Tác giả phạm hồng thái bài giảng ngôn ngữ LẬp trình c/C++



tải về 1.98 Mb.
trang42/55
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích1.98 Mb.
1   ...   38   39   40   41   42   43   44   45   ...   55

LẬP TRÌNH CÓ CẤU TRÚC VÀ LẬP TRÌNH HƯỚNG ĐỐI TƯỢNG

Phương pháp lập trình cấu trúc


Lập trình cấu trúc là tổ chức chương trình thành các chương trình con. Trong một số ngôn ngữ như PASCAL có 2 kiểu chương trình con là thủ tục và hàm, còn trong C++ chỉ có một loại chương trình con là hàm.

Hàm là một đơn vị chương trình độc lập dùng để thực hiện một phần việc nào đó như: Nhập số liệu, in kết quả hay thực hiện một số công việc tính toán. Hàm cần có đối và các biến, mảng cục bộ dùng riêng cho hàm.

Việc trao đổi dữ liệu giữa các hàm thực hiện thông qua các đối và các biến toàn cục.

Một chương trình cấu trúc gồm các cấu trúc dữ liệu (như biến, mảng, bản ghi) và các hàm, thủ tục.

Nhiệm vụ chính của việc tổ chức thiết kế chương trình cấu trúc là tổ chức chương trình thành các hàm, thủ tục.

Ví dụ, ta xét yêu cầu sau: Viết chương trình nhập toạ độ (x,y) của một dãy điểm, sau đó tìm một cặp điểm cách xa nhau nhất.

Trên tư tưởng của lập trình cấu trúc có thể tổ chức chương trình như sau:

Sử dụng 2 mảng thực toàn bộ x và y để chứa toạ độ dãy điểm.

Xây dựng 2 hàm:

Hàm nhapsl dùng để nhập toạ độ n điểm, hàm này có một đối là biến nguyên n và được khai báo như sau:

void nhapsl(int n);

Hàm do_dai dùng để tính độ dài đoạn thẳng đi qua 2 điểm có chỉ số là i và j, nó được khai báo như sau:

float do_dai(int i, int j);

Chương trình C của ví dụ trên được viết như sau:

#include

#include

#include

float x[100],y[100];

float do_dai(int i, int j)

{

return sqrt(pow(x[i]-x[j],2)+pow(y[i]-y[j],2));



}

void nhapsl(int n)

{

int i;


for (i=1; i<=n; ++i)

{

printf("\n Nhap toa do x, y cua diem thu %d : ",i);



scanf(''%f%f",&x[i],&y[i]);

}

}



void main()

{

int n, i, j, imax,jmax;



float d, dmax;

printf(''\n So diem N= '');

scanf(''%d'', &n);

nhapsl(n);

dmax=do_dai(1,2);imax=1; jmax=2;

for(i=1; i<=n-1; ++i)

for (j=i+1; j<=n; ++j)

{

d=do_dai(i,j);



if (d>dmax)

{

dmax=d;



imax=i; jmax=j;

}

}



printf(''\nDoan thang lon nhat co do dai bang: %0.2f",dmax);

printf(''\n Di qua 2 diem co chi so la %d va %d'',imax,jmax);

getch();

}

Phương pháp lập trình hướng đối tượng


Là lập trình có cấu trúc + trừu tượng hóa dữ liệu. Có nghĩa chương trình tổ chức dưới dạng cấu trúc. Tuy nhiên việc thiết kế chương trình sẽ xoay quanh dữ liệu, lấy dữ liệu làm trung tâm. Nghĩa là trả lời câu hỏi: Chương trình làm việc với những đối tượng dữ liệu nào, trên các đối tượng dữ liệu này cần thao tác, thực hiện những gì. Từ đó gắn với mỗi đối tượng dữ liệu một số thao tác thực hiên cố định riêng của đối tượng dữ liệu đó, điều này sẽ qui định chặt chẽ hơn những thao tác nào được thực hiện trên đối tượng dữ liệu nào. Khác với lập trình cấu trúc thuần túy, trong đó dữ liệu được khai báo riêng rẽ, tách rời với thao tác xử lý, do đó việc xử lý dữ liệu thường không thống nhất khi chương trình được xây dựng từ nhiều lập trình viên khác nhau.

Từ đó lập trình hướng đối tượng được xây dựng dựa trên đặc trưng chính là khái niệm đóng gói. Đóng gói là khái niệm trung tâm của phương pháp lập trình hướng đối tượng, trong đó dữ liệu và các thao tác xử lý nó sẽ được qui định trước và "đóng" thành một "gói" thống nhất, riêng biệt với các dữ liệu khác tạo thành kiểu dữ liệu với tên gọi là các lớp. Như vậy một lớp không chỉ chứa dữ liệu bình thường như các kiểu dữ liệu khác mà còn chứa các thao tác để xử lý dữ liệu này. Các thao tác được khai báo trong gói dữ liệu nào chỉ xử lý dữ liệu trong gói đó và ngược lại dữ liệu trong một gói chỉ bị tác động, xử lý bởi thao tác đã khai báo trong gói đó. Điều này tạo tính tập trung cao khi lập trình, mọi đối tượng trong một lớp sẽ chứa cùng loại dữ liệu được chỉ định và cùng được xử lý bởi các thao tác như nhau. Mọi lập trình viên khi làm việc với dữ liệu trong một gói đều sử dụng các thao tác như nhau để xử lý dữ liệu trong gói đó. C++ cung cấp cách thức để tạo một cấu trúc dữ liệu mới thể hiện các gói nói trên, cấu trúc dữ liệu này được gọi là lớp.

Để minh hoạ các khái niệm vừa nêu về kiêu dữ liệu lớp ta trở lại xét bài toán tìm độ dài lớn nhất đi qua 2 điểm. Trong bài toán này ta gặp một thực thể là dãy điểm. Các thành phần dữ liệu của lớp dãy điểm gồm:

Biến nguyên n là số điểm của dãy

Con trỏ x kiểu thực trỏ đến vùng nhớ chứa dãy hoành độ

Con trỏ y kiểu thực trỏ đến vùng nhớ chứa dãy tung độ

Các phương thức cần đưa vào theo yêu cầu bài toán gồm:

Nhập toạ độ một điểm

Tính độ dài đoạn thẳng đi qua 2 điểm

Dưới đây là chương trình viết theo thiết kế hướng đối tượng.

#include

#include

#include

#include

class daydiem

{

int n;



float *x,*y;

public:


float do_dai(int i, int j)

{

return sqrt(pow(x[i]-x[j],2)+pow(y[i]-y[j],2));



}

void nhapsl(void);

};

void daydiem::nhapsl(void)



{

int i;


printf(''\n So diem N= '');

scanf("%d'',&n);

x = (float*)malloc((n+1)*sizeof(float));

y = (float*)malloc((n+1)*sizeof(float));

for (i=1; i<=n; ++i)

{

printf(''\n Nhap toa do x, y cua diem thu %d : '',i);



scanf(''%f%f'',&x[i],&y[i]);

}

}



void main()

{

clrscr();



daydiem p;

p.nhapsl();

int n,i,j,imax,jmax;

float d,dmax;

n = p.n;

dmax=p.do_dai(1,2);imax=1; jmax=2;

for (i=1;i<=n-1;++i)

for (j=i+1;j<=n;++j)

{

d=p.do_dai(i,j);



if (d>dmax)

{

dmax=d;



imax=i; jmax=j;

}

}



printf(''\n Doan thang lon nhat co do dai bang: %0.2f",dmax);

printf(''\n Di qua 2 diem co chi so la %d va %d" , imax,jmax);

getch();

}

1   ...   38   39   40   41   42   43   44   45   ...   55


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương