SỞ NỘi vụ CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc



tải về 151.77 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu14.08.2016
Kích151.77 Kb.


UBND TỈNH NINH THUẬN

SỞ NỘI VỤ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc




Số: 950/BC-SNV

Ninh Thuận, ngày 22 tháng 4 năm 2015


BÁO CÁO

Kết quả thực hiện cải cách hành chính và cải cách công vụ, công chức

trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận từ năm 2014 đến nay

(Phục vụ buổi làm việc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh với Sở Nội vụ)


Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tại Công văn số 1517/UBND-NC ngày 14/4/2015 về việc rà soát, báo cáo, chuẩn bị các nội dung liên quan phục vụ buổi làm việc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh với Sở Nội vụ; Sở Nội vụ báo cáo kết quả cải cách hành chính và cải cách công vụ, công chức trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận với một số nội dung chủ yếu sau:

I. Kết quả triển khai công tác cải cách hành chính: Từ đầu năm 2014 đến nay, công tác cải cách hành chính đã được triển khai đồng bộ, toàn diện trên các nội dung về cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công, hiện đại hóa nền hành chính nhà nước; đã hoàn thành cơ bản Chương trình, Kế hoạch cải cách hành chính năm 2014 của tỉnh đề ra; góp phần xây dựng các cơ quan, đơn vị ngày càng vững mạnh, tiến tới xây dựng một nền hành chính chính quy, hiện đại; cải thiện môi trường đầu tư và sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, nhất là cải thiện mối quan hệ giữa nhà nước với công dân. Trong đó, nổi bật rõ nét trên 04 lĩnh vực là: công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính; lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính; đẩy mạnh công tác thanh tra kiểm tra trên địa bàn tỉnh; lĩnh vực hiện đại hóa nền hành chính. Kết quả triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2014 và quý I/2015 trên địa bàn tỉnh đã được trình bày cụ thể tại Báo cáo số 244/BC-UBND ngày 08/12/2014 và Báo cáo số 39/BC-UBND ngày 12/3/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Tại Báo cáo này, Sở Nội vụ báo cáo một số trọng tâm như sau:

1. Về công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính:

- Nét nổi bật trong công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính từ năm 2014 đến nay là Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt để đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh, nổi bật là đã ban hành 03 Chỉ thị để chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh. Thông qua đó đã tác động lan tỏa, nâng cao tinh thần trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính tại cơ quan, đơn vị.

- Bên cạnh đó, để chỉ đạo, điều hành công tác cải cách hành chính, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra cải cách hành chính tại các cơ quan, đơn vị. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân các huyện Ninh Phước, Ninh Sơn, Thuận Bắc, Thuận Nam, Bác Ái đã tổ chức kiểm tra công tác cải cách hành chính, kiểm tra chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cường hành chính, kiểm tra việc giải quyết thủ tục hành chính tại 67 cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý; trong đó nhiều nhất là huyện Thuận Nam 28 cơ quan, đơn vị, ít nhất là huyện Bác Ái 03 đơn vị.

* Thông qua các cuộc thanh tra, kiểm tra đã kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những vấn đề còn tồn tại, hạn chế, thiếu sót trong hoạt động và thực thi công vụ của các cơ quan nhà nước cũng như việc thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh; trên cơ sở đó có biện pháp điều chỉnh, khắc phục và cải thiện trong thời gian đến. Qua quá trình thanh tra, kiểm tra cũng kịp thời đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền chỉ đạo, chấn chỉnh những bất cập, chồng chéo trong việc thực hiện thủ tục hành chính và có hướng đơn giản hóa quy trình thực hiện. Qua kiểm tra, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn chấn chỉnh, khắc phục một số nội dung về cải cách hành chính và Công văn chấn chỉnh, khắc phục một số nội dung trên các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc ngành nội vụ.



2. Về cải cách thể chế:

- Từ ngày 01/01/2014 đến ngày hết tháng 3/2015, các sở, ban, ngành đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 128 văn bản QPPL (119 Quyết định và 09 Chỉ thị); Ủy ban nhân dân tỉnh đã tình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành 21 Nghị quyết. Các cơ quan, đơn vị được giao chủ trì xây dựng văn bản đều tuân theo trình tự, thủ tục quy định. Các văn bản được ban hành đều đảm bảo nội dung, hình thức và thẩm quyền theo đúng quy định.

- Nhằm phát hiện các văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, để kịp thời đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới, góp phần nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật; đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, trang bị thêm kiến thức, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; trong năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh đã rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2014. Kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thời kỳ đầu (giai đoạn 2009-2013) cho thấy: toàn tỉnh có 487 văn bản quy phạm pháp luật thuộc đối tượng rà soát, hệ thống hóa. Kết quả rà soát có 59 văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ; 31 văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực một phần; 428 văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực và 69 văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, thay thế.

- Ngoài ra, trong năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tiến hành tự kiểm tra văn bản QPPL do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành; kết quả tự kiểm tra cho thấy: Trong số 135 văn bản QPPL đã ban hành năm 2014 có 24 văn bản có sai sót về nội dung, thể thức, kỹ thuật trình bày; còn lại 111 văn bản QPPL đảm bảo đúng quy định, chiếm tỷ lệ 83%.



3. Cải cách thủ tục hành chính:

- Nhìn chung, công tác cải cách thủ tục hành chính của tỉnh trong năm 2014 đạt nhiều kết quả tích cực: Việc kiểm soát thủ tục hành chính tiếp tục được duy trì ổn định; Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm, ban hành văn bản chấn chỉnh trình tự ban hành các văn bản quy định về thủ tục hành chính để khắc phục những bất cập, chồng chéo trong các quy định hiện hành về trình tự, thủ tục tham mưu ban hành văn bản có quy định về thủ tục hành chính. Cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tiếp tục phát huy hiệu quả; tạo sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong giải quyết thủ tục hành chính nhằm giải quyết công việc cho người dân nhanh chóng, giảm số lần đi lại; việc nộp hồ sơ và nhận kết quả được thực hiện tại một đầu mối,…Bên cạnh đó, đã tác động đến tinh thần trách nhiệm, ý thức của cán bộ công chức, viên chức trong quá trình thực thi công vụ. Tác động rõ nét nhất là việc giải quyết các thủ tục hành chính trên lĩnh vực đất đai; kết quả khảo sát mức độ hài lòng của hộ gia đình, cá nhân thuộc 20 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh khi thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại cấp huyện năm 2014 cho thấy công tác cải cách thủ tục hành chính tuy còn nhiều vấn đề cần được giải quyết và cần nhiều biện pháp đẩy mạnh nhưng đã có những tiến bộ tương đối rõ nét, được người dân ghi nhận và đánh giá cao thể hiện ở việc có 24,2% ý kiến rất hài lòng, 50,5% ý kiến hài lòng, 18,8% ý kiến tạm chấp nhận và 6,5% ý kiến không hài lòng.

- Trong năm 2014 và Quý I/2015, Ủy ban nhân dân tỉnh đã quyết định công bố 537 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết tại các cơ quan, đơn vị; đồng thời duy trì thực hiện việc tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại 18/19 Sở, ban, ngành cấp tỉnh (bao gồm cả Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh), 07/07 huyện, thành phố và 65/65 xã, phường thị trấn.

- Ngoài ra, ngày 14/4/2015 Ủy ban nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm đã tổ chức khai trương và đưa vào hoạt động Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại tại Ủy ban nhân dân thành phố; góp phần công khai, minh bạch việc giải quyết thủ tục hành chính tại thành phố, nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính và chỉ số hài lòng trong việc cung cấp dịch vụ công cho tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố; qua đó góp phần phát triển kinh tế xã hội của thành phố; đóng góp chung vào nỗ lực cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh.



3. Về cải cách tổ chức bộ máy:

- Thực hiện Nghị định số 13/2008/NĐ-CP và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của 19/19 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh. Các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh đã ban hành hướng dẫn và đến nay Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố đã ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho 13 phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện và 12 phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố (trong đó có 10 phòng được tổ chức thống nhất ở các huyện, thành phố và các phòng còn lại được tổ chức đặc thù với từng loại hình đơn vị hành chính huyện, thành phố) bảo đảm thực hiện đúng quy định của pháp luật, phù hợp với tính chất hoạt động của từng cơ quan, đơn vị.

- Thực hiện Nghị định số 24/2014/NĐ-CP của Chính phủ; hiện nay, Thanh tra tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Nội vụ đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt Đề án kiện toàn và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị (trong số 07 đơn vị đã có thông tư hướng dẫn của bộ, ngành trung ương về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức).

- Nét nổi bật trong thời gian qua là Ủy ban nhân dân tỉnh đã chủ động chỉ đạo rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế của các cơ quan, đơn vị. Trong năm 2014 Ủy ban nhân dân tỉnh đã tiến hành tổng kiểm tra, rà soát biên chế sự nghiệp ngành giáo dục trên địa bàn tỉnh. Trong quý I/2015 đã tiến hành tổng rà soát biên chế hành chính trên địa bàn tỉnh; đồng thời sẽ tiến hành tổng kiểm tra, rà soát biên chế sự nghiệp ngành y tế trong năm 2015. Sau khi rà soát, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ phân bổ, điều chỉnh biên chế phù hợp với tình hình thực tế của từng cơ quan, đơn vị, địa phương.

- Thực hiện Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/6/2004 của chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Ủy ban nhân dân tỉnh đã thực hiện phân cấp trên 6 lĩnh vực theo định hướng của Chính phủ, gồm: Phân cấp quản lý quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển; phân cấp quản lý ngân sách nhà nước; phân cấp quản lý đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước; phân cấp quản lý doanh nghiệp nhà nước; phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; phân cấp quản lý về tổ chức bộ máy và cán bộ công chức.Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có văn bản chỉ đạo các cơ quan, đơn vị rà soát, đề xuất các nội dung, công việc, lĩnh vực cần phân cấp, ủy quyền để Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định nhằm đẩy mạnh việc phân cấp, ủy quyền trong thời gian đến. Đến hết ngày 16/4/2015, Sở Nội vụ chỉ nhận được đề xuất của 03 cơ quan, đơn vị (Sở Y tế; Ban Quản lý các khu công nghiệp; Ủy ban nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm).

4. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức:

- Về cán bộ, công chức cấp xã: Toàn tỉnh hiện có 1474 cán bộ, công chức cấp xã; trong đó có 521/744 cán bộ cấp xã đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ 70% và 645/730 công chức cấp xã đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ 89%. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh đã được nâng cao cả về số lượng, trình độ và chất lượng; tuy nhiên so với yêu cầu cải cách hành chính thì chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Hiện nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn 308/1.474 cán bộ, công chức cấp xã chưa đạt chuẩn so với quy định (chiếm tỷ lệ 21%). Ủy ban nhân dân tỉnh đã có văn bản chỉ đạo, đề ra giải pháp để hoàn thành chỉ tiêu 100% cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn trong năm 2015.

- Về đội ngũ công chức từ cấp huyện trở lên: Tính đến tháng 12/2014 toàn tỉnh có 1.798 công chức (trong tổng số 1.841 biên chế được giao); cụ thể như sau:

+ Về cơ cấu ngạch công chức: Có 43 chuyên viên cao cấp và tương đương (2%); 134 chuyên viên chính và tương đương (7%); 1.254 chuyên viên và tương đương (70%); 325 cán sự và tương đương (19%) và 41 nhân viên (2%).

+ Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Có 4 tiến sỹ (0,2%); 54 thạc sỹ (3%); 1.336 đại học (74,8%); 58 cao đẳng (3%); 305 trung cấp (17%); 41 chưa có bằng cấp (2%), đây là các đối tượng hợp đồng được tuyển dụng theo Nghị định số 68/200/NĐ-CP (lái xe, tạp vụ,..).

- Về đội ngũ viên chức trên địa bàn tỉnh: Tính đến tháng 12/2014 toàn tỉnh có 12.674 người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập (gồm 12.616 biên chế sự nghiệp và 58 lao động hợp đồng từ nguồn thu sự nghiệp); chất lượng cụ thể như sau: Có 6.803 người có trình độ đại học trở lên (54%); 2.301 người có trình độ cao đẳng (18%); 2.989 người có trình độ trung cấp (24%); 581 người chưa có trình độ hoặc chỉ qua đào tạo nghề ngắn hạn (4%), chủ yếu là các đối tượng ngành y tế, giáo dục được tuyển dụng trước năm 1993 như bảo vệ, hộ lý, văn thư trường học.

* Điểm nổi bật trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh thời gian qua là công tác chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính đã được tăng cường (kể cả cán bộ, công chức thuộc khối đảng và cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh); việc kiểm tra đột xuất về giờ giấc làm việc, văn hóa ứng xử nơi công sở được đẩy mạnh và tiến hành nhiều đợt trong năm. Trách nhiệm thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính đã trở thành một tiêu chí để xét thi đua, khen thưởng hàng năm đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân. Một điểm nổi bật khác là trong công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; trong quý I/2015 là Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 799/UBND-NC ngày 27/02/2015 chỉ đạo xây dựng Kế hoạch trọng tâm năm 2015 và đổi mới công tác đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; theo đó, sẽ thực hiện đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn hàng tháng của từng cán bộ, công chức, viên chức; đây cũng là cơ sở để tiến hành xác định vị trí việc làm tại từng cơ quan, đơn vị. Công văn 799/UBND-NC được xem là bước đột phá để làm căn cứ đánh giá, phân loại kết quả thực hiện nhiệm vụ hàng năm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đảm bảo việc đánh giá sát thực, khách quan, công khai, minh bạch hơn; nâng cao trách nhiệm và vai trò của người đứng đầu trong công tác đánh giá cán bộ; nhằm tạo ra những chuyển biến tích cực trong kết quả đánh giá và sự đồng thuận của dư luận xã hội đối với kết quả đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức hàng năm.

5. Cải cách tài chính công:

- Đến nay, toàn tỉnh hiện có 117/117 cơ quan, đơn vị thực hiện cơ chế khoán biên chế và kinh phí hành chính tại cơ quan hành chính; trong đó cấp tỉnh 33/33 đơn vị, cấp huyện 84/84 đơn vị; đạt tỷ lệ 100%; 101/105 đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh và 320/320 đơn vị sự nghiệp cấp huyện triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại các đơn vị sự nghiệp công lập; đạt tỷ lệ 99%.

- Tuy nhiên, nguồn kinh phí tiết kiệm để tăng thu nhập cho đội ngũ cán bộ, công chức còn thấp, chưa thực sự tạo động lực để thúc đẩy đội ngũ cán bộ, công chức năng cao năng suất làm việc và hiệu quả công tác. Các đơn vị sự nghiệp còn chưa được tự chủ hoàn toàn về mặt tài chính như việc đầu tư, nâng cấp, sửa chữa trụ sở, tài sản có giá trị lớn, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu mở rộng họat động dịch vụ theo xu hướng phát triển của xã hội; một số công việc sản phẩm tạo ra từ chức năng, nhiệm vụ khó định mức nên chưa thể quy định được mức khoán công việc cho tập thể, cá nhân, từ đó làm giảm hiệu quả, năng suất công việc; một số đơn vị sự nghiệp vẫn còn tâm lý trong chờ, ỷ lại vào nhà nước, chưa thật sự quyết liệt để chuyển sang tự chủ hoàn toàn; vẫn còn cơ quan, đơn vị bị cơ cơ tài chính chính xuất toán.

6. Hiện đại hóa nền hành chính:

- Đến tháng 3/2015, toàn tỉnh hiện có 68 cơ quan, đơn vị áp dụng phần mềm Văn phòng điện tử (29 cơ quan đơn vị cấp tỉnh; 16 đơn vị trực thuộc các Sở, ban, ngành; 07 huyện, thành phố và 16 xã, phường thuộc thành phố Phan Rang-Tháp Chàm); có 51 dịch vụ công mức độ 3 được áp dụng tại 07 cơ quan, đơn vị (tăng 03 dịch vụ và tăng 01 đơn vị so với cuối năm 2014); có 02 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 áp dụng tại Sở Thông tin và Truyền thông (tăng 01 dịch vụ so với cuối năm 2014).

- Tiếp tục áp dụng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 tại các cơ quan, đơn vị. Hiện nay, toàn tỉnh đã có 94 cơ quan, đơn vị đã được cấp giấy chứng nhận, tự công bố và đưa vào áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008, gồm: 01 cơ quan khối Đảng; 18/18 cơ quan chuyên môn cấp tỉnh; 07/07 huyện, thành phố; 22/65 xã, phường, thị trấn (theo Kế hoạch đến hết năm 2015 sẽ triển khai cho 43 xã, phường, thị trấn (duy trì tại 04 đơn vị, mở rộng thêm 39 đơn vị)) và 31 cơ quan, đơn vị khác. Trong đó, 56/94 cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh đã thực hiện việc tự công bố hệ thống quản lý chất lượng theo Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg ngày 05/3/2014 của Thủ tướng chính phủ.

- Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan, đơn vị đã từng bước cải tiến lề lối làm việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của các cơ quan, đơn vị; góp phần phục vụ các tổ chức, cá nhân ngày càng tốt hơn.

- Cục Thuế tỉnh đã triển khai kê khai thuế điện tử đối với 100% doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; 94% doanh nghiệp thực hiện đầy đủ và đúng quy định về chế độ kế toán đăng ký hình thức tự in, đặt in hóa đơn để sử dụng (đến 31/3/2015 toàn tỉnh có trên 1.658 doanh nghiệp đang hoạt động do Cục Thuế và Chi cục Thuế các huyện, thành phố quản lý thuế). Theo báo cáo của ngành thuế, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính trong năm 2014 đã rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục về thuế của các doanh nghiệp xuống còn 170 giờ/năm so với hơn 800 giờ/năm trong năm 2013.

* Điểm nổi bật trong việc hiện đại hóa nền hành chính của tỉnh trong thời gian qua là đã áp dụng 51 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 (tăng 26 so với năm 2013); triển khai 02 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; mở rộng áp dụng phần mềm văn phòng điện tử tại 16 xã, phường, thị trấn; đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 tại 94 cơ quan, đơn vị (tăng 47 cơ quan, đơn vị so với năm 2013). Thông qua đó đã cải tiến lề lối làm việc, chất lượng, hiệu quả công tác của các cơ quan, đơn vị; góp phần phục vụ các tổ chức, cá nhân ngày càng tốt hơn.



II. Về cải cách chế độ công vụ, công chức: Ngày 27/02/2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành văn bản số 914/UBND-VX chỉ đạo, đôn đốc các Sở, Ban ngành; Ủy ban nhân dân huyện, thành phố tiếp tục triển khai đồng bộ và đẩy mạnh công tác cải cách công vụ, công chức theo hướng tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trong năm 2014; trong đó tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm về cải cách thủ tục hành chính; ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cải cách hành chính; xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Đề án xác định vị trí việc làm và cơ cấu công chức, viên chức theo ngạch trong các cơ quan, đơn vị; đẩy mạnh thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức; tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả tinh giản biên chế theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ, ngành có liên quan; tiếp tục thực hiện tuyển dụng công chức theo nguyên tắc cạnh tranh và áp dụng Công nghệ tin học trong tổ chức kỳ thi; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các cấp; tăng cường công tác kiểm tra, chấn chỉnh việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính. Các nội dung về cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cải cách hành chính, tăng cường kỷ luật kỷ cương hành chính đã trình bày ở trên; tại phần này Sở nội vụ báo cáo thêm một số vấn đề cụ thể sau:

1. Về triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đánh giá cán bộ, công chức: Do điều kiện thực tế của tỉnh, hiện các Sở, Ban ngành và Ủy ban nhân dân huyện, thành phố chỉ đang triển khai gắn việc đánh giá cán bộ, công chức hàng năm với việc theo dõi, kiểm tra đánh giá mức độ giải quyết, hoàn thành công việc của công chức trên hệ thống Văn phòng điện tử của cơ quan, đơn vị.

2. Về đẩy mạnh thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức:

- Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 09/2014/CT-UBND ngày 29/4/2014 (thay thế Chỉ thị số 13/2009/CT-UBND ngày 12 tháng 6 năm 2009 về việc đẩy mạnh thực hiện Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ về định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức) nhằm triển khai thực hiện Nghị định số 150/2013/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2007/NĐ-CP của Chính phủ về định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức nhằm tăng cường công tác phòng chống tham nhũng, cải cách hành chính. Thông qua đó còn tạo điều kiện phát huy năng lực trên nhiều lĩnh vực công tác đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với chủ trương quản lý đa ngành, đa lĩnh vực đối với các cơ quan hành chính nhà nước;

- Tính riêng đối với các cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện trong năm 2014 đã thực hiện chuyển đổi đối với 107 trường hợp.

- Mặt khác, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã chỉ đạo các Sở, Ban ngành; Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thường xuyên tăng cường phối hợp, rà soát thực hiện công tác điều động, luân chuyển, biệt phái cán bộ, công chức, viên chức giữa các cơ quan, đơn vị nhằm cân đối, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đảm bảo phù hợp giữa vị trí việc làm và trình độ chuyên môn được đào tạo đối với cán bộ, công chức, viên chức.



3. Về thực hiện chính sách tinh giản biên chế: Đã quán triệt các cơ quan, đơn vị nghiên cứu, rà soát đối tượng tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ để kịp thời triển khai thực hiện ngay sau khi có hướng dẫn của Bộ ngành có liên quan.

4. Về tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức các cấp và điều chỉnh cơ chế, chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo:

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong năm 2014 được triển khai thực hiện Kế hoạch ban hành theo Quyết định số 807/QĐ-UBND ngày 28/4/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trên cơ sở bám sát mục tiêu theo Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015 (đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt thông qua Quyết định số 2630/QĐ-UBND ngày 30/11/2011); Do đó, đã tiếp tục tập trung trên một số lĩnh vực như sau:

+ Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng là cán bộ, công chức hành chính và cán bộ, công chức cấp cơ sở;

+ Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn-nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo-quản lý, kỹ năng hành chính; tạo điều kiện để cán bộ, công chức được chuẩn hoá kiến thức bổ trở đáp ứng nhu cầu trong công tác như kiến thức Ngoại ngữ, Tin học;

+ Khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức, viên chức tham gia dự tuyển các lớp đào tạo sau đại học theo chương trình của Bộ – ngành, Trung ương trên các lĩnh vực như ngành Y tế, ngành Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp, Khoa học-Kỹ thuật, …;

+ Đẩy mạnh triển khai thực hiện Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước (giai đoạn 2010-2015); tạo điều kiện hết sức thuận lợi để cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh có cơ hội tiếp cận, bồi dưỡng, học tập ở nước ngoài thông qua các khoá đào tạo, nghiên cứu, bồi dưỡng do Bộ - ngành và các tổ chức hợp tác trong, ngoài nước hỗ trợ để kịp thời đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hội nhập quốc tế.

- Kết quả trong năm đã cử 2.677 lượt cán bộ, công chức, viên chức các cấp đi đào tạo, bồi dưỡng; trong đó có 1507 lượt đi đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh và nâng cao kỹ năng thực thi công vụ. Riêng thực hiện theo Đề án được phê duyệt tại Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình Xây dựng nông thôn mới của Ủy ban nhân dân tỉnh, đã đào tạo, bồi dưỡng được 772 trường hợp. Ngoài ra đã cử 87 cán bộ, công chức, viên chức đi nước ngoài nghiên cứu, bồi dưỡng, học tập kinh nghiệm trên các lĩnh vực phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

5. Về tiến độ triển khai các công việc liên quan đến xây dựng vị trí việc làm và cơ cấu công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vị thẩm quyền quản lý:

- Đối với các cơ quan hành chính: Ủy ban nhân dân tỉnh đã triển khai, tổng hợp, xây dựng Đề án số 4108/ĐA-UBND ngày 27/8/2014 xác định vị trí việc làm, biên chế, cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, đơn vị hành chính của tỉnh và đã gửi Bộ Nội vụ thẩm định để đảm bảo căn cứ tổ chức thực hiện theo quy định.

- Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Ủy ban nhân dân tỉnh đã triển khai, tổng hợp, xây dựng Đề án số 3611/ĐA-UBND ngày 06/8/2013 xác định vị trí việc làm biên chế, cơ cấu ngạch công chức, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh và đã gửi Bộ Nội vụ thẩm định.

6. Về thực hiện nguyên tắc cạnh tranh và áp dụng Công nghệ tin học trong tổ chức thi tuyển công chức:

- Việc áp dụng hình thức thi tuyển qua phần mềm trên máy vi tính trong tuyển dụng công chức, kể cả thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý theo Đề án, kế hoạch đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức; hiện tỉnh đang chờ Bộ Nội vụ hướng dẫn, tập huấn triển khai theo chương trình thống nhất sau khi tổ chức thực hiện thí điểm tại một số địa phương, đơn vị;

- Tuy nhiên, trên cơ sở học tập kinh nghiệm tổ chức thực hiện thí điểm của một số tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chủ động triển khai theo mức độ phù hợp với tình hình thực tế của địa phương nhằm đảm bảo tiến độ thực hiện Kế hoạch đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức của tỉnh trong năm 2014. Theo đó, đã tổ chức thí điểm thi và chấm điểm qua máy tính đối với môn thi trắc nghiệm kỹ năng nghiệp vụ chuyên ngành trong kỳ thi tuyển công chức năm 2014 để từng bước tiếp cận và tiến tới thực hiện đồng bộ thi các môn qua máy tính trong thời gian tới sau khi Bộ Nội vụ hoàn thiện, triển khai nhân rộng và quy định, hướng dẫn thực hiện đồng bộ, thống nhất trong cả nước theo phần mềm chuyên dụng nhằm nâng cao tính khách quan, minh bạch của kỳ thi.

7. Về kết quả triển khai thực hiện việc thí điểm đổi mới phương thức tuyển chọn lãnh đạo cấp Sở, cấp phòng tại một số Sở ngành và Ủy ban nhân dân huyện, thành phố: Để việc tổ chức thực hiện bảo đảm nguyên tắc nhất quán sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và cần có lộ trình chuẩn bị, tổ chức thực hiện phù hợp với công tác quy hoạch, bố trí cán bộ; đồng thời đang chờ Bộ Nội vụ hướng dẫn, tập huấn triển khai thống nhất đối với các tỉnh, thành phố sau khi nghiên cứu tổ chức thực hiện thí điểm tại một số địa phương, đơn vị. Trong thời gian vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã nghiên cứu, xây dựng Đề án và trình Ban Thường vụ tỉnh ủy xem xét cho chủ trương tổ chức thực hiện thi thí điểm tuyển chọn chức danh Trưởng, Phó Trưởng phòng chuyên môn cấp Sở và cấp huyện, thành phố tại một số đơn vị trong năm 2015; sau khi đủ điều kiện sẽ mở rộng phạm vi và đối tượng thực hiện.

III. Tồn tại, hạn chế:

1. Về công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính:

- Công tác tuyên truyền cải cách hành chính còn chưa sâu rộng, chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa trong đại bộ phận người dân, doanh nghiệp về vai trò, tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính nên chưa nhận được sự đồng tình, quan tâm, ủng hộ và đồng hành của đại bộ phận nhân dân đối với công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh.

- Việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính tại một số cơ quan, đơn vị chưa được thực hiện thường xuyên, một số công chức, viên chức chưa thật sự tự giác trong việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính, trong quá trình thực hiện còn mang tính đối phó; việc giải quyết các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa cơ chế một cửa liên thông còn trễ hẹn, tồn đọng. Các hồ sơ giải quyết trễ hẹn chủ yếu là các hồ sơ cần xác minh, đặc biệt là các hồ sơ phải xác minh của cơ quan khác ngoài tỉnh như Cấp phiếu lý lịch tư pháp; hồ sơ thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan trung ương; các hồ sơ tồn động chủ yếu là các hồ sơ thuộc lĩnh vực đất đai (do thực hiện cấp giấy chứng nhận theo đợt nên số lượng hồ sơ nhiều; một số hồ sơ có nguồn gốc đất phức tạp nên cần phải xác minh, thẩm tra).

- Môi trường cạnh tranh của tỉnh chậm được cải thiện, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh còn thấp, chưa đạt yêu cầu (năm 2010: 41; năm 2011: 48; năm 2012: 18; năm 2013: 52; năm 2014: 43).



2. Cải cách thể chế:

- Việc tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật đôi lúc còn chậm.

- Một số văn bản ban hành chưa đảm bảo về thể thức và nội dung quy định; vẫn còn văn bản đã ban hành để Bộ Tư pháp đề nghị xử lý.

- Việc ban hành Kế hoạch rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Kế hoạch kiểm tra và tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 của tỉnh chậm so với tiêu chí chấm điểm của Bộ Nội vụ; do đó, đã ảnh hưởng đến Chỉ số cải cách hành chính năm 2015 của tỉnh (nhiệm vụ này do Sở Tư pháp tham mưu).



3. Cải cách thủ tục hành chính:

- Một số Sở, ngành chưa quan tâm đúng mức và còn chậm tiến hành rà soát để tham mưu UBND tỉnh ban hành sửa đổi, bổ sung quy định giải quyết thủ tục hành chính hoặc trình Chủ tịch UBND tỉnh công bố làm ảnh hưởng đến công tác cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh (việc rà soát các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông trên lĩnh vực đất đai, đăng ký hộ kinh doanh, người có công trong năm 2013 còn chậm so với tiến độ yêu cầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh).

- Công tác phối hợp giữa cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả quan hệ phối hợp trong xử lý hồ sơ giữa các bộ phận quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ với bộ phận Tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả chưa nhịp nhàng, chặt chẽ (Sở Văn hóa Thể thao và du lịch; Ủy ban nhân dân huyện Ninh Hải, Ninh Phước, Thuận Bắc).

- Việc thực hiện giải quyết thủ tục hành chính còn mang tính thủ công, tốn nhiều thời gian (ví dụ: Thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp, lĩnh vực bảo hiểm xã hội phải chuyển trực tiếp hồ sơ ra ngoài tỉnh để giám định hộ, xác nhận...);

- Cơ sở vật chất tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một số cơ quan, đơn vị chưa đáp ứng được yêu cầu (Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Văn hóa Thể thao và du lịch; Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn thuộc huyện Ninh Phước).



4. Cải cách tổ chức bộ máy:

- Một số cơ quan, đơn vị chậm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương (hiện nay mới có 03/07 đơn vị đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt đề án kiện toàn theo hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương).

- Việc xây dựng Đề án xác định vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp của tỉnh tuy đã hoàn thành nhưng chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

5. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức:

- Vẫn còn một bộ phận nhỏ cán bộ, công chức, viên chức chưa tận tâm, tận tụy với công việc, khi giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp còn có biểu hiện nhũng nhiễu, tiêu cực, vòi vĩnh (qua kết quả khảo sát mức độ hài lòng của hộ gia đình, cá nhân đối với thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại cấp huyện có 15,6% ý kiến trả lời có và 21,6% ý kiến trả lời khó trả lời đối với câu hỏi về hiện tượng nhũng nhiễu, tiêu cực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức khi giải quyết thủ tục hành chính; qua kết quả khảo sát PCI năm 2014 có 51% doanh nghiệp trả lời cán bộ, công chức nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục).

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng được tăng cường, nhưng nhìn chung tính chuyên nghiệp, trình độ chuyên môn, kỹ năng hành chính của một số cán bộ, công chức vẫn còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu quản lý trong tình hình mới (Sở Tài nguyên và Môi trường; Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn).

- Việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức chưa đảm bảo tính sát thực, khách quan, công khai, minh bạch, chưa đề cao trách nhiệm của người đứng đầu nên chưa tạo ra những chuyển biến tích cực trong kết quả đánh giá và sự đồng thuận của dư luận xã hội.

- Công tác tuyển dụng viên chức đã được triển khai thực hiện và đạt được những kết quả tích cực, tuy nhiên chế độ ưu đãi, thu hút chưa cao nên chưa tuyển chọn được viên chức theo quy định (ví dụ: Yêu cầu về tuyển dụng viên chức thực hiện giám định BHYT tại các cơ sở khám, chữa bệnh là bác sĩ, dược sĩ).

- Việc thi tuyển các chức danh lãnh đạo, quản lý tuy đã có Kế hoạch nhưng vẫn chưa triển khai được trong thực tiễn.



6. Cải cách tài chính công:

- Các đơn vị sự nghiệp còn chưa được tự chủ hoàn toàn về mặt tài chính như việc đầu tư, nâng cấp, sửa chữa trụ sở, tài sản có giá trị lớn, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu mở rộng hoạt động dịch vụ theo xu hướng phát triển của xã hội; một số công việc sản phẩm tạo ra từ chức năng, nhiệm vụ khó định mức nên chưa thể quy định được mức khoán công việc cho tập thể, cá nhân, từ đó làm giảm hiệu quả, năng suất công việc; một số đơn vị sự nghiệp vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào nhà nước, chưa thật sự quyết liệt để chuyển sang tự chủ hoàn toàn.

- Vẫn còn cơ quan, đơn vị để cơ quan tài chính xuất toán.

7. Hiện đại hóa nền hành chính:

- Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 tại một số cơ quan, đơn vị chưa đúng quy định, vẫn còn hình thức: Việc cập nhật thay đổi danh mục tài liệu có nguồn gốc bên ngoài chưa đầy đủ, kịp thời; vẫn còn trường hợp sử dụng các biểu mẫu không đúng theo các quy trình, thủ tục đã được Thủ trưởng đơn vị phê duyệt và ban hành; vẫn còn trường hợp lưu thiếu hoặc thừa thành phần hồ sơ theo yêu cầu; thông tin điền vào biểu mẫu còn thiếu, người thụ lý hồ sơ ký không ghi rõ họ tên.



- Chưa xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành và tổng hợp phục vụ nhu cầu tra cứu, trao đổi, tạo môi trường điện tử (toàn tỉnh mới xây dựng được 11 cơ sở dữ liệu chuyên ngành; chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu tại một số ngành quan trong như khoa học và công nghệ, cơ sở dữ liệu hạ tầng kỹ thuật đô thị, hệ thống thông tin quản lý phục vụ các đối tượng chính sách; Hệ thống thông tin ngành giao thông vận tải..).

- Việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp vẫn còn hạn chế (số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 tuy đã được triển khai nhưng vẫn còn ít; việc chứng thực chữ ký số chưa được thực hiện). Tỷ lệ cán bộ, công chức thường xuyên sử dụng hộp thư điện tử chưa đạt chỉ tiêu đề ra (hiện nay, tỷ lệ CBCC thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc là 80%; Kế hoạch đến năm 2015 phải đạt 95%).

- Các Sở, ngành và địa phương chưa quan tâm đúng mức trong chỉ đạo cập nhật thông tin, bổ sung thêm các chuyên mục lên Trang thông tin điện tử thành phần theo quy định, tạo ra kênh giao tiếp trực tuyến giữa các cơ quan quản lý nhà nước với người dân và doanh nghiệp, tăng cường tính công khai, minh bạch, hiệu quả trong hoạt động hành chính công.

- Việc ứng dụng công nghệ thông tin cấp phép qua mạng còn hạn chế, mức độ truy cập và sử dụng của người dân và doanh nghiệp chưa nhiều.



IV. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:

- Nguyên nhân quan trọng hàng đầu là nhận thức của Lãnh đạo một số Sở, ban, ngành, địa phương về vai trò của công tác cải cách hành chính chưa sâu kỹ, chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính nên chưa quyết liệt trong công tác chỉ đạo, điều hành, chưa tạo được chuyển biến rõ nét trong công tác cải cách hành chính tại cơ quan, đơn vị.

- Kinh phí thực hiện công tác cải cách hành chính chưa được bố trí trong dự toán chi ngân sách hàng năm của các cơ quan, đơn vị.

- Công chức đầu mối kiểm soát thủ tục hành chính chưa được bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính.



- Nguồn nhân lực công nghệ thông tin còn thiếu về số lượng và chất lượng, vai trò nhiệm vụ của cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin cấp Sở, huyện chưa rõ ràng. Cán bộ tin học tại xã phường chưa có, gây khó khăn trong việc thực hiện đề án văn phòng điện tử, một cửa điện tử liên thông.

- Hạ tầng mạng và thiết bị công nghệ thông tin trong cơ quan quản lý nhà nước cấp Sở và huyện đã trang bị từ lâu, không đáp ứng về cấu hình và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, an ninh.

- Chưa có cơ chế quy định trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện công tác cải cách hành chính tại cơ quan, đơn vị; đặc biệt là cơ chế gắn kết kết quả thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính với việc đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ và xét khen thưởng hàng năm đối với cán bộ, công chức, viên chức.

V. Giải pháp đẩy mạnh trong thời gian đến:

1. Về công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính:

- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và công tác chỉ đạo điều hành của Ủy ban nhân dân các cấp; tạo sự thống nhất, quyết tâm cao về quan điểm, nội dung, cách làm giữa cấp ủy và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện các chương trình về công tác cải cách hành chính. Xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính ở phạm vi cơ quan, đơn vị mình phụ trách; xem cải cách hành chính là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên của các cơ quan, đơn vị; trên cơ sở đó tổ chức đánh giá kết quả thực hiện trong từng năm. Ngoài ra, các cơ quan, đơn vị phụ trách các nội dung trong công tác cải cách hành chính phải chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh đối với kết quả triển khai thực hiện các nhiệm vụ đó.

- Xây dựng chương trình, kế hoạch cải cách hành chính định kỳ hàng năm phải xác định cụ thể kết quả đạt được, phải đề ra các chỉ tiêu cụ thể trong từng kế hoạch; phải phân công cụ thể cho cán bộ, công chức ở cơ quan, đơn vị và phòng, ban chuyên môn trực thuộc thực hiện công tác cải cách hành chính theo ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách; kết quả cải cách hành chính phải được đánh giá thông qua những kết quả cụ thể và định lượng được.

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch tuyên truyền định kỳ hàng năm. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức, phong phú, sinh động, giúp cho cán bộ, công chức, nhân dân hiểu và tham gia tích cực công tác cải cách hành chính. Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, hình thức thu hút sự tham gia đóng góp ý kiến và giám sát của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước, tăng cường đối thoại giữa nhà nước với doanh nghiệp và nhân dân. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các tiêu chí, chỉ số đánh giá cải cách hành chính hàng năm ở các cơ quan, đơn vị.

- Tăng cường công tác kiểm tra định kỳ và đột xuất về công tác cải cách hành chính. Thường xuyên sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, nhất là tổng kết các mô hình, nhân rộng các điển hình về cải cách hành chính. Đưa nội dung cải cách hành chính vào tiêu chí xét thi đua, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan gắn với khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức.

- Bố trí đủ kinh phí để thực hiện công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh.



2. Cải cách thể chế:

- Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xây dựng, thẩm định và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhất là bảo đảm sự cần thiết, tính hợp lý, hợp pháp, tính khả thi khi ban hành văn bản.

- Có cơ chế xử lý trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật chưa đảm bảo nội dung, hình thức theo quy định.

- Có cơ chế xử lý trách nhiệm của cơ quan thẩm định văn bản quy phạm pháp luật đối với các văn bản ban hành chưa đúng nội dung, hình thức để cấp có thẩm quyền đề nghị xử lý.

3. Cải cách thủ tục hành chính:

- Đẩy mạnh công tác kiểm soát thủ tục hành chính ở các cấp, nhất là kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật.

- Có chỉ tiêu cụ thể về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính hằng năm đối với các Sở, ban, ngành thuộc tỉnh.

- Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc giải quyết thủ tục hành chính đối với người dân, doanh nghiệp; kiên quyết xử lý những cán bộ, công chức, viên chức có biểu hiện nhũng nhiễu, tiêu cực hoặc chậm giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp.

- Có cơ chế xử lý người đứng đầu các cơ quan, đơn vị để xảy ra tình trạng trễ hẹn, tồn động hồ sơ khi giải quyết thủ tục hành chính chiếm tỷ lệ từ 5% trở lên.

- Tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong việc quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

4. Cải cách tổ chức, bộ máy:

- Tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, biên chế của Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện, các đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh, huyện; theo đó, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của tất cả các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và Phòng, ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện phải được kiện toàn trong năm 2015.

- Định kỳ tổ chức thực hiện việc đánh giá mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính các cấp.

- Tiếp tục củng cố và nâng cao hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện theo hướng thu gọn đầu mối, giảm bớt khâu trung gian, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực.

- Kiên quyết thực hiện chủ trương tinh giản biên chế. Trường hợp phải thành lập tổ chức mới hoặc được giao nhiệm vụ mới thì các cơ quan tổ chức, đơn vị tự cân đối, điều chỉnh trong tổng số biên chế hiện có.

5. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức:

- Rà soát, bổ sung và hoàn thiện các quy định về vị trí chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ cán bộ, công chức, viên chức, kể cả cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý. Xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức hợp lý gắn với vị trí việc làm trên cơ sở xác định rõ về chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị theo lộ trình quy định của Trung ương.

- Thí điểm thực hiện thi tuyển một số chức danh lãnh đạo, quản lý.

- Rà soát trình độ đào tạo, năng lực của công chức, viên chức để có kế hoạch sắp xếp, bố trí sử dụng phù hợp với vị trí việc làm và yêu cầu nhiệm vụ.

- Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch cán bộ của tỉnh để có giải pháp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp; chỉ bổ nhiệm các trường hợp có trong quy hoạch theo quy định.

- Kiên quyết thực hiện giải quyết chế độ đối với cán bộ chuyên trách cấp xã khi hết nhiệm kỳ mà không đủ điều kiện tái cử.

- Đổi mới phương thức tuyển dụng công chức, viên chức (bao gồm cả tuyển chọn lãnh đạo quản lý) theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tổ chức thi tuyển, đảm bảo công khai, minh bạch và tạo sự đồng thuận của dư luận đối với kết quả thi tuyển.

- Tiếp tục đổi mới cơ chế đánh giá công chức, viên chức theo nguyên tắc: Cấp trên đánh giá cấp dưới, người đứng đầu đánh giá những người thuộc quyền quản lý, cấp trên trực tiếp đánh giá người đứng đầu. Trước mắt, các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phải triển khai thực hiện nghiêm túc Công văn số 799/UBND-NC ngày 27/02/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.

- Cải tiến phương thức, quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo quản lý theo hướng đề cao trách nhiệm của cấp có thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, quyết định trên cơ sở tiêu chuẩn, điều kiện và kết quả công việc.

- Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ, công chức về cải cách hành chính; đồng thời có chế độ chính sách hợp lý đối với đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chuyên trách về cải cách hành chính các cấp. Có chế độ chính sách hỗ trợ đối với những sáng kiến cải cách hành chính có tính chất mới, đột phá, được tỉnh tiếp thu và nhân rộng.

- Hàng năm, dành một số lượng chỉ tiêu cụ thể để thu hút các sinh viên tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở trong nước, người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, xuất sắc ở nước ngoài về làm việc tại tỉnh.

- Tổng rà soát về việc thực hiện các quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm đối với các chức danh Trưởng, Phó phòng thuộc Sở; trường hợp chưa đủ tiêu chuẩn thì yêu cầu đến hết năm 2016 phải bổ sung hoàn chỉnh; từ năm 2017 trở đi chỉ bổ nhiệm các trường hợp đã đủ tiêu chuẩn theo quy định.

6. Cải cách tài chính công:

- Tiếp tục triển khai, thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính và quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

- Thí điểm thực hiện cơ chế tự chủ về kinh phí quản lý hành chính đối với Ủy ban nhân dân cấp xã.

7. Hiện đại hóa nền hành chính:

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp.

- Đánh giá lại thực chất và tính hiệu quả, thiết thực của việc áp dụng ISO trong các cơ quan hành chính Nhà nước (các Sở, Ban, ngành trong tỉnh) để áp dụng có trọng tâm, trọng điểm, tránh hình thức, đối phó.

VI. Kiến nghị, đề xuất đối với Ủy ban nhân dân tỉnh: Các kiến nghị, đề xuất tổng thể để đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh đã được Sở Nội vụ báo cáo, đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tại Báo cáo số 852/BC-SNV ngày 10/4/2015 theo Chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tại Công văn số 1133/UBND-NC ngày 23/3/2015. Sở Nội vụ xin kiến nghị, đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh một số vấn đề sau:

1. Về chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính:

- Ban hành văn bản chấn chỉnh tinh thần trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong việc phụ trách các nội dung trong Chỉ số Cải cách hành chính (PAR INDEX) của tỉnh; đặc biệt là việc tham mưu không đúng thời gian quy định ảnh hưởng đến Chỉ số Cải cách hành chính của tỉnh.

- Tổ chức Cuộc thi “Tìm hiểu về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 tỉnh Ninh Thuận” (dưới hình thức làm bài viết trả lời các câu hỏi trắc nghiệm và 01 câu tự luận đề xuất sáng kiến cải cách hành chính; thời gian khoảng Quý IV/2015, sau khi cấp cơ sở đã tiến hành xong Đại hội Đảng).

- Về kinh phí phục vụ triển khai công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh; thời gian qua, khi triển khai các nhiệm vụ cụ thể Sở Nội vụ xây dựng dự toán gửi Sở Tài chính thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định, quá trình này mất khoảng 01-02 tháng dẫn đến việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ thường chậm so với Kế hoạch (tổng kinh phí Ủy ban nhân dân tỉnh cấp bổ sung để triển khai công tác cải cách hành chính qua các năm cụ thể như sau: Năm 2013 khoảng 70 triệu đồng; năm 2014 khoảng 180 triệu đồng); mặt khác, Sở Nội vụ không thể chủ động triển khai một số nhiệm vụ theo yêu cầu. Theo tiêu chí chấm điểm Chỉ số cải cách hành chính cấp tỉnh do Bộ Nội vụ quy định, kinh phí cải cách hành chính phải cấp thành một mục riêng thì mới đạt 0,5 điểm. Do đó, ngoài kinh phí cấp hàng năm để phục vụ hoạt động chuyên môn hàng năm của Sở Nội vụ; đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí nguồn kinh phí riêng để Sở Nội vụ chủ động triển khai các nhiệm vụ cải cách hành chính hằng năm trên địa bàn tỉnh (khoảng 200-300 triệu/năm), trong đó, đã bao gồm kinh phí hỗ trợ cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, công chức đầu mối kiểm soát thủ tục hành chính; khi triển khai các nhiệm vụ cụ thể Sở Nội vụ sẽ có văn bản gửi Sở Tài chính để thống nhất mức chi.

2. Cải cách thể chế:

- Đối với các cơ quan, đơn vị chậm tham mưu ban hành văn bản QPPL theo Chương trình, Kế hoạch của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc tham mưu văn bản QPPL để Bộ Tư pháp yêu cầu sửa đổi (mặc dù các vấn đề này đã được cơ quan tư pháp thẩm định, có ý kiến) thì Ủy ban nhân dân tỉnh cần ban hành văn bản phê bình trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn đối với cơ quan, đơn vị đó.

- Đối với các văn bản quy phạm pháp luật đã được cơ quan tư pháp thẩm định nhưng để cấp có thẩm quyền đề nghị xử lý thì trách nhiệm thuộc về cơ quan tư pháp.

- Chỉ đồng ý chủ trương gia hạn thời gian tham mưu văn bản QPPL 1 lần trong năm; trường hợp sau khi đã gia hạn vẫn không hoàn thành thì trách nhiệm thuộc về thủ trưởng cơ quan, đơn vị.

3. Cải cách thủ tục hành chính:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có văn bản chỉ đạo Cục Thuế tỉnh, Chi cục Hải quan tỉnh, Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Bảo hiểm xã hội, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường và các Sở, ngành khác rà soát, kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục cắt giảm thời gian giải quyết của các thủ tục hành chính hiện hành trong năm 2015 (có thể đề ra chỉ tiêu đơn giản hóa cụ thể và chế tài xử lý các cơ quan, đơn vị không hoàn thành chỉ tiêu).

4. Cải cách tổ chức bộ máy:

- Ủy ban nhân dân tỉnh quy định thời hạn cụ thể về việc trình phê duyệt Đề án kiện toàn cơ cấu tổ chức của các cơ quan, đơn vị sau khi có văn bản hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương.

5. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức viên chức:

- Từ nay đến hết năm 2016 thực hiện thí điểm thi tuyển đối với một số chức danh lãnh đạo, quản lý; từ năm 2017 trở đi thực hiện thi tuyển bắt buộc đối với Trưởng, Phó các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở; từ năm 2020 trở đi thực hiện thi tuyển bắt buộc đối với Trưởng, Phó phòng thuộc Sở, đồng thời thực hiện thí điểm thi tuyển chức danh Phó Giám đốc Sở và tương đương trở lên (có thể thực hiện thí điểm sớm hơn trong trường hợp Bộ Nội vụ có hướng dẫn cụ thể).

- Kiến nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao Ủy ban nhân dân tỉnh Quyết định nâng bậc lương thường xuyên, trước thời hạn; cử đi đào tạo, bồi dưỡng đối với tất cả cán bộ, công chức, viên chức (không cần xin ý kiến Ban Thường vụ Tỉnh ủy; sau khi Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định sẽ báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy biết) vì đây là những công việc sự vụ, thường xuyên và đã có tiêu chí quy định cụ thể.

- Ủy ban nhân dân tỉnh phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm Trưởng, Phó các đơn vị trực thuộc Sở cho Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh theo quy định tại Khoản 5 Điều 7 và Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP của chính phủ (sau khi có ý kiến thống nhất bổ nhiệm của Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh).

6. Cải cách tài chính công:

- Thực hiện thí điểm việc khoán kinh phí hoạt động hàng năm đối với cấp xã trong năm 2016.

- Thực hiện tự chủ theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập đối với Trung tâm Thông tin - Ứng dụng khoa học và công nghệ trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ.

7. Hiện đại hóa nền hành chính:

- Trong năm 2016 triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 đến tất cả các xã, phường, thị trấn còn lại thuộc tỉnh (Kế hoạch năm 2015 đã triển khai đến 43 xã, phường, thị trấn).

- Bố trí kinh phí xây dựng hệ thống mạng LAN tại các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh (Kế hoạch năm 2015 đã triển khai đến 10 xã, phường, thị trấn).

- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ họp trực tuyến giữa Ủy ban nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố theo Kế hoạch số 4646/KH-UBND ngày 24/9/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

- Có Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ họp trực tuyến giữa Ủy ban nhân dân tỉnh và các Sở, ban, ngành thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; giữa các Sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố.
Trên đây là báo cáo kết quả thực hiện cải cách hành chính và cải cách công vụ, công chức trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận từ năm 2014 đến nay, Sở Nội vụ báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh biết và có ý kiến chỉ đạo./.

Nơi nhận:

- CT UBND tỉnh, PCT-đ/c Bình (b/c);

- Giám đốc và các Phó Giám đốc Sở;

- Các phòng, ban, chi cục thuộc Sở;



- Lưu: VT, CCHC.

GIÁM ĐỐC

(đã ký)

Châu Thị Thanh Hà



: chinhquyen -> sonv -> Lists -> VanBanPhapQuy -> Attachments
sonv -> Ủy ban nhân dân tỉnh ninh thuậN
sonv -> Ủy ban nhân dân tỉnh ninh thuận cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
sonv -> SỞ NỘi vụ Số: 1219/bc-snv cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
sonv -> Ủy ban nhân dân cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh ninh thuậN Độc lập Tự do Hạnh phúc
sonv -> Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh ninh thuậN Độc lập Tự do Hạnh phúc
sonv -> Ubnd tỉnh ninh thuận sở NỘi vụ CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
sonv -> Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh ninh thuậN Độc lập Tự do Hạnh phúc
sonv -> V/v hướng dẫn xây dựng kế hoạch cchc và báo cáo cchc hàng năm
Attachments -> TÀi liệu bồi dưỠng kiến thức cải cách hành chính nhà NƯỚc ban hành kèm theo Quyết định số 1296/QĐ-ubnd ngày




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương