SỰ tiếp nhận văn hóa phưƠng tây thông qua hoạT ĐỘng thưƠng mạI – truyền giáo của bồ ĐÀo nha và pháP Ở việt nam



tải về 76.79 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu30.08.2016
Kích76.79 Kb.
SỰ TIẾP NHẬN VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG

THƯƠNG MẠI – TRUYỀN GIÁO CỦA BỒ ĐÀO NHA VÀ PHÁP Ở VIỆT NAM

(THẾ KỶ XVI ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX)

Hoàng Thị Anh Đào1

After the geographical discoveries of Vasco de Gama, Portuguese had successfully opened path of Africa to Europe through Asia in the late fifteenth century. Since then, the process of exchanges The East – The West came strongly which was called “Period of the first globalization”. Portuguese and French came to the East by means of “Missions and Merchant ships”. As other countries of the region in these centuries, along with important strategic positions in the exchange path of The East – The West, Vietnam became the country which Portuguese and French set up trading relationships and missions. With the presence of Western countries, Vietnam has received a new production method compared with the feudal mode of production method earlier, Western culture was introduced into Vietnam in behavior, architecture, lifestyle, religion and character. This article identifies the positive values ​​of Western culture, whether through the centuries that is still valuable, and the positive value has certainly made contributions to the Vietnam cultural diversity, besides, pointing out the drawbacks in the process of these acculturation. From recognizing the positive value and limitations in the process of cultural exchange, we offer a solution in choosing the filtered values ​​of humanity to learn in the context of Vietnam’s opening integration, taking in the process of globalization that retains its identity.

NỘI DUNG

Sau phát kiến địa lý của Vasco de Gama, Bồ Đào Nha đã khai mở thành công con đường từ châu Âu qua châu Phi đến châu Á vào cuối thế kỷ thứ XV. Việt Nam là nước có vị trí địa lý chiến lược nên đã trở thành nơi mà Bồ Đào Nha và Pháp đặt quan hệ thương mại và truyền giáo.



Bài viết nhận định những giá trị tích cực của văn hóa phương Tây đã du nhập vào Việt Nam thông qua hoạt động thương mại và truyền giáo, dù trải qua nhiều thế kỷ vẫn còn nguyên giá trị, và những giá trị tích cực này đã có những đóng góp nhất định vào việc đa dạng văn hóa Việt Nam, bên cạnh đó chỉ ra những mặt hạn chế trong quá trình tiếp biến văn hóa. Từ việc chỉ ra những giá trị tích cực và mặt hạn chế trong quá trình giao lưu văn hóa, chúng ta đưa ra giải pháp lọc chọn những giá trị tinh hoa nhân loại để học hỏi trong bối cảnh Việt Nam mở cửa hội nhập, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa mà vẫn giữ được bản sắc của mình.

  1. Bối cảnh quốc tế và khu vực diễn ra quá trình giao lưu Đông – Tây

Châu Âu, sau các cuộc phát kiến địa lý của thế kỷ XV, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hết sức mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội. Đối với châu Âu, các cuộc phát kiến địa lý đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tìm ra những vùng đất mới và nối liền hoạt động thương mại giữa phương Đông và phương Tây. Ở châu Âu giai đoạn này nổi bật lên là phong trào văn hóa phục hưng, nó như một cuộc cách mạng tinh thần, hướng tới chủ nghĩa nhân đạo, cách mạng khoa học. Phong trào quan trọng nữa là phong trào cải cách tôn giáo và canh tân giáo hội, nhằm khẳng định vị trí của Thiên chúa giáo so với Hồi giáo, và việc mở rộng ảnh hưởng của Thiên chúa giáo ra bên ngoài (không chỉ bó hẹp ở châu Âu).

Bồ Đào Nha, trước thế kỷ XI, Bồ Đào Nha nằm dưới sự thống trị của người Hồi giáo giống như những vùng đất khác trên bán đảo Iberia. Từ phong trào Phục hồi (Reconquista), nước Bồ Đào Nha độc lập ra đời, với việc Henri de Borgonha (1066 – 1112) lập nên vương triều Borgonha, cai trị từ năm 1093 đến năm 1383. Nét đặc biệt trong quá trình thiết lập vương quốc Bồ Đào Nha là đã diễn ra hai cuộc đấu tranh chống xâm lược, can thiệp của ngoại bang: thế lực Hồi giáo và các vương quốc khác trên bán đảo Iberia. Nếu như cuộc đấu tranh chống người Hồi giáo dẫn tới sự thành lập vương triều thứ nhất – vương triều Borgonha, thì cuộc đấu tranh chống lại ý muốn cai trị đất nước của các thế lực khác trên bán đảo Iberia dẫn tới sự thành lập vương triều thứ hai, vương triều Aviz (1385 – 1580). Đây là thời kỳ đạt đến sự phát triển đỉnh cao về kinh tế, chính trị, quân sự. Cũng trong thời kỳ của vương triều này, Bồ Đào Nha đã tiến hành các cuộc phát kiến địa lý, và kết quả là họ đã tìm được đường biển nối liền châu Âu và châu Á, do vậy trung tâm thương mại thế giới đã chuyển dịch từ Địa Trung Hải sang Đại Tây Dương.

Nước Pháp, là một bộ phận của châu Âu, nước Pháp dưới triều vua Henri và Louis cũng đã có những thay đổi lớn trên tất cả các phương diện, vừa mang đặc điểm chung của khu vực vừa có những nét riêng biệt từ quá trình vận động nội tại. Về mặt tôn giáo, trước sự lan tỏa nhanh chóng của đạo tin lành, giới trí thức Pháp chia làm hai phe: phe ủng hộ và phe bài trừ, và mâu thuẫn dẫn đến Cuộc chiến tranh tôn giáo ở Pháp. Về chính trị, sau khi vua Louis XVIII qua đời, năm 1643 vua Louis XIV lên ngôi mở ra một trang mới trong lịch sử nước Pháp “Vua Mặt trời”, là mẫu hình nhà nước chuyên chế, có quân đội mạnh, kỷ luật cao, tiềm lực quân sự vào loại bậc nhất châu Âu, kinh tế phát triển, giao thông, xuất khẩu và công nghiệp được mở rộng.

Việt Nam trong bối cảnh khu vực Đông Nam Á, Đông Nam Á trong giai đoạn này, chính quyền phong kiến đang trên đà suy yếu, nền kinh tế nông nghiệp tiểu nông kết hợp chặt chẽ với thủ công gia đình, lương thực chính vẫn là lúa, tuy nhiên, về văn hóa, người Đông Nam Á sống trong mối quan hệ làng xóm bền chặt với tính cố kết cộng đồng rất cao, văn hóa làng xã là đặc trưng của văn hóa Đông Nam Á.

Việt Nam cũng nằm trong sự chuyển biến chung của khu vực Đông Nam Á, xã hội truyền thống với tư tưởng “trọng nông ức thương” nên nền kinh tế khép kín mang nặng tính tự cung tự cấp trong suốt hàng chục thế kỷ. Bước vào các thế kỷ XVII - XVIII, những cuộc nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến thống trị đã hình thành nên nhu cầu mua vũ khí và các nhu yếu phẩm phục vụ cho chiến tranh của các tập đoàn này, khiến giai cấp thống trị không ngần ngại đẩy mạnh quan hệ buôn bán với các nước phương Tây. Nằm trên con đường thương mại quốc tế, Việt Nam đã trở thành cửa ngõ giao thương của các luồng hàng từ châu Âu sang châu Á; từ Trung Quốc, Nhật Bản đến các nước Đông Nam Á.

Bối cảnh lịch sử của thế giới, khu vực, từng nước đã hội đủ những yếu tố để tiến hành thiết lập các mối quan hệ thương mại và truyền giáo. Việc xuất hiện các đoàn thuyền buôn phương Tây cùng với hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ, Việt Nam đã tiếp nhận một phần phương thức sản xuất mới (so với phương thức sản xuất phong kiến trước đó) – phương thức tư bản chủ nghĩa, văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam trong cách ứng xử, kiến trúc, lối sống, tôn giáo và cả chữ viết, một số giá trị văn hóa vẫn còn tồn tại ở Việt Nam đến ngày hôm nay và làm đa dạng thêm văn hóa truyền thống dân tộc.



2. Một vài nét về hoạt động thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha và Pháp

Về hoạt động thương mại, theo một số tài liệu, những cuộc gặp gỡ giữa người Việt và người phương Tây đã có ngay từ những năm đầu công nguyên, Việt Nam cũng được xem là nơi liên lạc thương mại giữa đế quốc Roma và Ấn Độ, vùng Trung Đông, Trung Quốc giữa phương Đông và phương Tây, nhưng đây chỉ là những bước “chập chững” đầu tiên của quá trình giao lưu thương mại. Đến thế kỷ XVI, những cuộc gặp gỡ về thương mại mới diễn ra thường xuyên.

Đầu thế kỷ XVI, tàu buôn người Bồ đã đến và thiết lập buôn bán với người Việt. Năm 1524, Duarte Coelho người Bồ được cử làm đại diện để thiết lập thương mại với người Việt.1 Đối với người Bồ, việc đến buôn bán ban đầu với Việt Nam là do một lần, khi tàu buôn người Bồ tiến vào Quảng Đông (Trung Quốc), giữa đường gặp bão nên tàu của Fernão Perez d’Andrade bị giạt vào bờ biển Việt Nam (lúc đó là Chiêm Thành), còn tàu của Duarte Coelho bị tách khỏi đoàn và giạt vào bờ biển Xiêm (Thái Lan). Sau đó năm, Duarte Coelho sang Việt Nam để thiết lập quan hệ thương mại với Việt Nam.

Năm 1535, Antonie de Faria cũng đã vào cửa Hàn, và đã để ý đến Hội An. Sau đó, khoảng năm 1540, thương nhân Bồ Đào Nha từ Macao hoặc Nam Dương đến Hội An vào tháng chạp hoặc tháng giêng bán, mua hàng như tơ, lụa, hồ tiêu, gỗ quý, qua tay các đại lý Hoa kiều hay Nhật kiều ở Hội An rồi quay thuyền về các căn cứ trên. Năm 1555, người Bồ lập trụ sở thương mại ở Áo Môn (Macao), liên lạc buôn bán lại càng tiến triển ở cửa Hàn (Đà Nẵng) và cửa Hội An. Nguyễn Hoàng từ khi vào trấn thủ đất Thuận Hóa, và sau khi chiếm cả trấn Quảng Nam, muốn thế lực mạnh để đương đầu với họ Trịnh, đã tìm cách lôi cuốn người Bồ đem đạn dược, khí giới vào bán cho mình.1 Trong quá trình giao thương với nước ta, Bồ Đào Nha không tiến hành lập thương điếm, tuy không để lại người buôn bán thường trực, nhưng họ rất muốn độc quyền buôn bán với nước ta. Năm 1584, đã có nhiều người Bồ Đào Nha sống ở Đàng Trong, việc buôn bán giữa người Bồ Đào Nha và Đàng Trong phụ thuộc vào quan hệ buôn bán giữa Macao và Nhật Bản. Về phía người Bồ, việc buôn bán với Đàng Trong trở nên quan trọng từ 1640, khi họ giảm bớt việc buôn bán với Nhật và hướng về Đông Nam Á. Về phía họ Nguyễn, việc buôn bán với họ Nguyễn chỉ có ý nghĩa thực sự khi xảy ra chiến tranh với họ Trịnh bởi vì đại bác là mặt hàng quan trọng nhất trong việc trao đổi với hai bên. Đại bác bằng đồng và thép được đúc tại Macao đã có sẵn thị trường là hai khách hàng lớn đó là Đàng Trong và Đàng Ngoài. Hàng hóa người Bồ chở từ Đàng Trong là tơ vàng rất tốt và rẻ, một số trầm hương, kỳ nam, mặc dù rất hiếm và một số ít benzoin…tất cả là sản phẩm của địa phương và một lượng lớn là đồng người Nhật đem tới đây. Hội An là trung tâm tập trung và phân phối hàng hóa, Hội An xuất khẩu một số sản phẩm của địa phương đứng đầu là kỳ nam hương và vàng. Các thương nhân Bồ Đào Nha không đến Việt Nam theo đại diện cho công ty nào và không đến cư ngụ, mở thương điếm mà họ chỉ thông qua các trung gian để gom hàng hóa hoặc giao dịch. Họ mua nhiều hàng hóa rẻ ở Việt Nam và bán ở các nước châu Âu. Với tư cách là những người phương Tây đầu tiên đến Việt Nam, người Bồ Đào Nha đã cậy có một nền hàng hải khỏe vào bậc nhất và hung hăng đến chiếm đất để buôn bán. Sau khi thành lập trung tâm buôn bán ở Hội An, người Bồ Đào Nha đã phát triển buôn bán với Đàng Ngoài. Dưới thời vua Lê Anh Tông (1556 – 1573), từ khi lập thương điếm ở Macao, việc buôn bán của người Bồ diễn ra ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài và ngày càng tiến triển, thuyền của người Bồ Đào Nha thường cập bến ở cửa biển Thanh Hóa. Công việc mua bán của người Bồ có lúc đụng độ với người Hà Lan, người Bồ Đào Nha và người Hà Lan tiếp tục cạnh tranh và thường xuyên diễn ra xung đột nặng nề. Người Bồ Đào Nha luôn muốn độc quyền ở Đàng Trong, nhưng vào đầu thế kỷ XVII, người Bồ Đào Nha đã dần suy yếu nên hoạt động thương mại của Bồ Đào Nha ở Đại Việt cũng chấm dứt khi mà người Hà Lan thiết lập thương điếm của mình ở cả Hội An, Phố Hiến và Thăng Long-Kẻ Chợ của cả Đàng Trong và Đàng Ngoài.

Đối với Pháp, người Pháp cũng tiến hành hoạt động thương mại với Việt Nam, người Pháp đến Việt Nam muộn so với các nước phương Tây khác (Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh), nhưng việc buôn bán của người Pháp không phải là sự buôn bán theo mùa như người Bồ Đào Nha, mà họ buôn bán thông qua hoạt động của Công ty Đông Ấn Pháp (La Compagnie Française d’Extrême-Orient – CIO), quá trình buôn bán dưới hình thức Công ty Đông Ấn diễn ra từ nửa cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX. Năm 1669, CIO cử đại diện của mình đến Đàng Ngoài của Đại Việt nhằm thiết lập quan hệ buôn bán, chuyến đi được khởi hành từ Xiêm và các thương nhân Pháp được chính quyền Lê – Trịnh đón tiếp nồng nhiệt, những đại diện của CIO cũng được cho phép mở và xây dựng thương điếm như những người Hà Lan trước đó. Nhưng, việc thiết lập quan hệ ngoại giao của của CIO với Đàng Ngoài cũng gặp nhiều trở ngại vì những thương nhân của CIO gặp phải sự chống đối cạnh tranh của người Hà Lan và gặp phải thời tiết khó khăn, một số chiếc tàu do CIO cử đến đã không cập bến an toàn. Kết quả là phải mất một thời gian sau (kể từ năm 1669) thì CIO mới đến được Đàng Ngoài. Và trong thời gian này, chúa Trịnh bận quan tâm đến chiến tranh với Đàng Trong, cũng như “thủ tục” tiếp kiến vua của Đại Việt hết sức khó khăn, thêm vào đó, những người ủng hộ mạnh mẽ việc thiết lập buôn bán với Đại Việt như J.B.Corbert, F.Pallu qua đời nên ảnh hưởng không tốt đến giao thương. Hơn 10 năm kể từ khi ý định giao thương với Đại Việt được thực hiện, thì việc buôn bán cũng diễn ra ít ỏi, một số mặt hàng mang đến chỉ là hàng mẫu, biếu tặng cho chính quyền Lê – Trịnh và quan lại địa phương là phần nhiều.

Đến thế kỷ XVIII, CIO đã chuyển trọng tâm thương mại từ Đàng Ngoài vào Đàng Trong. Đối với hiểu biết của người Pháp, Đàng Trong là vùng đất mới khai phá, có nhiều ngành nghề thủ công phát triển, nhân dân ở đây có cuộc sống ấm no, phồn thịnh. Chúa Nguyễn ở Đàng Trong lại cởi mở trong việc tiếp nhận các thương nhân nước ngoài. Chính điều đó, Đàng Trong được đánh giá như một vùng đất giàu có và trở thành một trung tâm thương mại phát triển của Đông Nam Á. Đến những năm của nửa sau thế kỷ XVIII, việc buôn bán với Đàng Ngoài không còn mặn mà với người phương Tây, không chỉ riêng người Pháp, tuy thế, người Pháp vẫn giữ lại những đại diện của mình ở Đàng Ngoài và vạch ra kế hoạch chuyển hướng thương mại vào Đàng Trong. Việc chuyển hướng vào Đàng Trong cũng phản ánh một thực tế là Pháp không giành nhiều thắng lợi trong việc buôn bán với Trung Quốc. Kế hoạch của người Pháp là muốn xây dựng thương điếm ở Đàng Trong và phá vỡ thế độc quyền buôn bán của người Hà Lan. Nhưng trong giai đoạn này, chúa Nguyễn đang ra lệnh trục xuất hết các giáo sĩ vào năm 1750, vì vậy kế hoạch buôn bán với Đàng Trong của CIO không mấy thành công. Tuy không có nhiều hoạt động buôn bán ở Đàng Trong, nhưng CIO cũng thiết lập được một thương điếm ở Tourance (Đà Nẵng) vào những năm 1750.

Đến cuối thế kỷ XVIII, tình hình buôn bán giữa Đại Việt và CIO ngày càng khan hiếm, lý do là việc Anh trở thành cường quốc sau Đại cách mạng công nghiệp, Pháp nhận thức được rằng nếu người Anh đến trước sẽ làm mất quyền lợi của Pháp ở vùng Viễn Đông, trong lúc đó, vị trí của Pháp ngày càng giảm sút ở những khu vực này, vì thế việc buôn bán song phương tự nguyện giữa CIO và Đại Việt đã ngày càng chuyển sang một thái trạng khác. Về phía người Pháp, họ cần đưa ra biện pháp mới trong việc chiếm đất ở những khu vực buôn bán này, còn đối với Đàng Trong và Đàng Ngoài, chính quyền nơi đây ngày càng cảnh giác với các đoàn thuyền buôn phương Tây. Đến cuối thế kỷ XVIII, CIO đã dần dần rút lui những hoạt động thương mại của mình ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Thay vào đó là những kế hoạch mới trong việc đánh chiếm Đàng Trong.

Đến đầu thế kỷ XIX, tình hình chính trị - xã hội Đại Việt có nhiều biến chuyển quan trọng, việc lên ngôi của Nguyễn Ánh – Gia Long cùng với sự tham gia chính sự của Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc), sự thất bại của Nguyễn Ánh trong việc cầu cứu quân Xiêm trong việc tranh giành ngôi báu khiến Nguyễn Ánh càng quyết định gắn kết chặt chẽ với vị giám mục này. Việc xuất hiện ngày càng nhiều vai trò của người Pháp đối với triều đình Gia Long đã mở ra một trang mới trong quan hệ thương mại hai nước, và về sau là việc Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, để lại những hệ lụy lịch sử cho đến ngày nay.



Về hoạt động truyền giáo, Bồ Đào Nha, vào năm 1523, những cuộc tiếp xúc truyền giáo giữa người Việt và người Bồ Đào Nha đã diễn ra, nhưng chỉ là những ý định bước đầu, mãi đến năm 1544 một giáo sĩ người Bồ là Fernão Mander Pinto đi qua xứ Bắc để tham khảo tình hình, đến năm 1556, Fernão Mander Pinto lại đi qua bờ biển Việt Nam và tiến hành cắm cột thánh giá ở Cù Lao Chàm (thuộc Quảng Nam ngày nay).

Dưới thời vua Lê Anh Tông, nhà vua cởi mở cho việc truyền đạo của các giáo sĩ, và cũng trong thời gian này, các giáo sĩ dóng thánh Phanxico đã gửi thư lên nhà vua để xin truyền giảng, cùng thời điểm, các giáo sĩ chưa xây dựng các tu viện ở Macao và Philippines. Tuy nhiên, không may mắn cho các giáo sĩ, là việc thiếu hụt các thừa sai khiến các giáo sĩ chần chừ, khất lại một thời gian nên việc truyền đạo không được tiến hành nhanh chóng và “bắt nhịp” cùng ý muốn của nhà vua. Tuy nhiên, theo một số tài liệu thì người ta vẫn tìm thấy những cột thánh giá ở Thanh Hóa. Cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ thứ XVII, các giáo sĩ người Bồ còn truyền giáo ở cả Thăng Long, nhưng trong thời gian này, việc truyền giáo ở Macao và Philippines, Trung Quốc có nhiều bước tiến triển, và công cuộc truyền giáo ở Đại Việt thường xuyên liên lạc với các nơi này.

Cũng chính từ công cuộc truyền giáo, các giáo sĩ phải tiến hành học tiếng địa phương, phiên âm và truyền giảng tiếng địa phương, đó là lý do để giáo sĩ Alexandre de Rhodes – một giáo sĩ người Pháp, hoạt động truyền giáo dưới danh nghĩa là giáo phận của Bồ Đào Nha đã dần hoàn thiện cuốn từ điển Việt-Bồ-La để dễ dàng trong việc truyền đạo, về sau, người Việt Nam từ nền tảng đó làm chữ Quốc Ngữ hoàn thiện như ngày hôm nay.

Hoạt động truyền giáo của Pháp, vào năm 1662, các thừa sai Pháp đã đến Xiêm, hoạt động truyền giáo ở đây được nhà vua Xiêm cởi mở, nguyên nhân chính là do chính sách ngoại giao mềm dẻo của người Thái, và một điều nữa là do nhà vua Xiêm hiểu rõ rằng là dân chúng Xiêm tôn thờ đạo Phật, đạo Phật đã vào trong máu thịt của người dân Thái, nên nhà vua một mặt cởi mở với các giáo sĩ phương Tây, một mặt tin tưởng vào nhân dân của mình vẫn chung thủy với Quốc đạo. Trong thời gian ở Xiêm, những thông tin hiểu biết về Đại Việt được các giáo sĩ Pháp hiểu biết ít nhiều, về tôn giáo, về văn hóa và lối sống người Việt. Trong thời gian này, việc truyền giáo ở Đại Việt là hoạt động của Hội truyền giáo hải ngoại Paris (La Société des Missions Étrangerères de Paris - MEP) ra đời chính thức năm 1663.

Hai năm sau kể từ ngày các giáo sĩ đến Xiêm – 1664, Louis Chevreuil được cử đến Đàng Trong, giáo sĩ này đã ra sức thuyết phục các địa phận quản hạt tại Đàng Trong công nhận địa vị của các giáo sĩ Pháp thay thế người Bồ Đào Nha. Nhưng công việc này không hề dễ dàng. Vào năm 1670, Lambert cũng được cử đến Đàng Trong để tiếp tục công việc mà Louis đã làm. Đồng thời, giáo sĩ F.Deydier cũng được cử đến Đàng Ngoài. Trong thời gian này, chủ yếu là thiết lập địa vị của các giáo sĩ Pháp thay thế vị trí của Bồ Đào Nha, và thiết lập các giáo phận ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, việc đào tạo linh mục bản địa chưa được chú trọng.

Đến đầu thế kỷ XVIII, cùng với những biến động về thương mại, hoạt động truyền giáo của MEP cũng có phần “khủng hoảng”, Giáo hoàng đã cử người đến để thay đổi tình hình đang diễn ra không mấy tốt đẹp ở đây. Ngoài tình hình khủng hoàng về người và phương tiện, thì công cuộc truyền giáo còn vấp phải sự cấm đoán từ phía chính quyền bản địa và những mâu thuẫn nội bộ giữa MEP, Dòng Tên và Dòng Phanxicô nhưng vẫn không mấy hiệu quả.

Đến cuối thế kỷ XVIII, việc “cấm đạo” càng diễn ra gay gắt ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, cùng với sự rút lui của thương nhân Pháp nên việc thâm nhập của người Pháp đối với Đại Việt giai đoạn này chỉ mang tính chất tạm thời, không hiệu quả như dưới thời của giáo sĩ Alexandre de Rhodes.

Bước sang đầu thế kỷ XIX, việc thâm nhập truyền giáo của Pháp được đánh giá trên vai trò của Pigneau de Béhaine, mặc dù việc liên hệ giữa giáo sĩ này với Nguyễn Ánh đã diễn ra ngay từ những năm cuối của thế kỷ XVIII, đến đầu thế kỷ XIX, việc can thiệp ngày càng sâu của giáo sĩ này với Nguyễn Ánh, sau này là giám mục Adran. Một điều phải thừa nhận rằng là các giáo sĩ đã một phần mang khoa học kỹ thuật phương Tây đến Việt Nam như việc xây dựng kinh thành Huế với lối kiến trúc Vauban của Pháp, xưởng đúc tiền, các chiến hào quân sự và cách đúc súng đồng, mà ngày nay ta có Cửu vị thần công ở Huế, các tàu chiến, súng và kỹ thuật quân sự của Pháp...

Hoạt động thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha và Pháp ở Đại Việt diễn ra từ nửa đầu thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, hai nước phương Tây này đến Pháp trong thời gian dường như kế tiếp nhau. Mỗi nước có một phương thức riêng trong hoạt động thương mại và truyền giáo, nhưng cũng đã mang văn minh phương Tây vào Việt Nam bằng cách này hay cách khác.



  1. Việc tiếp biến văn hóa phương Tây thông qua hoạt động thương mại và truyền giáo đối với Việt Nam – Một số giải pháp chọn lọc tinh hoa văn hóa trong bối cảnh hiện nay

Tiếp biến văn hóa phương Tây thông qua hoạt động thương mại và truyền giáo

Tích cực, Việt Nam đã du nhập một tôn giáo mới là Thiên chúa giáo vào Việt Nam, đóng góp thêm vào việc đa dạng tôn giáo so với trước đây là Phật giáo, Nho giáo và tín ngưỡng bản địa.

Cùng với việc du nhập một tôn giáo mới, văn hóa phương Tây cũng du nhập vào Việt Nam thông qua hoạt động truyền giảng giáo lý, đào tạo giám mục bản địa, và cả hoạt động thương mại. Việc du nhập một phương thức sản xuất mới đã một phần làm biến chuyển phương thức sản xuất truyền thống “tự cung tự cấp” của xã hội Việt Nam ở những thế kỷ XVI – XIX.

Bằng cách này hay cách khác, chúng ta phải thừa nhận là một số giám mục được cử đến là những người tinh thông giáo lý, khoa học về địa lý, lịch sử, thiên văn..., ngôn ngữ và là những người khá gần gũi, nên thông qua đó, các giáo dân cũng được học một số khía cạnh tích cực từ các nhà truyền giáo.

Khoa học kỹ thuật của phương Tây được truyền vào Việt Nam một cách rõ nét ở đầu thế kỷ XIX, trong các công trình kiến trúc triều đình, dấu ấn kiến trúc văn hóa Pháp cũng đã để lại một cách đậm nét.

Đóng góp quan trọng của hoạt động truyền giáo thời kỳ này là việc hình thành chữ Quốc ngữ, việc hoàn thành cuốn từ điển Việt-Bồ-La là công lao to lớn của giáo sĩ Alexadre de Rhodes, và từ đó Việt Nam tiếp tục hoàn thành chữ Quốc ngữ của dân tộc ta hiện nay.

Tại thời điểm đó, truyền giáo còn giúp chúng ta nhận biết ngoài nền văn minh phương Đông, còn có văn minh phương Tây ở bên kia quả địa cầu cũng có nhiều thành tựu rực rỡ, mở màn cho quá trình giao lưu Đông – Tây trong những giai đoạn tiếp theo. Nối dài thành công của các cuộc phát kiến địa lý, trước phát kiến địa lý, mối liên hệ Đông – Tây lỏng lẻo, cũng có giao thương qua “con đường tơ lụa” hoặc một vài lần tiếp xúc mờ nhạt thì giờ đây trở nên chặt chẽ và rõ ràng hơn.

Cho đến ngày nay, kiến trúc của phương Tây trong xây dựng nhà cửa, các văn phòng chính phủ và các công trình như đường xá, cầu cống... chúng ta vẫn tiếp tục học hỏi phương Tây và ứng dụng trong việc xây dựng các công trình công cộng cho đến ngày hôm nay. Phải thừa nhận rằng những công trình kiến trúc của Pháp còn lại ở Việt Nam như (nhà thờ, văn phòng ủy ban, cầu cống, trường học...) là những công trình có sự hài hòa với thiên nhiên, kiên cố và phong cách kiến trúc đặc sắc.

Phương thức quản lý kinh doanh của các Công ty Đông Ấn là một phương thức kinh doanh có tổ chức bài bảng, trong khi tại thời điểm đó, thương mại Việt Nam chỉ mang tính tự nhiên, trao đổi hàng hóa chứ chưa hình thành những công ty, buôn bán chuyên môn hóa như hình thức của một công ty. Việc tiến hành buôn bán với các Công ty Đông Ấn, giúp chúng ta tiếp thu một phần phương thức làm việc đó, một số mặt hàng người phương Tây đến bán mà chúng ta chưa sản xuất được làm đa dạng khối lượng hàng hóa lúc bấy giờ, và ngày nay, phương thức sản xuất kinh doanh kinh doanh của các công ty phương Tây thể hiện sự rõ ràng, năng động và cách quản lý chặt chẽ, khoa học, mà trong bối cảnh mở cửa kinh tế thị trường, Việt Nam cần học hỏi để bắt kịp nhịp với thời đại.



Hạn chế, bên cạnh những mặt tích cực, một số mặt văn hóa chưa phù hợp với Việt Nam cũng được tiếp thu vào như lối sống phương Tây phóng khoáng tự do chỉ được tiếp xúc nửa vời, hình thành lối sống phương Tây giả tạo mà trước đây chúng ta gọi là phong trào “Âu hóa”.

Làng xã Việt Nam vốn là làng thôn, canh tác nông nghiệp, cùng chung mảnh ruộng và đình làng, nhưng khi tôn giáo mới du nhập vào thì tập quán sinh hoạt, văn hóa cũng có nhiều biến chuyển, mỗi nhóm người theo một niềm tin lý tưởng riêng, tính thống nhất của văn hóa bản địa không còn nữa, có những lúc dẫn đến thiếu đoàn kết và xung đột trong các cộng đồng tôn giáo.

Giai đoạn sau của quá trình truyền giáo (thế kỷ XIX), các thừa sai càng tỏ ra “cứng nhắc và “cứng rắn” trong cách ứng xử. Từ việc nhìn “tà đạo”, “dị đoan”, “mê hoặc”, “thuốc độc”, từ việc phân biệt giữa thừa sai Pháp với linh mục người Việt, giáo dân bình thường với đạo trưởng, bỏ đạo với chưa bỏ đạo... nên đã có những cuộc đụng độ vũ trang, mối liên hệ giữa truyền giáo và “chủ nghĩa thực dân” đã đẩy lên thành an ninh quốc gia bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc. Bước ngoặt trong thái độ của người Công giáo, đẩy người theo đạo và sự lựa chọn sống còn, dẫn đến sự cách ly với cộng đồng, khó dung hòa, không thể “cùng tồn tại”. Công giáo là đồng minh của xâm lược, Công giáo là phương Tây, ấn tượng lịch sử đó “thật khó có thể xóa nhòa”, còn hệ lụy mãi sau này.1

Kiến nghị một số giái pháp chọn lọc tinh hoa văn hóa trong bối cảnh hiện nay

Trong bối cảnh giao lưu văn hóa đa chiều hiện nay, Việt Nam cần nhận định được những giá trị nào là tích cực và phù hợp với hoàn cảnh đất nước để tiếp nhận và ứng dụng, bởi lẽ, một số thành tựu văn minh của phương Tây trong khoa học, trong giáo dục... tuy được ứng dụng có hiệu quả ở các nước phương Tây nhưng khi tiếp nhận vào Việt Nam thì không phù hợp và hiệu quả như ở nước sở tại.

Việc tiếp nhận văn hóa không chỉ là sự tiếp nhận thụ động, một chiều mà Việt Nam nên tích cực chủ động tiếp biến văn hóa, quá trình tiếp biến cần diễn ra song phương, chủ động và có tính lựa chọn. Và việc tiếp nhận đó không chỉ là những điều mà người nước ngoài mang đến cho Việt Nam mà cần có sự thâm nhập vào thực tế của các nước, như trước đây thời cải cách Minh Trị (Nhật Bản), người Nhật đã cử người đi sang các nước phương Tây học tập, họ không rập khuôn máy móc mà lựa chọn ưu điểm của từng nước phương Tây để học hỏi.

Đối với tôn giáo, chúng ta nên tạo điều kiện cho tôn giáo phát triển dưới sự quản lý của Nhà nước, giúp đoàn kết các cộng đồng tôn giáo khác nhau.

Bên cạnh việc học hỏi, Việt Nam ngày càng phải ý thức hơn nữa trong việc đầu tư bảo tồn giá trị truyền thống, dù những bản sắc đó không mang giá trị kinh tế mà chỉ giá trị nhân văn, văn hóa. Giúp chúng ta hội nhập với bạn bè quốc tế và giữ những giá trị riêng có của mình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Mạnh Dũng, 2011, Luận án tiến sĩ sử học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX – Nguyên nhân và hệ quả.

[2] Nguyên Hồng, 1959, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, NXB Hiện-Tại, Tp Hồ Chí Minh.

[3] Fédéric Mantienne, 2001, Les relations politiques et commerciales entre la France et la Pénisule Indochinoise (XVIIe siècle), Paris.

[4] Bùi Đức Sinh (1995), Lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, quyển 2, Calgary-Canada.

[5] Nguyễn Thế Thoại (2001), Công giáo trên quê hương Việt Nam, Lưu hành nội bộ.



[6] Nguyễn Văn Trinh (1994), Lược sử giáo hội Việt Nam, NXB Đại chủng viện Thánh Giuse.


1 Nghiên cứu sinh – Giảng viên Khoa Lịch sử - Đại học Khoa học – Đại học Huế

1 Nguyên Hồng (1959), Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, NXB Hiện-Tại Tr. 18.

1 Nguyên Hồng (1959), Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, NXB Hiện-Tại Tr. 20.

1 Nguyễn Mạnh Dũng (2011), Luận án tiến sĩ Lịch sử Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX – Nguyên nhân và hệ quả, Tr. 178.


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương