đề quản lý tầm vĩ mô và vi mô đạt thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiện đại. Nền hành chính còn lạc hậu so với mặt bằng trong khu vực và thế giới. Tệ cửa quyền, quan liêu, tham nhũng vẫn còn, một bộ phận cán bộ, công chức suy giảm lý tưởng, lối sống và vi phạm đạo đức công vụ, gây bất bình trong nhân dân.


2.4. Những bài học kinh nghiệm

Quá trình triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính 10 năm qua, từ những thành công cũng như những hạn chế, yếu kém đã cho phép rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

Một là, nhận thức của các cấp, các ngành về mục tiêu, ý nghĩa, tầm quan trọng của cải cách hành chính đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước có ý nghĩa, tác dụng quyết định chi phối tới hành động cụ thể, trực tiếp trong cải cách hành chính. Do đó, phải coi trọng công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về cải cách hành chính đối với các cấp chính quyền và toàn thể nhân dân.

Hai là, bảo đảm sự nhất quán, kiên trì, liên tục trong triển khai cải cách hành chính từ xây dựng chương trình, kế hoạch cải cách hành chính hàng năm của các bộ, ngành, địa phương và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện. Nâng cao vai trò của cơ quan chủ trì tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác điều phối chung, tổng hợp, đôn đốc và theo dõi việc thực hiện các chương trình. Điều kiện quan trọng đảm bảo sự thành công của cải cách hành chính là quyết tâm chính trị và trách nhiệm của người đứng đầu và Huy động được sự tham gia rộng rãi của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp.

Ba là, để đảm bảo tính khả thi, cần xác định các mục tiêu, nhiệm vụ với mức độ phù hợp, thực hiện được trong 10 năm, coi trọng công tác thí điểm, làm thử trong triển khai cải cách hành chính. Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường và nền hành chính phục vụ đã đặt ra nhiều vấn đề mới, chưa kết luận được ngay, nhưng thực tiễn vẫn phải thực hiện. Thông qua thí điểm mới có điều kiện đánh giá, sơ kết, tổng kết, rút ra những vấn đề cần xử lý tiếp và nhân rộng nếu thấy đúng. Các cơ chế cải cách như một cửa, khoán,… đã được hình thành qua phương thức thí điểm.

Bốn là, hình thành bộ phận chuyên trách từ Trung ương đến địa phương để tổ chức thực hiện cải cách hành chính, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và gắn với đơn vị chức năng trực tiếp giúp việc cho thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước. Bố trí đủ nguồn lực cả về con người cũng như tài chính; có cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích và thu hút cán bộ, công chức có chuyên môn, nghiệp vụ cao tham gia tương xứng với tầm quan trọng của nhiệm vụ.



2.5. Những đặc trưng của cải cách hành chính Việt Nam

Ngoài những điểm giống cải cách hành chính ở các nước, cải cách hành chính ở Việt Nam có những đặc trưng riêng sau:

- Cải cách được tiến hành trong khuôn khổ hệ thống chính trị một đảng duy nhất cầm quyền. Mặt thuận lợi từ đặc trưng này chính là ở chỗ dễ tạo sự đồng thuận trong hoạch định chính sách, biện pháp, thể chế cho cải cách.

- Cải cách hành chính diễn ra cùng một lúc với khá nhiều cuộc cải cách khác, ví dụ như cải cách kinh tế, cải cách lập pháp, cải cách tư pháp, cải cách giáo dục,... Đặc trưng này đòi hỏi phải có sự chỉ đạo thống nhất, tập trung nhằm bảo đảm mục tiêu chung của phát triển.

- Cải cách hành chính được triển khai trên diện rộng, ở tất cả các cấp hành chính. 6 lĩnh vực cải cách, mỗi lĩnh vực lại bao gồm một loạt các lĩnh vực thành phần cho thấy tính phức tạp, độ rộng của cải cách hành chính ở Việt Nam.

Từ những đặc trưng này rút ra những vấn đề sau:

- Cải cách hành chính không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng

Đặc trưng tiêu biểu của hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống một đảng duy nhất cầm quyền. Đặc trưng này chi phối nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề cải cách hành chính. Cải cách hành chính muốn tiến hành được, muốn duy trì và đẩy mạnh, trước hết phải là một chủ trương trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng không thể có cải cách, càng không thể có những kết quả tích cực. Từ năm 1995 cho đến nay, chủ trương cải cách hành chính đã được xác định trong một loạt các nghị quyết của Đảng tại các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và trong các văn kiện Đại hội VII cho đến Đại hội XI. Năm 2007 đánh dấu một mốc thời gian quan trọng, chính là vì lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương Đảng có một Nghị quyết riêng về cải cách hành chính, đó là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X.

Cải cách hành chính không tách rời sự lãnh đạo của Đảng vừa là bài học kinh nghiệm, vừa là đặc trưng cải cách của Việt Nam. Mặt thuận lợi của vấn đề này chính là ở chỗ sự hiện diện của các tổ chức Đảng, của các đảng viên đang giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức của nhà nước từ trung ương tới cơ sở. Các thành viên này có trách nhiệm triển khai nghị quyết Đảng về cải cách hành chính thông qua các hình thức thích hợp, trong đó có hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.

- Sự chỉ đạo nhất quán của Chính phủ là một yếu tố bảo đảm cải cách hành chính đạt kết quả.

Với vị trí là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong chỉ đạo triển khai cải cách hành chính của đất nước. Từ chủ trương của Đảng, Chính phủ có trách nhiệm cụ thể hoá thành các chương trình, kế hoạch cải cách hành chính, trên cơ sở đó các bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương các cấp xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của mình nhằm bảo đảm mục tiêu chung của cải cách là xây dựng được một nền hành chính mạnh, hiệu lực, hiệu quả, vì dân phục vụ.

Trước đây, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và mới đây đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020.

Công tác chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đối với công cuộc cải cách hành chính có ý nghĩa trên các phương diện:

- Bảo đảm rõ định hướng, mục tiêu cải cách hành chính.

- Xác định rõ các nhiệm vụ cải cách.

- Xác định các trọng tâm, ưu tiên cải cách theo từng thời kỳ.

- Xác định trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan hành chính, trước hết là Bộ trưởng và Chủ tịch UBND cấp tỉnh trong triển khai cải cách hành chính.

- Tổng kết từ thực tiễn cải cách để hoạch định thể chế, cơ chế mới, có tính chất áp dụng chung trong cả nước.

- Cải cách hành chính triển khai với nhiều nội dung, vì vậy hết sức khó khăn và phải làm lâu dài.

So với nhiều nước có tiến hành cải cách hành chính thì cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều lĩnh vực từ thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục tới con người, các cơ chế hoạt động, ứng dụng công nghệ thông tin vào hành chính,... Có thể nói gần như các yếu tố cấu thành cơ bản của nền hành chính quốc gia đều đòi hỏi phải cải cách, thay đổi. Chính vì vậy, việc triển khai không đơn giản và cũng không thể sớm đạt kết quả. Vấn đề này chi phối trước hết công tác xây dựng kế hoạch cải cách hành chính của các bộ, ngành và địa phương. Kế hoạch phải bao quát đủ các lĩnh vực cải cách, cụ thể hóa vào phạm vi trách nhiệm của từng cơ quan. Kể đến là công tác triển khai, kiểm tra việc thực hiện trong thực tiễn.

- Bảo đảm tính đồng bộ của cải cách hành chính với các cuộc cải cách khác trong hệ thống chính trị

Việt Nam cùng một lúc tiến hành một loạt các cải cách: cải cách lập pháp, cải cách tư pháp, cải cách kinh tế, cải cách giáo dục,... Mỗi cuộc cải cách theo đuổi các mục tiêu, kết quả riêng, tuy nhiên có rất nhiều vấn đề đan xen giữa các cuộc cải cách, thậm chí có vấn đề không thể nói chỉ thuộc một cuộc cải cách riêng biệt. Chính vì vậy, tính đồng bộ giữa các cuộc cải cách này có ý nghĩa quan trọng, nó tạo ra sự thống nhất ở tầm vĩ mô như hoạch định thể chế, chính sách, pháp luật để bảo đảm các cuộc cải cách có thể tốt hơn, không gặp trở ngại.

Tuy nhiên, thực tiễn có lúc không diễn ra như vậy. Từ góc độ cục bộ của ngành, lĩnh vực, đã có lúc các bộ chuẩn bị các dự án luật trình Quốc hội thông qua và khi ban hành mới thấy rõ sự cản trở về cải cách hành chính đang được triển khai, làm cho thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý của các bộ phức tạp hơn; người dân, tổ chức phải vất vả hơn trong giải quyết công việc của mình.

- Cải cách hành chính đòi hỏi phải có những thí điểm



Trong quá trình cải cách, nhiều vấn đề trì trệ của nền hành chính được phát hiện và các giải pháp được đề xuất để thay đổi. Thông thường, các giải pháp đó về bản chất khác hẳn giải pháp hiện hành, lại chưa được kiểm nghiệm tính đúng đắn và chưa được thể chế hóa. Do vậy, hết sức cần thiết có sự thí điểm để qua thực tiễn xem xét tính phù hợp của các giải pháp. Một loạt các cơ chế có tính cải cách đang được triển khai trong quá trình cải cách đã ra đời theo cách như vậy.


3. Kết quả thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai 2001-2010 của tỉnh Ninh Thuận.


3.1. Những kết quả chủ yếu đạt được

Công tác cải cách hành chính của tỉnh đã được triển khai toàn diện trên các lĩnh vực: cải cách thể chế; tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa nền hành chính nhà nước đúng, đủ các nội dung, các bước theo lộ trình chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010. Cùng với những tác động của cải cách kinh tế, cải cách tư pháp; cải cách hành chính đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương, củng cố lòng tin của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị-xã hội.

Thể chế của nền hành chính được cải cách một bước cơ bản phù hợp với yêu cầu cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với đặc điểm phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương như các văn bản được tiếp tục đổi mới chất lượng về nội dung và thể thức, tính hiệu quả và tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật được nâng lên, công tác rà soát các văn bản được đẩy mạnh ở các cấp và đã dần đi vào nề nếp;

Cải cách thủ tục hành chính, nhất là thực hiện quy trình, thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông được đẩy mạnh và nhân rộng ở các xã, huyện trong toàn tỉnh; tiến độ và chất lượng thống kê rà soát bộ thủ tục hành chính theo Đề án 30 của Chính phủ được bảo đảm.

Tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính các cấp từ tỉnh đến cơ sở được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, đa ngành, đa lĩnh vực; hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước của hệ thống hành chính được nâng lên đáng kể; phân cấp quản lý đã triển khai trên một số lĩnh vực kinh tế, xã hội góp phần tăng thẩm quyền cho cấp dưới giải quyết công việc nhanh hơn, sâu sát thực tế và hiệu quả.

Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có chuyển biến tiến bộ; đội ngũ cán bộ, công chức từng bước đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới; công tác quy hoạch rà soát và bổ sung quy hoạch được triển khai đồng bộ ở các cấp, các ngành; về phân cấp quản lý cán bộ công chức có chuyển biến, tiến bộ; các chính sách về công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức được đầu tư.

Thực hiện đầy đủ, đúng quy định về chính sách quản lý tài chính công theo cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý cho các đơn vị hành chính và đơn vị sự nghiệp, góp phần thay đổi phương thức quản lý thực hành tiết kiệm, chống lãng phí nhất là đối với các đơn vị sự nghiệp công lập;

Về hiện đại hóa nền hành chính nhà nước bước đầu được quan tâm đầu tư xây dựng trụ sở, trang bị phương tiện làm việc ứng dụng công nghệ thông tin và hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 và ISO 9001:2008 tại các cơ quan, đơn vị hành chính; lề lối và phương thức làm việc của các cơ quan đơn vị tiếp tục được chấn chỉnh, cải tiến theo hướng tập trung thống nhất có hiệu quả, hướng vào các mục tiêu quản lý vì lợi ích của người dân và doanh nghiệp.



3.2. Những tồn tại, hạn chế

Công tác cải cách hành chính của tỉnh so với yêu cầu của công cuộc đổi mới, của sự phát triển kinh tế-xã hội còn chậm, hiệu quả chưa cao, nhận thức về cải cách hành chính ở một số cơ quan, đơn vị, ngành và cấp cơ sở chưa nhất quán; việc triển khai thực hiện chưa quyết liệt, đồng bộ ở các ngành, các cấp. Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước một số bộ phận, từng cán bộ, công chức ở một số cơ quan chưa xác định rõ ràng, lành mạch, chưa đảm bảo nguyên tắc tất cả công việc đều phải có người phụ trách, không chồng lấn, không bỏ sót và thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở. Thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực, bộ phận còn rườm rà, không sát với thực tiễn. Thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ chế “một cửa liên thông” ở một số sở, ngành, huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn còn hình thức, lúng túng; bố trí một số cán bộ, công chức ở bộ phận “một cửa” không tương xứng và chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Sự phối hợp giữa công chức, giữa các bộ phận, giữa các cơ quan giữa các cấp trong thực hiện thủ tục hành chính chưa nhịp nhàng, đồng bộ. Một bộ phận cán bộ, công chức còn thiếu tinh thần trách nhiệm; năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính yếu; chậm đổi mới phong cách, tác phong làm việc; tình trạng quan liêu, nhũng nhiễu, sách nhiễu nhân dân vẫn còn diễn ra. Kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính chưa nghiêm. Hiện đại hóa công sở, ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả chưa cao.



3.3. Nguyên nhân:

- Chủ quan: Lãnh đạo một số sở, ngành và địa phương nhận thức chưa đầy đủ, chưa quan tâm đúng mức về công tác cải cách hành chính; công tác chỉ đạo chưa kiên quyết, thiếu chủ động trong việc đề ra chương trình, kế hoạch cải cách sát, đúng, tích cực. Triển khai các nhiệm vụ về cải cách hành chính của các ngành, các cấp chưa đồng bộ, sự phối hợp giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chưa chặt chẽ nên chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Đầu tư nhân lực, nguồn lực cho cải cách hành chính chưa thỏa đáng, thiếu chuyên viên chuyên trách, cán bộ am hiểu chuyên sâu về hành chính nhà nước.

- Khách quan: Hệ thống thể chế (do Chính phủ và các Bộ ban hành) chưa đồng bộ, thiếu nhất quán trên một số lĩnh vực, nhất là thể chế về thủ tục hành chính, quản lý trên một số lĩnh vực đất đai, đầu tư, doanh nghiệp, xây dựng cơ bản, …đặc biệt là chế độ tiền lương vẫn chưa được cải cách đã tác động không nhỏ đến việc xây dựng, nâng cao chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ công chức. Nguồn kinh phí ngân sách chưa đáp ứng mong muốn xây dựng nền hành chính chính quy, hiện đại.
3.4. Bài học kinh nghiệm:

- Cải cách hành chính là lĩnh vực khó, do đó phải có sự chỉ đạo, triển khai thực hiện đồng bộ của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, phải có quyết tâm cao mới đạt được kết quả mong muốn, đặc biệt là nhận thức và sự chỉ đạo của người đứng đầu, vì thực sự đây là một cuộc đấu tranh quyết liệt trong đổi mới tư duy từ sự bảo thủ, trì trệ của nền hành chính quan liêu bao cấp sang nền hành chính, phục vụ, dân chủ, trong sạch, vững mạnh và từng bước hiện đại.

- Gắn công tác cải cách hành chính với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị và công tác đề bạt, bổ nhiệm, khen thưởng trong cán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu của các cơ quan đơn vị.

- Bằng nhiều hình thức sinh động, tuyên truyền thường xuyên, liên tục, rộng khắp để tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động. Cần coi trọng công tác thí điểm, làm thử, thông qua đó để đánh giá, rút kinh nghiệm và nhân rộng.

- Cần có một tổ chức thường trực, chuyên trách để giúp việc cho chính quyền các cấp trong việc hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nội dung, chương trình cải cách hành chính của địa phương, đơn vị.

- Cải cách hành chính cần có đủ nhân lực, điều kiện về cơ sở vật chất và kinh phí.



: chinhquyen -> sonv -> Lists -> VanBanPhapQuy -> Attachments
sonv -> Ủy ban nhân dân tỉnh ninh thuậN
sonv -> Ủy ban nhân dân tỉnh ninh thuận cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
sonv -> SỞ NỘi vụ Số: 1219/bc-snv cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
sonv -> Ủy ban nhân dân cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh ninh thuậN Độc lập Tự do Hạnh phúc
sonv -> Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh ninh thuậN Độc lập Tự do Hạnh phúc
sonv -> Ubnd tỉnh ninh thuận sở NỘi vụ CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
sonv -> Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh ninh thuậN Độc lập Tự do Hạnh phúc
sonv -> V/v hướng dẫn xây dựng kế hoạch cchc và báo cáo cchc hàng năm
Attachments -> SỞ NỘi vụ CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc


  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   30


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương