SÁch giáo lý CỦa giáo hội công giáo sách giáo lý CỦa giáo hộI



tải về 4.7 Mb.
trang14/68
Chuyển đổi dữ liệu31.07.2016
Kích4.7 Mb.
1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   ...   68

556 1003. Phép Rửa mở đầu đời sống công khai. Hiển Dung mở đầu cuộc Vượt Qua. Qua phép rửa của Đức Giê-su, "mầu nhiệm cuộc tái sinh lần thứ nhất của chúng ta" được tỏ hiện : đó là bí tích Thánh Tẩy. Hiển Dung là "mầu nhiệm cuộc tái sinh lần thứ hai" : đó là phục sinh của chính chúng ta ( T. Tô-ma A-qui-nô 3,45,4 ad.2). Ngay từ bây giờ, chúng ta thông phần vào cuộc Phục Sinh của Chúa, nhờ Chúa Thánh Thần hoạt động, trong các Bí tích của Thân Mình Đức Ki-tô. Biến cố Hiển Dung cho phép chúng ta nếm trước cuộc quang lâm vinh hiển của Đức Giê-su, "Người sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người" (Pl 3,2l). Nhưng biến cố ấy cũng nhắc nhở chúng ta : "Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa" (Cv 14, 22).
Khi Phê-rô ước ao sống với Đức Ki-tô trên núi, ông chưa hiểu gì (x. Lc 9,33). Hỡi Phê-rô, Chúa sẽ dành cho ông diễm phúc này sau khi chết mà thôi. Còn hiện nay thì Chúa nói : Hãy xuống núi để chịu cực nhọc ở trần gian, để phục vụ ở trần gian, để chịu sỉ nhục, chịu đóng đinh ở trần gian. Đấng là Sự Sống đã xuống để bị giết chết; Đấng là Bánh đã xuống để chịu đói; Đấng là Đường đã xuống để chịu mệt nhọc trên đường lữ hành; Đấng là Nguồn Suối đã xuống để chịu cơn khát; còn ông lại từ chối gian la ư( T. Augustinô, bài giảng 78,6)?
Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem
557. "Khi đã tới ngày Đức Giê-su được đưa ra khỏi thế gian, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem" (Lc 9,51) (x.Ga 13,1). Khi nhất quyết như thế, Đức Giê-su muốn nói là Người lên Giê-ru-sa-lem để sẵn sàng chịu chết ở đó. Người loan báo đến ba lần cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Người (x. Mc 8,31-33; 9,31-32; 10,32-34). Khi tiến về Giê-ru-sa-lem, Người nói : "Chẳng lẽ một ngôn sứ lại chết ngoài thành Giê-ru-sa-lem!" (Lc 13,33).
558. Đức Giê-su gợi lại việc các ngôn sứ đã bị giết ở Giê-ru-sa-lem (x.Mt 23,27a). Dù sao, Người vẫn kiên trì kêu gọi Giê-ru-sa-lem tập hợp quanh Người : "Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh ...mà các ngươi không chịu" (Mt 23, 37b). Khi nhìn thấy Giê-ru-sa-lem, Người khóc thương nó và thốt lên một lần nữa ước muốn của lòng Người : "Phải chi hôm nay cả ngươi nữa cũng hiểu được sứ điệp bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ mắt ngươi không thấy được" (Lc l9,4l-42).
Đức Giê-su khải hoàn vào Giê-ru-sa-lem như Đấng Mê-si-a
559 333, 132. Giê-ru-sa-lem sẽ đón nhận Đấng Mê-si-a của mình như thế nào? Trong khi Đức Giê-su trốn tránh mọi ý đồ của dân chúng muốn tôn Người làm vua (x.Ga 6,15) thì Người lại chọn thời điểm và chuẩn bị mọi chi tiết chuyến vào Giê-ru-sa-lem, thành phố của "Đa-vít, Cha của Người" (Lc 1,32) (x. Mt 21,1-11 với tư cách là Đấng Mê-si-a. Người được dân chúng hoan hô như con vua Đavit, Đấng mang lại ơn cứu độ ( Hosanna có nghĩa là "Xin cứu chúng con","Xin ban ơn cứu độ!"). Nhưng "Vua Vinh hiển" (Tv 24,7-10) lại "ngồi trên lưng lừa con" (Dcr 9, 9) tiến vào thành. Người không chinh phục Nữ Tử Xi-on bằng mưu mẹo hay bằng bạo lực, nhưng bằng sự khiêm nhường, chứng từ của Chân lý. Vì thế ngày hôm đó, thần dân vây quanh (x.Ga 18,37) Người là trẻ con (x.Mt 21,15-16; Tv 8,3) và "những người nghèo của Thiên Chúa", tung hô Người như các thiên thần đã loan báo Người cho các mục đồng (x.Lc 19,38; 2,14) Lời tung hô : "Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa" (Tv 118, 26) được Hội Thánh sử dụng trong kinh "Thánh! Thánh! Thánh!", để mở đầu nghi thức tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa.
560 550, 2816 1169. Việc Đức Giê-su khải hoàn vào Giê-ru-sa-lem loan báo Nước Thiên Chúa đến, Nước mà Đức Vua Mê-si-a sắp thực hiện bằng Vượt Qua từ cái chết đến phục sinh của Người. Hội Thánh long trọng khai mạc Tuần Thánh với việc cử hành biến cố Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem ngày Chúa Nhật Lễ Lá.
TÓM LƯỢC
56l. "Tất cả cuộc đời Đức Ki-tô là một giáo huấn liên tục : Người thinh lặng, hành động, cầu nguyện, yêu thương con người, ưu ái kẻ bé mọn và người nghèo, chấp nhận hiến tế trọn vẹn trên Thập Giá để cứu chuộc thế gian, Phục Sinh... tất cả là để hiện thực Lời Người và hoàn tất Mặc Khải" (CT 9).
562. Các môn đệ Chúa Ki-tô phải nên đồng hình đồng dạng với Người cho đến khi Người được hình thành trong họ (x. Gl 4,19). "Vì thế, chúng ta được đảm nhận vào các mầu nhiệm cuộc sống của Người, trở nên giống Người, cùng chết và sống lại với Người, cho đến khi cùng cai trị với Người" (LG 7).
563. Là mục đồng hay đạo sĩ, người ta cũng chỉ gặp được Thiên Chúa ở đời này, khi quỳ xuống trước máng cỏ Bê-lem và thờ lạy Thiên Chúa ẩn mình nơi một trẻ thơ yếu đuối.
564. Khi tuân phục Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se cũng như khiêm nhu lao động trong những năm dài ở Na-da-rét, Đức Giê-su nêu gương thánh thiện cho chúng ta trong cuộc sống gia đình và lao động hằng ngày.
565. Ngay khi bắt đầu đời sống công khai, lúc chịu phép rửa, Đức Giê-su là "Người Tôi Tớ" hoàn toàn hiến dâng cho công trình cứu độ sẽ được hoàn tất trong "phép rửa" là cuộc khổ nạn.
566. Cơn cám dỗ trong hoang địa cho thấy Đức Giêsu, Đấng Mê-si-a khiêm nhu, chiến thắng Xa-tan nhờ gắn bó trọn vẹn với ý định cứu độ của Chúa Cha.
567. Đức Ki-tô đã khai mạc Nước Trời dưới thế. "Nước này chiếu sáng trước mặt mọi người qua lời nói, hành động và sự hiện diện của Chúa Ki-tô" (LG 5). Hội Thánh là mầm và khởi đầu của Nước Trời. Chìa khóa Nước Trời được trao cho Phê-rô.
568. Cuộc Hiển Dung của Chúa Ki-tô nhằm mục đích củng cố đức tin của các tông đồ trước cuộc khổ nạn : việc leo lên "núi cao" chuẩn bị việc leo lên Núi Sọ. Đức Ki-tô, Đầu của Hội Thánh, bày tỏ "niềm hy vọng đạt tới vinh quang" mà Thân Thể Người ấp ủ và chiếu tỏa qua các bí tích (Cl 1,27) (x. T. Lê-ô cả, bài giảng 51,3).
569. Đức Giê-su tự nguyện lên Giê-ru-sa-lem dù biết rằng tại đây Người sẽ phải chết khổ nhục vì sự thù nghịch của những kẻ tội lỗi (x. Dt l2,3).
570. Việc Đức Giê-su khải hoàn vào Giê-ru-sa-lem cho thấy Nước Trời đến. Đức Vua Mê-si-a mà trẻ thơ và những ngưòi có tâm hồn nghèo khó nghênh đón, sẽ hoàn tất Nước Trời bằng cuộc Vượt Qua từ Khổ Nạn đến Phục Sinh của Người .

Mục 4
"CHÚA GIÊSU KITÔ ĐÃ CHỊU KHỔ HÌNH

DƯỚI THỜI PHONGXIÔ- PHILATÔ, NGÀI ĐÃ BỊ ĐÓNG ĐINH THẬP GIÁ, CHẾT VÀ MAI TÁMG"


571 1067. Mầu nhiêm Vượt Qua từ Thập Giá đến Phục Sinh của Chúa Ki-tô là trọng tâm Tin Mừng mà các tông đồ và Hội Thánh tiếp nối các ngài, phải loan báo cho thế giới cái chết của Thánh Tử Giê-su Ki-tô đã hoàn tất ý định cứu độ của Thiên Chúa "một lần dứt khoát" (Dt 9,26).
572 599. Hội Thánh vẫn trung thành với cách "giải thích toàn bộ Thánh Kinh" mà chính Đức Giê-su đã đưa ra trước cũng như sau cuộc Vượt Qua : "Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu đau khổ như thế, rồi mới được hưởng vinh quang dành cho Người sao?" (Lc 24, 26-27, 44-45). Những khổ đau của Đức Giê-su mang dấu chứng lịch sử cụ thể vì Người đã "bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ" (Mc 8, 31); họ đã "nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá" (Mt 20, 19).
573 158. Để hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc cứu chuộc, chúng ta cố gắng tìm hiểu kỹ càng các tình tiết về cái chết của Đức Giê-su, đã được các sách Tin Mừng (x. DV 19) trung thành truyền lại và được các nguồn lịch sử khác soi sáng.

Tiết 1: ĐỨC GIÊSU VÀ ISRAEL
574 530 591. Ngay từ đầu sứ vụ công khai của Đức Giê-su, những người Pha-ri-sêu và nhóm Hê-rô-đê, cùng với các tư tế và kinh sư đã toa rập với nhau để hại Người ( x.Mc 3,6). Vì một số hành động của Người (trừ quỉ (x.Mt 12,24); tha tội ( x.Mc 2,7); chữa bệnh ngày sa-bát (x.Mc 3,1-6); giải thích độc đáo những giới luật thanh sạch (x.Mc 7,14-23); thân thiện với những người thu thuế và kẻ tội lỗi công khai (x.Mc 2,14-17)), mà nhiều người có ý xấu nghi ngờ Người bị quỉ ám (x.Mc 3,22; Ga 8,48; 10,20). Họ buộc tội Người là kẻ phạm thượng (x.Mc 2,7; Ga 5,18; 10,33)và là ngôn sứ giả (x.Ga 7,12; 7,52); đây là những tội thuộc lãnh vực tôn giáo mà theo Luật Mô-sê, phải bị xử tử bằng cách ném đá (x.Ga 8,59; 10,31).
575 993. Không phải đa số dân Thiên Chúa (Ga 7,48-49), nhưng chủ yếu là các nhà chức trách tôn giáo tại Giê-ru-sa-lem, những người mà Tin Mừng Thánh Gio-an thường gọi là "người Do Thái" (x.Ga 1,19; 2,18; 5,10; 7,13; 9,22; 18,12; 19,38; 20,19), đã coi nhiều hành động và lời nói của Đức Giê-su là "dấu hiệu chống đối" (Lc 2,34) (x.Ga 7,48-49). Giữa Chúa Giê-su với nhóm Pha-ri-sêu không phải chỉ có luận chiến. Chính những người Pha-ri-sêu đã báo trước cho Người mối nguy đang đe dọa Người (x.Lc 13,31). Đức Giê-su ca tụng một số Pha-ri-sêu như kinh sư trong Mc 12,34, và Người cũng nhiều lần dùng bữa tại nhà họ. Đức Giê-su chuẩn nhận những giáo huấn thịnh hành nơi nhóm ưu tú tôn giáo này của dân Chúa: việc kẻ chết sống lại, những hình thức đạo đức (bố thí, giữ chay và cầu nguyện), và thói quen gọi Thiên Chúa là cha, tính cách trọng tâm của giới răn mến Chúa yêu người.

576. Đối với nhiều người Ít-ra-en, Đức Giê-su xem ra hành động nghịch với những định chế cơ bản của Dân Chúa như :
-Việc tuân phục Lề Luật, gồm tất cả những giới luật thành văn không trừ luật nào, và theo nhóm Pha-ri- sêu, gồm cả những lời giải thích truyền khẩu nữa;
-Vị trí trung tâm của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem như nơi thánh, nơi Thiên Chúa ngự cách đặc biệt;
-Đức tin vào Thiên Chúa duy nhất mà không ai có thể chia sẻ vinh quang với Người.
I. ĐỨC GIÊ-SU VÀ LỀ LUẬT
577 1965. Trong Bài Giảng Trên Núi, Đức Giê-su bày tỏ lập trường của mình đối với Luật Cũ dưới ánh sáng ân sủng của Luật Mới. Người cảnh giác :
1967. "Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc giáo huấn của các ngôn sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, và cho đến khi mọi sự được hoàn thành, thì một chấm một phết trong sách Luật cũng không thể bỏ đi được. Vậy ai vi phạm dù chỉ là một trong những điều luật nhỏ nhất này, và dạy kẻ khác làm như thế, thì sẽ được coi là người nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân giữ, và dạy kẻ khác làm như thế, thì sẽ được coi là người lớn nhất trong Nước Trời" (Mt 5,17-19).
578 1953. Theo Đức Giê-su, Đấng Mê-si-a của Ít-ra-en, người lớn nhất trong Nước Trời phải chu toàn Lề Luật bằng cách thi hành trọn vẹn, ngay cả trong các điều luật nhỏ nhất. Thật ra, Người là Đấng duy nhất có thể làm điều này một cách trọn hảo. Chính Người Do Thái thú nhận không thể chu toàn được Lề Luật mà không vi phạm điều luật nhỏ nào. Vì thế trong lễ Xá Tội hằng năm, con cái Ít-ra-en xin lỗi Thiên Chúa về những vi phạm Lề Luật. Lề Luật họp thành một khối thống nhất; thánh Gia-cô-bê nhắc nhở, "ai tuân giữ tất cả Lề Luật, mà chỉ sa ngã về một điểm thôi, thì cũng thành người có tội về hết mọi điểm" (Gcb 2,10).
579. Nhóm Pha-ri-sêu tha thiết với nguyên tắc tuân giữ toàn bộ Lề Luật này, không những sát mặt chữ mà cả trong tinh thần nữa. Khi nêu nguyên tắc đó cho Ít-ra-en, họ đã đưa nhiều người Do Thái thời Đức Giê-su, đến một lòng đạo cực đoan. Lòng đạo này, nếu không biến thành một thứ luân lý biện luận (Casuistique) "giả hình", thì có thể chuẩn bị Dân Chúa đón nhận sự can thiệp lạ lùng của Thiên Chúa: Đấng Công Chính duy nhất sẽ thực hiện Lề Luật cách trọn hảo thay cho mọi kẻ tội lỗi.
580 527. Chỉ có Con Thiên Chúa, Đấng ban hành Lề Luật, sinh làm người sống dưới Lề Luật mới có thể chu toàn lề luật cách trọn hảo ( x. Gl 4,4). Nơi Đức Giê-su, Lề Luật không còn được ghi trên bia đá, nhưng "trong đáy lòng" (Gr 31, 33) của Người Tôi Tớ được đặt làm "giao ước với dân" (Is 42,6), vì Người đã "trung thành làm sáng tỏ công lý" (Is 42,3). Đức Giê-su chu toàn Lề Luật đến nổi gánh lấy "lời nguyền rủa của Lề Luật" (Gl 3,13) mà những ai "không thi hành tất cả những gì chép trong sách Luật" (Gl 3,10) đã chuốc lấy. "Người lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ" (Dt 9,15).
581 2054. Trước mắt người Do Thái cũng như các nhà lãnh đạo tinh thần của họ, Đức Giê-su xuất hiện như một vị "Ráp-bi" (x. Ga 11,28; 3,2; Mt 22,23-24; 34-36). Người thường lý luận trong khuôn khổ cách giải thích Luật của các Ráp-bi. Nhưng đồng thời, Đức Giê-su cũng va chạm đến những luật sĩ vì Người không chỉ đưa ra cách giải thích luật của Người, nhưng "còn giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền chớ không như các luật sĩ" (Mt 7,28-29). Nơi Người, chính Lời của Thiên Chúa đã từng vang dội trên núi Xi-nai để ban hành Lề Luật cho Mô-sê, nay lại vang dội trên Núi Bát Phúc (x. Mt 5,1). Lời Thiên Chúa ấy không bãi bỏ, nhưng kiện toàn Lề Luật bằng cách đưa ra lời giải thích tối hậu của Thiên Chúa : "Anh em nghe Luật dạy người xưa rằng ... còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết" (Mt 5,33-34). Với cùng một thẩm quyền ấy của Thiên Chúa, Người phủ nhận một số "truyền thống của người phàm" (Mc 7,8) nghĩa là của những người Pha-ri-sêu "hủy bỏ Lời Thiên Chúa" (Mc 7,13).
582 368 548 2173. Đi xa hơn nữa, Đức Giê-su còn kiện toàn Luật thanh khiết về các thức ăn, điều mà người Do Thái coi là rất quan trọng trong cuộc sống hằng ngày (x. Gl 3,24), bằng cách giúp ta hiểu : "Bất cứ cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm cho con người ra ô uế ... như vậy là Người tuyên bố mọi thức ăn đều thanh khiết. Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người phát xuất những ý định xấu" (Mc 7,18-21). Khi lấy thẩm quyền của Thiên Chúa đưa ra lời giải thích tối hậu về Lề Luật, Đức Giê-su phải đương đầu với một số luật sĩ không chịu đón nhận cách giải thích của Người, dù lời giải thích này được bảo đảm bằng những dấu lạ kèm theo (x. Ga 5,36; 10,25-37-38; 12,37). Mâu thuẫn lại càng gay gắt hơn trong vấn đề ngày sa-bát. Đức Giê-su thường dựa theo lập luận của các Ráb-bi (x. Mc 2,25-27; Ga 7,22-24) , nhắc nhở rằng luật nghỉ ngơi của ngày sa-bát không bị vi phạm khi phục vụ Thiên Chúa (x. Mt 12,5; Nb 28,9) và anh em (x. Lc 13,15-16; 14,3-4) qua các việc chữa bệnh của Người .
II. ĐỨC GIÊ-SU VÀ ĐỀN THỜ
583 529 534. Cũng như các ngôn sứ, Đức Giê-su, tỏ ra hết lòng tôn kính Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Bốn mươi ngày sau khi sinh (x. Lc 2,22-39), Người được thánh Giu-se và Mẹ Ma-ri-a đem dâng trong Đền Thờ. Năm mười hai tuổi, Người quyết định ở lại trong Đền Thờ để nhắc cha mẹ nhớ rằng Người phải ở nhà Cha Người ( x. Lc 2,46-49). Trong thời ẩn dật, Người lên Đền Thờ hằng năm ít nhất là trong lễ Vượt Qua (x. Lc 2,41). Sứ vụ công khai của Người cũng nhịp theo những cuộc hành hương của Người lên Giê- ru-sa-lem vào những ngày lễ lớn của đạo Do Thái (x Ga 2,13-14; 5,1,14; 7,1,10,14; 8,2; 10,22-23).
584 2599. Đức Giê-su lên Đền Thờ, nơi ưu biệt để gặp gỡ Thiên Chúa. Đối với Người, Đền Thờ là nhà của Cha Người, nhà cầu nguyện. Người phẫn nộ vì tiền đường Đền Thờ đã trở thành nơi buôn bán ( x. Mt 21,13). Vì yêu Cha tha thiết, Người xua đuổi con buôn khỏi Đền Thờ : "Đừng biến nhà Cha tôi thành chợ búa". Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Thánh Kinh: "Lòng nhiệt thành lo việc nhà Chúa, sẽ thiêu đốt tôi (Tv 69,10)" (Ga 2,16-17). Sau khi Người phục sinh, các tông đồ vẫn một lòng tôn kính Đền Thờ

(x. Cv 2,46; 3,1; 5,20,21:vv...).


585. Trước khi chịu nạn, Đức Giê-su đã loan báo Đền Thờ sẽ bị tàn phá và không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào (x. Mt 24,1-2). Đây là dấu chỉ tiên báo thời cánh chung sẽ khởi đầu với cuộc Vượt Qua của Người ( x. Mt 24,3, Lc 13,35). Những lời tiên báo đó đã bị những kẻ chứng gian bóp méo, khi vị Thượng Tế thẩm vấn Đức Giê-su, và sau đó, người ta lại dùng để nhục mạ Người khi Người bị đóng đinh trên cây thập giá (x.Mt 27,39-40).
586 797 1179. Đức Giê-su không chống đối Đền Thờ (x.Mt 8,4; 23,21; Lc,17,14; Ga 4,22) nơi mà Người đã trình bày một phần lớn giáo thuyết (x. Ga 18,20). Người còn muốn nộp thuế Đền Thờ cho phần mình và phần Phê-rô (x.Mt 17,24-27) mà Người vừa mới đặt làm nền tảng Hội Thánh tương lai (x. Mt 16,18). Hơn nữa, Người tự đồng hóa với Đền Thờ khi coi mình là nơi Thiên Chúa cư ngụ vĩnh viễn giữa loài người ( x.Ga 2,21; Mt 12,6). Vì vậy, việc Người bị giết chết về thể xác, loan báo việc phá hủy Đền Thờ. Sự phá hủy này cho thấy lịch sử cứu độ bước vào thời đại mới : "Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem nữa" (Ga 4,21) (x.Ga 4,23-24; Mt 27,51; Dt 9,11; Kh 21,22).
III. ĐỨC GIÊ-SU VÀ ĐỨC TIN CỦA ÍT-RA-EN VÀO THIÊN CHÚA CỨU ĐỘ DUY NHẤT
587. Nếu Lề Luật và Đền thờ Giê-ru-sa-lem là cơ hội để các nhà chức trách "chống báng Chúa Giê-su" (x.Lc 2,34), thì thật ra vai trò cứu chuộc khỏi tội lỗi của Người, công trình tuyệt hảo của Thiên Chúa, mới chính là hòn đá vấp ngã cho họ (x.Lc 20,17-18; Tv.118,22).
588 545. Đức Giê-su làm cho nhóm Pha-ri-sêu bất bình, khi thân mật dùng bữa với người thu thuế và tội lỗi (x.Lc 5,30), y như đã thân mật dùng bữa với họ (x.Lc 7,36; 11,37; 14,1). Với những người "tự đắc cho mình là công chính mà khinh chê người khác" (Lc 18,9) (x.Ga 7,49; 9,34), Đức Giê-su khẳng định : "Tôi đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn" (Lc 5,32). Người còn đi xa hơn nữa, khi tuyên bố trước mặt nhóm Pha-ri-sêu rằng, mọi người đều có tội (x.Ga 8,33-36), cho nên ai tự cho mình không cần được cứu độ thật là đui mù về chính bản thân (x.Ga 9,40-41).
589 431,1441 432. Đức Giê-su làm cho người Do Thái bất bình nhất là vì đã đồng hóa cách xử sự nhân từ của Người với kẻ tội lỗi là thái độ của chính Thiên Chúa (x.Mt 9,13; Hs.6,6). Thậm chí Người còn muốn cho họ thấy rằng khi đồng bàn với kẻ tội lỗi (x.Lc 15,1-2), Người đón nhận những người ấy vào bàn tiệc thời Mê-si-a ( x.Lc 15,23-32). Đặc biệt khi tha tội, Đức Giê-su dồn các nhà chức trách của Ít-ra-en vào thế tiến thoái lưỡng nan. Trong cơn hoảng hốt, họ có lý khi nêu vấn nạn : "Ngoài một mình Thiên Chúa ra, ai có quyền tha tội" (Mc 2,7)? Hoặc là Đức Giê-su phạm thượng khi tha tội vì là người mà dám coi mình ngang hàng với Thiên Chúa ( x.Ga 5,18; 10,33), hoặc là Người nói đúng, và như vậy, chính nơi Người, Thiên Chúa hiện diện và mặc khải danh Thiên Chúa ra (x.Ga 17,6,26).
590 253. Chỉ với căn tính là Thiên Chúa, Đức Giê-su mới có quyền đưa ra đòi hỏi tuyệt đối : "Ai không theo tôi, là chống lại tôi" (Mt 12,30); hay tuyên bố : "ở đây có người còn hơn ông Giô-na nữa,... còn hơn vua Xa-lô-mon nữa" (Mt 12,41-42), "hơn cả Đền Thờ nữa" (Mt 12,6); cũng như khi nhắc lại lời Đa-vít đã gọi Đấng Mê-si-a là Chúa của ông (x.Mt 12,36-37); Người khẳng định : "Trước khi có tổ phụ Áp-ra-ham, vẫn có tôi " (Ga 8,58); thậm chí Người còn nói : "Tôi và Chúa Cha là một" (Ga 10,30).
591 526 574. Đức Giê-su đòi buộc các nhà chức trách tôn giáo của Giê-ru-sa-lem phải tin vào Người vì Người đã chu toàn những công việc của Chúa Cha (x.Ga 10,36-38). Muốn tin như vậy, phải chết đối với bản thân, để được "sinh ra từ trời cao" (Ga 3,7) dưới tác động của ơn thánh (x.Ga 6,44). Một đòi hỏi hoán cải quá gay gắt như vậy đối diện với việc thực hiện các lời hứa cách lạ lùng (x.Is 53,1) giúp chúng ta có thể hiểu được sự sai lầm bi đát của Công Nghị Do Thái (Sanhédrim) khi phán quyết Chúa Giê-su đáng chết vì phạm thượng ( x.Mc 3,6; Mt 26,64-66). Họ hành động như vậy vì "không biết việc họ làm" (x.Lc 23,34; Cv 3,17-18)và vì "lòng chai đá" (Mc 3,5; Rm 11,25) mà "cứng tin" (Rm 11,20).
TÓM LƯỢC
592. Đức Giê-su không hủy bỏ Lề Luật núi Xi-nai, nhưng đã kiện toàn (x.Mt 5,17-19) cách tuyệt hảo ( x.Ga 8,46): Người mặc khải ý nghĩa tối hậu (x.Mt 5,33) của Lề Luật và chuộc tội lỗi người ta đã phạm đối với Lề Luật (x.Dt 9,15).
593. Đức Giê-su tôn kính Đền Thờ : Người lên Đền Thờ vào những dịp lễ hành hương của Do Thái và Người yêu nơi Thiên Chúa cư ngụ giữa loài người này với một tình yêu tha thiết. Đền Thờ báo trước mầu nhiệm của Người. Người loan báo Đền Thờ bị phá hủy là để tỏ cho biết chính Người sẽ bị giết và lịch sử cứu độ bước vào thời đại mới, trong đó Thân Thể Người sẽ là Đền Thờ vĩnh viễn.
594. Đức Giê-su có những hành vi như việc tha tội tỏ ra Người là chính Thiên Chúa Cứu Độ (x.Ga 5,16-18). Một số người Do Thái không nhìn nhận Người là Thiên Chúa Làm Người, chỉ thấy Người "là một phàm nhân mà lại tự cho mình là Thiên Chúa" (Ga 10,33), nên đã kết tội Người là phạm thượng.

Tiết 2 : ĐỨC GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH CHẾT TRÊN THẬP GIÁ
I. VỤ ÁN ĐỨC GIÊ-SU
Chia rẽ giữa các nhà chức trách Do Thái về Đức Giê-su
595. Đức Giê-su luôn là cớ gây chia rẽ giữa các nhà chức trách tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem. Thế nhưng vẫn có những người âm thầm theo làm môn đệ Chúa Giê-su như : ông Ni-cô-đê-mô (x. Ga 7,50) thuộc nhóm Pha-ri-sêu và Gio-sép thành A-ri-ma-tha (x. Ga 19,38-39); cho nên trước ngày Người chịu khổ nạn, thánh Gio-an có thể nói về họ rằng : "Ngay cả trong giới lãnh đạo Do Thái, cũng có nhiều người đã tin vào Đức Giê-su, nhưng họ không dám xưng ra, kẻo bị khai trừ khỏi Hội Đường" (Ga 12,42). Điều này không có gì lạ, vì sau lễ Hiện Xuống "có nhiều tư tế đón nhận đức tin" (Cv 6,7) và "có những người nhóm Pha-ri-sêu đã trở thành tín hữu" (Cv 15,5), đến nỗi thánh Gia-cô-bê có thể nói với thánh Phao-lô rằng : "Có hàng vạn người Do Thái đã tin theo và tất cả đều nhiệt thành đối với luật Mô-sê" (Cv 21,20).
596 1753. Các nhà chức trách tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem đã không nhất trí với nhau trong cách xử sự đối với Đức Giê-su (x.Ga 9,16; 10,19). Nhóm Pha- ri-sêu dọa tuyệt thông những ai theo Người (x.Ga 9,22). Với những người sợ rằng "mọi người sẽ tin vào Đức Giê-su, rồi người Rô-ma sẽ đến phá hủy cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta" (Ga 11,48), Thượng Tế Cai-pha đã nói tiên tri khi đề nghị : "Điều có lợi cho các ông là : thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt" (Ga 11,49-50). Thượng Hội Đồng tuyên bố Đức Giê-su "đáng chết" (Mt 26,66) vì tội phạm thượng, nhưng vì đã mất quyền xử tử (x.Ga 18,31), Thượng Hội Đồng đã nộp Đức Giê-su cho người Rô-ma, tố cáo Người về tội xách động chính trị, và liệt Người đồng hàng với Ba-ra-ba và bị tố cáo là "phiến loạn"(Lc 23,19). Các thượng tế cũng đưa ra những lời đe dọa chính trị như vậy để buộc Phi-la-tô kết án tử hình Đức Giê-su (x. Ga 19,12.15,21).
Người Do Thái không phải chịu trách nhiệm tập thể về cái chết của Đức Giê-su
597 1735. Vì tính cách phức tạp về lịch sử trong vụ án Chúa Giê-su được các Tin Mừng thuật lại, cũng như lỗi lầm cá nhân của những người tra tay vào vụ án (Giu-đa, Thượng Hội Đồng, Phi-la-tô). Chỉ mình Thiên Chúa biết, nên chúng ta không thể qui trách nhiệm của tội đó cho toàn thể người Do Thái ở Giê-ru-sa-lem, mặc dù đám đông có bị xúi giục la ó (x. Mc 15,11), và trong những bài giảng kêu gọi hoán cải sau lễ Hiện Xuống (x.Cv 2,23.36; 3,13-14; 4,10; 5,30; 7,52; 10,39; 13,27 28; 1Tx 2,14-15), các tông đồ có trách móc cả tập thể người Do Thái đi nữa. Chính Đức Giê-su trên thập giá đã tha thứ cho họ rồi (x. Lc 23,34), sau đó thánh Phê-rô cũng coi những người Do Thái ở Giê- ru-sa-lem và cả các thủ lãnh của họ đã hành động vì "không biết" (Cv 3,17). Chúng ta lại càng không thể dựa trên tiếng hò hét của dân chúng : "Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi" (Mt 27,25), chỉ có nghĩa như một công thức thừa nhận bản án (x. Cv 5,28; 18,6), mà nới rộng trách nhiệm cho những người Do thái khác mọi thời và mọi nơi :
839. Hội Thánh tuyên bố tại Công đồng Va-ti-ca-nô II : "Không thể qui trách nhiệm một cách hàm hồ những tội ác đã phạm trong khi Đức Giê-su bị khổ nạn cho hết mọi người Do Thái thời đó, cũng như cho người Do Thái thời nay .... Từ Thánh Kinh ( x. NA 4), không thể rút ra kết luận : "Thiên Chúa đã loại bỏ người Do Thái hoặc đã chúc dữ họ."
Mọi kẻ tội lỗi là thủ phạm gây ra cuộc khổ nạn của Đức Ki-tô
598. Qua huấn quyền của mình và chứng từ của các thánh, Hội Thánh không bao giờ quên rằng chính những "kẻ phạm tội là thủ phạm và như là dụng cụ thực hiện những cực hình mà Chúa Cứu Thế phải chịu" ( Giáolý Rô-ma 1,5.11; x. Dt 12,3). Vì tội lỗi chúng ta xúc phạm đến chính Đức Ki-tô (x.Mt 25,45; Cv 9,4-5), nên Hội Thánh không ngần ngại qui cho các Ki-tô hữu trách nhiệm nặng nhất về cực hình Đức Giê-su phải chịu, trách nhiệm mà họ thường trút đổ trên người Do Thái mà thôi :
1851. Chúng ta phải coi những kẻ sa đi ngã lại trong tội lỗi là những người đã phạm lỗi tầy trời ấy. Bởi lẽ, chính tội ác của chúng ta đã làm Đức Giê-su Ki-tô phải chịu khổ hình thập giá, thì chắc chắn rằng những ai chìm đắm trong gian tà cũng "tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa, và đã công khai sĩ nhục Người" (Dt 6,6). Và phải nhìn nhận rằng, tội ác của chúng ta trong trường hợp này nặng hơn tội của người Do Thái. Vì theo thánh Phao-lô, "nếu họ đã được biết Vua vinh hiển, họ đã chẳng đóng đinh Người vào thập giá" (1Cr 2,8). Trái lại, chúng ta tuyên xưng rằng chúng ta biết Người, nên khi chúng ta chối bỏ Người bằng những hành động, có thể nói được rằng chúng ta đã tra tay giết Người ( Giáo lý Rô-ma 1,5,11).

Không phải quỉ dữ đã đóng đinh Người trên thập giá; chính bạn cùng với chúng đã đóng đinh Người vào thập giá; và còn đang đóng đinh Người nữa, khi bạn thích thú trong thói xấu và tội lỗi (T.Phan-xi-cô Át-xi-di, khuyến dụ 5,3).

1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   ...   68


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương