QuyếT ĐỊnh về việc ban hành Kế hoạch phát triển công nghiệp – ttcn



tải về 154.3 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu14.08.2016
Kích154.3 Kb.



ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH AN GIANG Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

­­­

Số: 2925 /QĐ-UBND Long Xuyên, ngày 29 tháng 10 năm 2007



QUYẾT ĐỊNH

Về việc ban hành Kế hoạch phát triển công nghiệp – TTCN

tỉnh An Giang giai đoạn 2007 - 2010

________________



CHỦ TỊCH UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003;

Căn cứ Nghị Quyết 06-NQ/TU ngày 22/12/2006 của Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ về phát triển công nghiệp – TTCN từ nay đến năm 2010;

Căn cứ Quyết định số 71/2007/QĐ-TTg ngày 25/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang đến năm 2020;

Theo đề nghị của Giám đốc Sở Công nghiệp,



QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo quyết định này Kế hoạch “Phát triển công nghiệp – TTCN tỉnh An Giang giai đoạn 2007 - 2010".

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Công nghiệp, Giám đốc Sở Du lịch, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Giám đốc Sở Khoa học & Công nghệ, Giám đốc Sở Thương mại, Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT, Trưởng Ban Quản lý các Khu Công nghiệp tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan và Chủ tịch UBND huyện, thị, thành phố, các Doanh nghiệp Nhà nước, các Hiệp hội ngành nghề trong tỉnh chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Nơi nhận:

- Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh;

- Chủ tịch và các Phó CT. UBND tỉnh;

- Sở, ban, ngành cấp tỉnh; đã ký

- Báo AG, Đài PT-TH An Giang

- UBND huyện, thị xã, thành phố; công báo;

- Các DNNN, các Hiệp hội ngành nghề tỉnh;

- Lưu: VT, KT, TH, XDCB, VHXH. Phạm Kim Yên


UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH AN GIANG Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

_________ _____________________________

KẾ HOẠCH

Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

tỉnh An Giang giai đoạn 2007 – 2010

(Ban hành kèm theo Quyết định số 2925/QĐ-UBND

ngày 29 tháng 10 năm 2007 của UBND tỉnh An Giang)

____________


Nhằm phát triển công nghiệp - TTCN theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế; gắn quy hoạch phát triển công nghiệp của tỉnh với khu vực đồng bằng sông Cửu Long; thực hiện đầu tư có trọng điểm; phát triển công nghiệp-TTCN gắn với chuyển dịch lao động, giải quyết việc làm; bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, an ninh quốc phòng để phát triển bền vững; tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, đưa sản phẩm công nghiệp chủ lực đứng vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; tăng nhanh xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chế biến.

Để đạt được các mục tiêu Nghị quyết 06-NQ/TU của Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ về phát triển công nghiệp-TTCN từ nay đến năm 2010. Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch phát triển công nghiệp-TTCN 2007 - 2010 gồm những nội dung sau:

PHẦN I

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CÔNG NGHIỆP - TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

GIAI ĐOẠN 2001-2006
I. Những mặt thuận lợi:

1. Giá trị sản xuất-giá trị tăng thêm: (đính kèm mẫu biểu)

Giá trị sản xuất năm 2006 đạt 3.473 tỷ đồng, tăng gấp 2,3 lần so năm 2000 (1.513,3 tỷ đồng), tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2006 là 14,85% (theo giá CĐ 94). Trong đó: Công nghiệp khai thác mỏ tăng trưởng bình quân hàng năm 10,7%; công nghiệp chế biến tăng trưởng bình quân hàng năm 14,9%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước tăng trưởng bình quân hàng năm 15,7%.

Giá trị tăng thêm năm 2006 đạt 1.478,5 tỷ đồng, tăng gấp 2,02 lần so năm 2000 (731,2 tỷ đồng), tăng trưởng bình quân hàng năm 12,45%. Trong đó: công nghiệp khai thác mỏ tăng trưởng bình quân hàng năm 2,4%; công nghiệp chế biến tăng trưởng bình quân hàng năm 12,5%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước tăng trưởng bình quân hàng năm 15,3%.

2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn còn chậm so với yêu cầu đặt ra, tỷ trọng khu vực II (công nghiệp-xây dựng) từ 11,17% năm 2000, tăng lên 12,63% năm 2006, trong tổng sản phẩm trong nước của tỉnh (theo giá hiện hành).

3. Kim ngạch xuất khẩu tổng kim ngạch xuất khẩu trong 6 năm (2001-2006) đạt 1.493,1 triệu USD, tăng bình quân hàng năm 26,6%. Thị trường XK được mở rộng; các mặt hàng xuất khẩu ngày càng được nâng cao về chất lượng, đã tạo được uy tín trên thị trường thế giới. Về cơ cấu ngành hàng xuất khẩu: cá và gạo là 2 mặt hàng chủ lực trong xuất khẩu và các mặt hàng khác như: may mặc, rau quả đông lạnh, thêu rua.....

4. Công nghiệp quốc doanh giá trị sản xuất tăng trưởng bình quân hàng năm (giai đoạn 2001-2006) là 5,6%, chiếm 26,5% giá trị sản xuất toàn ngành.

5. Công nghiệp ngoài quốc doanh giá trị sản xuất tăng trưởng bình quân hàng năm (giai đoạn 2001-2006) là 21,2 %.chiếm 72,7% giá trị sản xuất toàn ngành.

6. Lĩnh vực hợp tác đầu tư với nước ngoài có 2 liên doanh là Cty LD Angimex- Kitoku chế biến gạo xuất khẩu và Cty LD Latina-An Giang khai thác chế biến đá granite, đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, với tổng vốn đầu tư 1,6 triệu USD; chiếm tỉ trọng 0,78 % giá trị sản xuất toàn ngành.

7. Hoạt động khuyến công có nhiều chuyển biến tích cực, nguồn vốn giải ngân ngày càng tăng, công tác đào tạo dạy nghề được tập trung, nhiều sản phẩm truyền thống được khôi phục, sản phẩm mới được hình thành và phát triển, tạo được nhiều việc làm cho người lao động và góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Trong 6 năm qua, các ngân hàng thương mại đã giải ngân cho 9477 cơ sở, với số tiền là 12.375,3 tỷ đồng; trong đó, có 1693 cơ sở vay trung hạn với số tiền 623.2 tỷ đồng, chiếm 5%/tổng số giải ngân; giải quyết việc làm mới cho 32.101 lao động.



8. Thế mạnh một số ngành công nghiệp chủ yếu:

- Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm và đồ uống: Đây là ngành công nghiệp phát triển ổn định và chiếm 59,5% giá trị sản xuất toàn ngành. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2006 là 19,35%. Hiện có 3622 cơ sở, thu hút 42.815 lao động, với nhiều ngành nghề sản xuất đa dạng.

+ Xay xát - lau bóng gạo: Toàn tỉnh hiện có 942 nhà máy xay xát và lau bóng gạo, với tổng công suất xay xát trên 2 triệu tấn lúa/năm và lau bóng 1,5 triệu tấn gạo/năm, khả năng kho chứa trên 312.500 tấn. Sản lượng gạo xay xát năm 2006 đạt 1.563.000 tấn, tăng 34,5% so với năm 2000.

+ Chế biến thủy sản đông lạnh: Đến năm 2006, toàn tỉnh có 16 nhà máy chế biến thủy sản, với tổng công suất trên 120.000 tấn/năm. Sản lượng thuỷ sản chế biến năm 2006 đạt 84.778 tấn, tăng 12,1 lần so năm 2000.

+ Chế biến rau quả: Toàn tỉnh hiện có 3 nhà máy chế biến rau quả, vốn đầu tư 35,4 tỷ đồng, thu hút 850 lao động: Nhà máy rau quả đông lạnh Bình Khánh - công suất 2.000 tấn/năm, Nhà máy rau quả đông lạnh Mỹ Luông - công suất 3.000 tấn/năm của Cty Antesco; Nhà máy chế biến hạt điều nhân xuất khẩu của Cty Nông Gia II - công suất 1.000 tấn/năm. Năm 2006, sản lượng sản xuất đạt 5.724 tấn rau quả đông lạnh, tăng 6,4 lần năm 2000 và 745 tấn hạt điều nhân.

- Công nghiệp may mặc, da giày: Toàn tỉnh có 664 cơ sở, thu hút 8.329 lao động. Tăng trưởng bình quân hàng năm 25,2%, chiếm 3,2% giá trị sản xuất toàn ngành.

+ May xuất khẩu: hiện có 4 Cty may xuất khẩu, với tổng công suất trên 10 triệu sản phẩm/năm. Sản lượng năm 2006 là 8,56 triệu sản phẩm, tăng gấp 4,5 lần so với năm 2000.

+ Giày thể thao: Cty Giày AG với tổng công suất trên 3 triệu sản phẩm/năm. Sản lượng năm 2006 đạt 2,2 triệu sản phẩm, tăng 3 lần so năm 2000.

+ Thêu xuất khẩu: có 4 cơ sở thêu XK ở Tp.Long Xuyên , thu hút trên 2.100 lao động trong và ngoài tỉnh. Năm 2006, các đơn vị này đã SX 18 tấn hàng thêu, tăng 20% so năm 2000.

- Công nghiệp cơ khí: Ngành cơ khí hoạt động tương đối ổn định, có tiềm lực khá so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Các sản phẩm cơ khí của tỉnh đa dạng, có thị trường trong và ngoài tỉnh khá ổn định như: hệ thống tháp sấy tuần hoàn, máy sấy tĩnh vỉ ngang, máy gặt xếp dãy, cầu sắt nông thôn (Cty Cơ khí AG) thiết bị truyền động nhà máy xay xát, máy bơm nước, máy suốt lúa, máy xay xát lưu động, máy tách hạt bắp, máy cưa bào gỗ liên hợp, khung nhà tiền chế… và gần đây là các sà lan, sà lan tự hành có trọng tải đến 1.000 tấn. Tòan tỉnh hiện có 2882 cơ sở cơ khí, giải quyết việc làm cho 11.255 lao động. Tăng trưởng bình quân hàng năm 4,2%, chiếm 6,4% giá trị sản xuất toàn ngành.

- Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: Toàn tỉnh hiện có 802 cơ sở, giải quyết việc làm cho 8.176 lao động. Tăng trưởng bình quân hàng năm 11,4%, chiếm 11,1% giá trị sản xuất toàn ngành.

+ Sản xuất gạch ngói: là một ngành sản xuất có thế mạnh ở tỉnh, với 02 NM gạch ngói tuynel, công suất 45 triệu viên/năm (Cty Xây lắp) và 490 cơ sở gạch ngói, với 983 lò, thu hút 6.782 lao động với tổng công suất khoảng 400 triệu viên/năm. Năm 2006, sản xuất 549 triệu viên, tăng 2,1 lần so với năm 2000. Tình hình chất thải từ hoạt động sản xuất của các lò gạch thủ công đã ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường xung quanh (trấu, tro, khí thải, hoạt động khai thác nguyên liệu bừa bải…), hiện nay tỉnh đã triển khai mô hình lò nung gạch liên tục kiểu đứng, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ, đảm bảo giảm thiểu ô nhiểm môi trường.

+ Sản xuất xi măng: Nhà máy Xi măng đã đầu tư 4 trạm nghiền với tổng công suất 400.000 tấn/năm. Năm 2006, sản xuất 190.000 tấn xi măng tăng 1,9 lần so với năm 2000.

+ Sản xuất gạch ceramic: Nhà máy gạch Ceramic công suất 1 triệu m2/năm, công nghệ Ý; sản lượng năm 2006 đạt 1.300.000 m2, vượt 30% so công suất thiết kế.

- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước: Tăng trưởng bình quân hàng năm 15,7%, chiếm 6,5% giá trị sản xuất toàn ngành.

+ Điện: Sản lượng điện thương phẩm năm 2006 ước đạt 753,3 triệu kWh, tăng 2,6 lần so năm 2000. Điện tiêu thụ bình quân đầu người năm 2006 là 339 kWh, tăng gấp 2,45 lần so năm 2000, tỉ lệ hộ dùng điện đạt 96%.

+ Cấp nước: Sản lượng nước máy phân phối năm 2006 đạt 25,98 triệu m3, tăng 61% so năm 2000. Tỉ lệ sử dụng nước sạch đạt 53%

- Các ngành nghề TTCN, các làng nghề: đã giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, bao gồm những lao động sống chính bằng nghề và lao động nông nhàn; tạo ra nhiều sản phẩm có tiếng như: mắm thái, khô cá tra phồng, khô bò, bánh phồng, bánh tráng, đường thốt nốt, nông cụ cầm tay, lưỡi câu, rập chuột…Hiện có 17 làng nghề TTCN và TTCN truyền thống đã được UBND tỉnh công nhận.

9. Đầu tư các khu, cụm CN-TTCN.

+ Khu CN Bình Hòa, quy mô 131,71 ha (huyện Châu Thành):Đang san lấp và đầu tư hạ tầng. Có 14 nhà đầu tư đăng ký thuê đất với tổng diện tích 45,9 ha.

+ Khu CN Bình Long quy mô 28,56 ha (huyện Châu Phú): có 06 nhà đầu tư đăng ký thuê đất với tổng diện tích 18,5 ha.

+ Khu CN Vàm Cống, quy mô 195 ha (TP Long Xuyên): Tỉnh có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ đăng ký bổ sung KCN Vàm Cống vào danh mục ưu tiên thành lập đến năm 2015.

+ Cụm CN Mỹ Quý –TP. Long Xuyên, qui mô 18 ha (TP Long Xuyên): có 04 Cty đã đầu tư và đưa vào hoạt động 5 nhà máy chế biến thuỷ sản.

+ Cụm CN Tây Huề (TP Long Xuyên): đã thông qua quy hoạch chi tiết với UBND tỉnh, quy mô 55 ha.

+ Cụm CN Tân Trung, quy mô 19,8 ha (huyện Phú Tân): đang hoàn chỉnh hạng mục san lấp mặt bằng và có 8 doanh nghiệp đăng ký thuê với diện tích 14 ha.

+ Cụm CN Phú Hoà, quy mô 20 ha (huyện Thoại Sơn): Đang kêu gọi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cụm CN; có 04 doanh nghiệp đăng ký 45% diện tích mặt bằng.

+ Cụm CN Xuân Tô, quy mô 57 ha (trong Khu kinh tế cửa khẩu huyện Tịnh Biên): đã thi công kết cấu hạ tầng giai đoạn I.

+ Cụm CN An Phú, quy mô 18,5 ha (huyện An Phú): Bồi hoàn thu hồi đất và hoàn thành san lấp mặt bằng giai đoạn I (5 ha), chuyển sang thi công các hạng mục: Hệ thống giao thông, cấp thoát nước, cấp điện...



+ Cụm CN Hoà An (huyện Chợ Mới), quy mô 100 ha: đang điều chỉnh quy hoạch.

+ Cụm CN Vĩnh Xương, quy mô 30 ha và Thương cảng Tân Châu, ấp Long Thạnh, xã Long An, quy mô 30 ha (huyện Tân Châu) đã lập đề án quy hoạch chi tiết.



II. Những tồn tại và nguyên nhân:

1. Những khó khăn và vướng mắc.

Công nghiệp trong thời gian qua tuy có nhiều chuyển biến và đạt được một số thành quả đáng ghi nhận; nhưng vẫn còn nhiều khó khăn yếu kém như:

- Hiện nay, tổng công suất hệ thống xử lý nước thải của các nhà chế biến thuỷ sản khoảng 12.500 m3/ngày, nhưng nhìn chung vẫn chưa đảm bảo được yêu cầu phát triển sản xuất, cho nên vấn đề ô nhiểm ở các nhà máy chế biến thuỷ vẫn là vấn đề cần đặc biệt quan tâm.

- CN-TTCN tuy có phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế của tỉnh, trình độ tổ chức sản xuất của ngành công nghiệp còn nhiều hạn chế, các sản phẩm từ nông nghiệp chỉ qua khâu sơ chế hoặc chế biến một phần nên giá trị thương mại tăng không cao. Các ngành nghề TTCN chiếm tỷ trọng nhỏ, chưa thu hút được nhiều lao động dư thừa và phân công lại lao động nông thôn một cách hợp lý.

- Công nghiệp đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Đến năm 2006 tỷ trọng khu vực II (công nghiệp-xây dựng) trong GDP của tỉnh đạt 12,63%.

- Việc đầu tư cơ sở hạ tầng (khu công nghiệp, giao thông, điện, nước...) trong thời gian qua còn hạn chế, chưa tạo động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp.



- Về xuất khẩu, mặc dù tỉ trọng giá trị xuất khẩu đã có sự chuyển đổi tích cực giữa thủy sản đông lạnh và gạo; tuy vậy, thị trường xuất khẩu chưa ổn định.

- Bên cạnh một số doanh nghiệp Nhà nước làm ăn hiệu quả, cũng còn có đơn vị hoạt động hiệu quả thấp, sức cạnh tranh yếu, chưa thật sự trở thành động lực thúc đẩy các cơ sở CN-TTCN ngoài quốc doanh phát triển.

- Khu vực CN ngoài quốc doanh khả năng tích tụ và tập trung vốn chưa cao, quy mô SXKD phần lớn còn nhỏ bé, trình độ kỹ thuật công nghệ thấp, trình độ quản lý của chủ DN và tay nghề của người lao động còn yếu, phần lớn chưa qua đào tạo, hiểu biết về chính sách, pháp luật còn hạn chế,... tính liên kết, hợp tác cộng đồng trong các DN không cao.

- Hoạt động SXKD của các DN có vốn đầu tư nước ngoài hiệu quả thấp.

2. Nguyên nhân.

Chuyển dịch cơ cấu của ngành công nghiệp trong các năm qua còn chậm do:

+ Hạn chế tầm nhìn trong việc xây dựng một chiến lược phát triển CN-TTCN dài hạn và các chương trình, kế hoạch, qui hoạch cho từng giai đoạn một cách phù hợp với xu thế phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước.

+ Vốn đầu tư chưa đáp ứng cho nhu cầu phát triển của ngành công nghiệp (chiếm 13,12% tổng vốn đầu tư của tỉnh).

+ Thiếu những dự án đầu tư mang tính đột phá. Công tác xúc tiến đầu tư còn hạn chế.

+ Khả năng tích lũy vốn từ GDP để đầu tư phát triển còn thấp.

+ Trình độ kỹ thuật sản xuất và công nghệ của ngành công nghiệp nhìn chung ở tình trạng lạc hậu, thiết bị cũ, thiếu đồng bộ. Sản xuất CN-TTCN ngoài quốc doanh có tính chất phân tán, kỹ thuật thủ công và bán cơ giới, năng lực sản xuất chưa vượt qua giới hạn của tính chất sản xuất nhỏ TTCN và kinh tế gia đình, vốn đầu tư thấp. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và giá thành sản phẩm, sản phẩm thiếu sức cạnh tranh trên thị trường.

+ Chất lượng lao động chưa cao, năng suất lao động thấp, chủ yếu là thủ công, mức độ cơ giới hóa còn thấp. Lao động CN-TTCN chưa được đào tạo chiếm tỉ lệ rất cao (trên 75%), đặc biệt lao động trong khu vực ngoài QD, lao động đã qua đào tạo chiếm số lượng thấp, chỉ chiếm 24,4 %. Chủ DN đã học qua trường lớp về quản trị kinh doanh hoặc quản lý kinh tế - tài chính chưa đến 1%, nên quản lý chủ yếu theo kinh nghiệm , mức độ rủi ro cao.

+ Vị trí địa lý không thuận lợi, không nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, xa trung tâm kinh tế lớn (TPHCM); bị ngập lũ hàng năm, nền đất yếu chi phí đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật cao; các tiền đề tạo điều kiện cho sản xuất công nghiệp phát triển như: mặt bằng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giao thông, điện... tuy có được quan tâm, nhưng tổ chức triển khai chậm, cũng là một hạn chế trong việc thu hút mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

+ Tiến độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn chậm.

Tiến độ triển khai các khu-cụm CN-TTCN trong tỉnh còn chậm so với yêu cầu của tỉnh do:

+ Nguồn vốn đầu tư hạn chế; phương án đầu tư các cụm TTCN ở huyện, thị, thành chưa xác định cụ thể để phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, do đó còn hạn chế nhiều đến việc chủ động kêu gọi đầu tư trong và ngoài tỉnh.

+ Năng lực cán bộ quản lý trong lĩnh vực tổ chức thực hiện đầu tư khu-cụm CN và năng lực các đơn vị tư vấn còn hạn chế.

+ Trong tỉnh còn ít doanh nghiệp có đủ năng lực đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật.

- Việc triển khai thực hiện chương trình phát triển công nghiệp các năm qua thiếu đồng bộ, sự phối hợp giữa ngành công nghiệp với các Sở, ngành có liên quan chưa kịp thời.

PHẦN II

QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP – TTCN

I. Quan điểm phát triển.

- Đi lên công nghiệp hoá và hiện đại hoá từ thế mạnh vốn có là tiếp tục phát triển nông nghiệp, nông thôn.

- Gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp đồng bằng sông Cửu Long.

- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương hướng phát triển công nghiệp, lựa chọn các dự án đầu tư và công nghệ.

- Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất và công nghệ hiện có, tập trung vào những khâu quyết định để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, đặc biệt đối với những mặt hàng chế biến nông, thủy sản xuất khẩu.

- Chú trọng thích đáng công nghiệp nông thôn, khai thác triệt để các ngành nghề tiểu thủ công truyền thống giải quyết nhiều lao động và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của mọi tầng lớp dân cư và đảm bảo môi trường bền vững.

II. Định hướng phát triển: (đính kèm mẫu biểu)

1. Căn cứ để xây dựng định hướng phát triển công nghiệp.

- Quyết định số 71/2007/QĐ-TTg ngày 22/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang đến năm 2020.

- Nghị Quyết 06-NQ/TU ngày 22/12/2006 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp từ nay đến năm 2010.

- Nghị Quyết Hội đồng nhân dân tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010.

- Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam theo các vùng lãnh thổ đến năm 2010 - của Bộ Công nghiệp.

- Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

- Căn cứ Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.

- Căn cứ Quyết định số 2352/QĐ-UBND ngày 28/11/2006 của UBND tỉnh v/v ban hành Chương trình “Xây dựng khu công nghiệp, cụm sản xuất TTCN An Giang giai đoạn 2006-2010”.



2. Chỉ tiêu phát triển chủ yếu.

- Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng GDP công nghiệp bình quân 17,87%/năm thời kỳ 2007-2010, nhằm tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp, đảm bảo phát triển nền kinh tế bền vững nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn.

- Giá trị sản phẩm công nghiệp xuất khẩu vào năm 2010 đạt từ 700 triệu USD trở lên.

- Sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu qua chế biến đạt trên 75% vào năm 2010.

- Tỉ lệ các hộ đều sử dụng điện 100% và tỉ lệ dân cư được dùng nước sạch là 85% vào năm 2010.

- Khu vực công nghiệp thu hút 150.000 lao động vào năm 2010.

- Sản lượng sản phẩm CN-TTCN 2006 -2010 (theo mẫu đính kèm).

3. Phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu.

- Công nghiệp chế biến lương, thực phẩm và đồ uống: Chế biến các loại nông, thủy sản thành các sản phẩm hàng hóa tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, phấn đấu đến năm 2010 phần lớn các sản phẩm khu vực nông nghiệp khi ra thị trường đều phải qua khu vực công nghiệp xử lý và chế biến. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2007-2010 là 20%. Các sản phẩm chính tăng so năm 2006: xay xát gạo 15,2%, thuỷ sản chế biến 76,9%, sản phẩm GTGT từ thuỷ sản 500%, hạt điều 391%, bánh kẹo 37,9%, thức ăn gia súc 310%, khô cá 33%,…

- Công nghiệp cơ khí: Công nghiệp hóa nền nông nghiệp của tỉnh, tân trang, bảo dưỡng, sửa chữa và trang bị mới các loại máy móc nông nghiệp, tập trung tiến tới việc cơ giới hóa toàn bộ những khâu trước, trong và sau thu hoạch. Đáp ứng yêu cầu của các ngành kinh tế khác: giao thông, xây dựng,…Tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2007-2010 là 10%.

- Công nghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng: Khai thác chế biến đạt hiệu quả các loại tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là khoáng sản làm vật liệu xây dựng đang là lợi thế của tỉnh. Khai thác khoáng sản phải gắn chặt với việc bảo vệ môi trường sinh thái và cảnh quan du lịch. Phát triển sản xuất vật liệu xây dựng về số lượng, chất lượng, chủng loại nhằm đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2007-2010 là 15%.

- Công nghiệp thêu, may, da giày: Phát triển công nghiệp may, da giày đến năm 2010 là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn, phục vụ xuất khẩu góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới. Tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2007-2010 là 22%.

- Các ngành nghề tiểu thủ công truyền thống:

+ Hỗ trợ, phát triển ổn định các ngành nghề sản phẩm TTCN truyền thống ở nông thôn để giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Các ngành nghề cần đầu tư phát triển là: đan đát, mộc dân dụng và chạm trỗ, dệt sà rông, dệt thổ cẩm, se tơ tằm, SX nhang, dây keo... Đối với các sản phẩm đang có thị trường tiêu thụ ở Campuchia, các cơ sở cần tích cực đầu tư nâng cấp sản phẩm và có các biện pháp tiếp thị để đẩy mạnh việc tiêu thụ nhiều hơn nữa.

+ Đầu tư phát triển các ngành nghề TTCN, các làng nghề phục vụ phát triển du lịch như: sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (mộc chạm trỗ, hàng dệt thổ cẩm, dệt chiếu XK, gốm đen, sản phẩm từ tre, lá...).

- Công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản: Nâng cao giá trị thương mại của lâm sản, nhất là các sản phẩm từ rừng trồng, tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2007-2010 là 12%.

- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước: Đảm bảo cung cấp điện nước đầy đủ, ổn định, an toàn phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội và đời sống của nhân dân.Tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2007-2010 trên 13%.

III. Những giải pháp chủ yếu.

1. Đầu tư phát triển các khu cụm CN-TTCN: Từ nay đến năm 2010, xây dựng hoàn chỉnh các khu-cụm CN-TTCN sau:

1.1. Các khu công nghiệp tỉnh:

- Khu CN Bình Long - huyện Châu Phú: diện tích 28,56 ha.

- Khu CN Bình Hoà - huyện Châu Thành: diện tích 131,7 ha.

- Khu CN Vàm Cống – Tp Long Xuyên: diện tích 195 ha.



1.2. Các khu-cụm CN-TTCN cấp huyện:

- Khu CN Hoà An - huyện Chợ Mới: diện tích 100 ha.

- Cụm CN Mỹ An - huyện Chợ Mới: diện tích 20 ha.

- Cụm CN Phú Hoà - huyện Thoại Sơn: diện tích 19 ha.

- Cụm CN Tân Trung - huyện Phú Tân: diện tích 20 ha.

- Cụm CN-TTCN Tây Huề - Tp Long Xuyên: diện tích 55 ha.

- Cụm CN Khánh Bình - huyện An Phú: diện tích 25 ha.

- Cụm CN An Phú - huyện An Phú: diện tích 18,5 ha.

- Cụm CN Xuân Tô - huyện Tịnh Biên: diện tích 57 ha.

- Cụm CN An Phú - huyện Tịnh Biên: diện tích 5 ha.

- Cụm CN AN Nông - huyện Tịnh Biên: diện tích 6 ha.

- Cụm CN Núi Sập - huyện Thoại Sơn: diện tích 15 ha.

- Cụm CN Tân Châu - huyện Tân Châu: diện tích 30 ha.

- Cụm CN Vĩnh Xương - huyện Tân Châu: diện tích 30 ha.

- Cụm CN Mỹ Phú - huyện Châu Phú: diện tích 65 ha.

- Cụm CN Vĩnh Tế - TX Châu Đốc: diện tích 20 ha.

- Cụm CN Vĩnh Mỹ - TX Châu Đốc: diện tích 15 ha.

- Cụm CN Tri Tôn - huyện Tri Tôn: diện tích 30 ha.



2. Phát triển công nghệ sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh.

- Tiếp tục thực hiện Nghị định 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 của Chính phủ về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ.

- Thực hiện Chương trình hỗ trợ và phát triển tài sản sở hữu trí tuệ tỉnh An Giang giai đoạn 2006-2010.

- Thực hiện Đề án hỗ trợ tập huấn, chuyển giao kỹ thuật và sản xuất thử nghiệm giai đoạn 2007-2010.

- Phát triển kỹ thuật và công nghệ tiên tiến là yếu tố đảm bảo mục tiêu CNH-HĐH, hướng tới đưa công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại vào sản xuất công nghiệp; (trong đó các DN cần phải có kế hoạch đổi mới công nghệ và thiết bị hàng năm)

- Phổ biến, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện các tiêu chuẩn HACCP, ISO (đặc biệt là các DN làm hàng xuất khẩu), quản lý chất lượng toàn diện TQM, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đăng ký thương hiệu...

- Hỗ trợ tín dụng giúp các DN thực hiện các kế hoạch nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đặc biệt là các DN có hàng xuất khẩu cần phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước bắt kịp trình độ khu vực và thế giới, bằng cách tổ chức triển khai áp dụng các mô hình sản xuất tiên tiến.

- Đẩy mạnh hoạt động tư vấn về công nghệ, kỹ thuật giúp các DN định hướng đúng trong hoạt động đầu tư.



3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển.

- Nhu cầu lao động khu vực công nghiệp đến năm 2010 trên 150.000 lao động, lực lượng lao động cần phải được đào tạo hoặc tối thiểu cũng phải được tập huấn ngắn hạn về chuyên môn kỹ thuật và quản lý cho các ngành nghề: Chế biến lương thực, chế biến thực phẩm, thủy sản, cơ khí, may công nghiệp, điện, nước, ...

- Các DN cần có kế hoạch đào tạo, huấn luyện kỹ năng từ người công nhân đến các cấp nhân viên, cán bộ quản lý nhằm thích ứng và phù hợp theo trình độ công nghệ mới, kỹ thuật mới, quy trình công việc mới. Đối với các dự án đầu tư các nhà máy công nghiệp, trước mắt DN cần tổ chức cho đi đào tạo về chuyên môn trong và ngoài nước theo nhu cầu lao động của từng dự án.

- Gắn nhu cầu đào tạo nhân lực phục vụ cho các dự án, các doanh nghiệp với các trường Đại học, trường dạy nghề, các trung tâm đào tạo trong và ngoài tỉnh.

- Phối hợp với các Trung tâm dạy nghề cấp huyện tiếp tục thực hiện Chương trình dạy nghề cho thợ thủ công tại các phường, xã, thị trấn trong tỉnh. Chú trọng việc đào tạo thợ thủ công các ngành nghề mới.

- Thực hiện chương trình Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực giai đoạn 2006-2010 để nâng cao trình độ dân trí và chất lượng nguồn lao động của tỉnh đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá.



4. Phát triển thị trường.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô, đa dạng hóa các sản phẩm giử vững và phát triển thị trường trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập; xây dựng chiến lược về sản phẩm trong từng giai đoạn nhất định.

- Đẩy mạnh hoạt động trang Website ngành CN-TTCN để phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển CN-TTCN, giới thiệu các dự án kêu gọi đầu tư và các sản phẩm CN-TTCN trong tỉnh.

- Hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất CN-TTCN của tỉnh tham dự các kỳ hội chợ trong và ngoài nước nhằm quảng bá sản phẩm, thương hiệu và phát triển thị trường. Nâng cấp và phát triển khu, điểm mua bán, trưng bày, giới thiệu các sản phẩm CN-TTCN tại các khu du lịch, khu di tích, các khách sạn trong tỉnh; hình thành các tuyến du lịch gắn với làng nghề; khai thác triệt để lợi thế của các khu kinh tế cửa khẩu của tỉnh.

- Thông tin, dự báo thị trường thế giới để các doanh nghiệp hoạch định các chiến lược đầu tư và sản xuất của mình.

5. Tài chính, tín dụng.

Nhu cầu vốn đầu tư cho toàn ngành công nghiệp giai đoạn 2007-2010 dự kiến là 20.381 tỷ đồng (trong đó: Vốn doanh nghiệp: 5.049 tỷ đồng; vốn vay: 13.683 tỷ đồng; Vốn tích luỹ từ GDP 1.560 tỷ đồng; vốn ngân sách 90 tỷ đồng (chủ yếu hỗ trợ giải phóng mặt bằng cho các cụm CN-TTCN huyện, thị, thành). Do đó, để huy động vốn, tạo ra cơ sở kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, tạo ra môi trường thuận lợi để kích thích phát triển các ngành công nghiệp. Cụ thể:

- Tiếp tục rà soát, ban hành và thực hiện tốt các chính sách ưu đãi để thu hút các nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia vào việc đầu xây dựng các khu công nghiệp – TTCN và thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh.

- Các Chi nhánh Ngân hàng Thương mại cần cải tiến và đơn giản hóa thủ tục vay vốn; áp dụng rộng rải hình thức thuê mua thiết bị, thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay.

- Sớm hình thành Quỹ bảo lãnh vốn vay cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; Quỹ khuyến công.

- Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước để thu hút nguồn vốn nhàn rổi trong dân.

- Xây dựng Chương trình xúc tiến đầu tư với các đối tác trong và ngoài nước để kêu gọi đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, hoặc của các doanh nghiệp trong nước vào các công trình trọng điểm của tỉnh

- Huy động vốn để đầu tư phát triển công nghiệp hoặc xây dựng hạ tầng cơ sở dưới hình thức: BOT (xây dựng- kinh doanh- chuyển giao), BTO (xây dựng - chuyển giao- kinh doanh).

- Tranh thủ nguồn vốn khuyến công Quốc gia và các nguồn vốn khác của Trung ương và các chính sách tài trợ khác của các tổ chức nước ngoài.

6. Đẩy mạnh hoạt động khuyến công.

Phát huy thành quả và các bài học kinh nghiệm hoạt động khuyến công trong các năm qua, Sở Công nghiệp tiếp tục phối hợp các ngành chuyên môn tỉnh, UBND huyện, thị xã, thành phố đẩy nhanh hơn nữa việc thực hiện các nội dung hoạt động khuyến công, trong đó chú ý các công việc trọng tâm: hỗ trợ vốn, chuyển giao công nghệ, đào tạo chủ doanh nghiệp, giúp đỡ tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng kinh tế, phổ biến chính sách pháp luật để khuyến khích các DN, các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất CN-TTCN một cách đa dạng về hình thức, phong phú về ngành nghề, gắn với thị trường, với lợi ích của DN và Nhà nước, đặc biệt là khuyến khích các DN tích cực đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ tiên tiến hiện đại, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.



7. Phát triển công nghiệp nông thôn:

- Củng cố, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi để các HTX hiện có đi vào hoạt động ổn định phát triển. Sở Công nghiệp phối hợp UBND huyện, thị, thành và Liên minh hợp tác xã tiếp tục hướng dẫn thành lập mới các HTX.TTCN theo Luật HTX.

- Sở Khoa học- Công nghệ cùng Sở Công nghiệp có kế hoạch hướng dẫn, tạo điều kiện để các cơ sở, doanh nghiệp áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng mẫu mã, nâng cao giá trị thương mại trên thị trường.

-Thực hiện các Nghị định của Chính phủ: 134/2004/NĐ-CP ngày 09/6/2004 về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn và 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn.

- Củng cố, bảo tồn và phát triển các làng nghề, ngành nghề TTCN nông thôn.

+ Xây dựng chính sách hỗ trợ và đầu tư tạo động lực thúc đẩy các làng nghề phát triển.

+ Quy hoạch chi tiết cho từng làng nghề, gắn phát triển làng nghề với phát triển thương mại và du lịch.

- Phát triển các dịch vụ công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn.

+ Đẩy mạnh các hoạt động bảo hành, sửa chửa các thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

+ Phát triển các dịch vụ sấy, bảo quản, chế biến nông sản ở nông thôn.

+ Phát triển các mô hình cung ứng nguyên liệu vật tư, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề.

8. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.

- Phát triển các loại hình doanh nghiệp, mở rộng và tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế.

- Đổi mới tổ chức và phương hướng hoạt động của các doanh nghiệp theo hướng chủ động, tích cực.

- Tăng cường các hoạt động nghiên cứu thị trường.

- Hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững trong xu thế hội nhập.

- Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản trị doanh nghiệp.

- Nâng cao vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp: Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh, Câu lạc bộ doanh nghiệp, Hiệp hội nghề nuôi và chế biến thuỷ sản…

- Tổ chức và hỗ trợ các cơ sở, doanh nghiệp tham gia Hội chợ Công nghệ để các doanh nghiệp trong tỉnh có điều kiện tiếp cận và lựa chọn các công nghệ phù hợp để đầu tư sản xuất.



9. Đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật.

- Đầu tư cải tạo và phát triển mới lưới điện đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh; theo Quyết định số 3305/QĐ-BCN ngày 17/11/2006 của Bộ Công nghiệp v/v phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh An Giang giai đoạn 2006-2010 có xét đến 2015, nhằm đảm bảo đến năm 2010 sản lượng điện thương phẩm đạt 1,4 tỷ kWh.



- Phát triển hệ thống nước sạch gắn với quy hoạch hạ tầng cơ sở đô thị và nông thôn, quy hoạch các cụm tuyến dân cư, quy hoạch các khu, cụm CN-TTCN, quy hoạch phát triển các điểm, tuyến du lịch. Sản lượng nước đến năm 2010 đạt 50 triệu m3.

- Phát triển hệ thống giao thông đường bộ đáp ứng yêu cầu đầu tư và phát triển của các khu cụm CN-TTCN, các khu kinh tế cửa khẩu, của các doanh nghiệp trong tỉnh. Tranh thủ với Trung ương sớm đầu tư Cầu Vàm Cống-Long Xuyên, Cầu Tân An-Tân Châu, Cầu Long Bình-An Phú để rút ngắn khoảng cách giữa An Giang và các tỉnh trong khu vực kinh tế phía Nam.

- Nâng cấp Cảng Mỹ Thới và khai thác hiệu quả Cảng Bình Long đảm bảo phục vụ nhu cầu vận tải hàng hoá của các doanh nghiệp trong tỉnh.

PHẦN III

XÂY DỰNG, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC ĐỀ ÁN - DỰ ÁN
I. Thực hiện Chương trình xây dựng khu công nghiệp, cụm sản xuất TTCN tỉnh giai đoạn 2006-2010:

Tạo quỹ đất xây dựng hạ tầng, hoàn thành các khu CN đã được xác định và đầu tư hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp của tỉnh, các khu-cụm TTCN huyện, thị xã, thành phố để sớm giao mặt bằng cho nhà đầu tư.



II. Thực hiện Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp cơ khí tỉnh đến năm 2010 phục vụ Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

- Xây dựng và phát triển ngành cơ khí của tỉnh có khả năng đáp ứng về cơ bản các nhu cầu cần thiết cho sản xuất nông nghiệp. Tăng cường khả năng chế tạo và cung cấp thiết bị, phụ tùng và năng lực sửa chữa phục vụ cho chế biến nông, lâm, thuỷ sản, đời sống của nhân dân và các ngành kinh tế khác.

- Kêu gọi đầu tư sản xuất máy gặt lúa xếp dãy, máy gặt đập liên hợp công suất 1000 máy/năm.

- Đầu tư đổi mới thiết bị cơ khí toàn tỉnh.



III. Xây dựng đề án phát triển chế biến nông, thuỷ sản.

- Chế biến các loại nông, thủy, súc sản thành các sản phẩm hàng hóa tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, hạn chế hao hụt trong bảo quản, chế biến, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả cạnh tranh và hiệu quả kinh tế. Phấn đấu đến năm 2010 các sản phẩm nông nghiệp khi ra thị trường đều phải qua chế biến công nghiệp.

- Kêu gọi đầu tư lĩnh vực chế biến thuỷ sản (Dự kiến 10 nhà máy, công suất 5.000 tấn/năm/NM).

- Kêu gọi đầu tư sản xuất hàng giá trị gia tăng từ thuỷ sản (Dự kiến 3 nhà máy, công suất 3.000 tấn/năm/NM).

- Kêu gọi đầu tư các nhà máy chế biến rau quả đông lạnh (Dự kiến 2 nhà máy, công suất 5.000 tấn/năm/NM).

- Kêu gọi đầu tư các nhà máy chế biến nông sản (Dự kiến 2 nhà máy, công suất 33.000 tấn/năm/NM).

- Kêu gọi đầu tư lĩnh vực chế biến thức ăn thuỷ sản (Dự kiến 6 nhà máy, công suất 8.000 tấn/năm/NM).

- Kêu gọi đầu tư nhà máy chế biến tinh bột, bột dinh dưỡng, công suất 5.000 tấn/năm

- Kêu gọi đầu tư hệ thống si-lô tồn trữ nông sản, quy mô 60.000 tấn/năm.

- Kêu gọi đầu tư nhà máy chế biến dầu cá, công suất 1500 tấn/năm.

- Kêu gọi đầu tư nước khoáng Tri Tôn, công suất 15 triệu lít/năm.

- Kêu gọi đầu tư 02 nhà máy chế biến bột cá (công suất 10.000 tấn/năm/NM).



IV. Xây dựng đề án phát triển sản xuất vật liệu xây dựng.

- Khai thác, chế biến đạt hiệu quả cao nhất các loại tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là khoáng sản làm vật liệu xây dựng đang là thế mạnh của tỉnh, khai thác khoáng sản phải gắn chặt với việc bảo vệ môi trường sinh thái và cảnh quan du lịch. Phát triển sản xuất vật liệu xây dựng về số lượng, chủng loại, chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

- Kêu gọi đầu tư dây chuyền sản xuất gạch granite nhân tạo, công suất 1 triệu m2/năm.

- Kêu gọi đầu tư dây chuyền nghiền xi măng, công suất 500.000 tấn/năm.

- Kêu gọi đầu tư phát triển 50 dây chuyền lò nung gạch tunel, công suất 10 triệu viên/năm/HT.

- Kêu gọi đầu tư phát triển 100 lò nung gạch liên tục kiểu đứng, công suất 10.000 viên/ngày/HT.

- Kêu gọi đầu tư nhà máy sản xuất gốm đen, công suất 100.000 SP/năm.

V. Xây dựng đề án phát triển ngành may mặc, da giày.

Tập trung phát triển công nghiệp may mặc, da giày XK đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, giải quyết việc làm cho nhiều lao động.

- Kêu gọi đầu tư 12 Phân xưởng may XK, công suất 2 triệu SP/năm/PX.

- Kêu gọi đầu tư 8 Phân xưởng may giày XK, công suất 500.000 SP/năm/PX.



VI. Thực hiện Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp hóa chất tỉnh An Giang đến năm 2010 có xét đến năm 2020.

- Xây dựng ngành công nghiệp hoá chất đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp khác và phục vụ tiêu dùng của nhân dân. Góp phần tạo nên sự phát triển tương đối trong nội bộ ngành công nghiệp của tỉnh.

- Phát triển các sản phẩm hoá chất phục vụ sản xuất nông nghiệp.

- Sản xuất các sản phẩm hoá chất phục vụ công nghiệp.

- Phát triển các sản phẩm hoá chất phục vụ tiêu dùng.

VII. Xây dựng dự án nâng cao chất lượng nguồn lao động công nghiệp đến năm 2010.

- Nâng cao chất lượng nguồn lao động của tỉnh đáp ứng yêu cầu công nghiệp-hiện đại hoá.

- Gắn nhu cầu đào tạo nhân lực phục vụ cho các khu công nghiệp, các dự án, các doanh nghiệp với các trường Đại học, trường dạy nghề, các trung tâm đào tạo trong và ngoài tỉnh.

- Tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp.

- Phối hợp với các Trung tâm dạy nghề cấp huyện tiếp tục thực hiện và nâng cao Chương trình dạy nghề cho thợ thủ công tại các phường, xã, thị trấn trong tỉnh. Chú trọng việc đào tạo thợ thủ công các ngành nghề mới.

- Thực hiện xã hội hoá trong lĩnh vực đào tạo nghề.



VIII. Thực hiện Chương trình hỗ trợ và phát triển tài sản sở hữu trí tuệ tỉnh An Giang giai đoạn 2006-2010.

- Nâng cao nhận thức của các cơ sở và doanh nghiệp trong tỉnh về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để chủ động xây dựng khai thác, phát triển và bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ.

- Nâng cao khả năng cạnh tranh của các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp thông qua việc hỗ trợ xác lập, khai thác, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ của các cơ sở doanh nghiệp có sản phẩm chiến lược và tiềm năng xuất khẩu trong tỉnh.

IX. Thực hiện Chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tỉnh An Giang giai đoạn 2006-2010:

Đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ, ưu tiên ứng dụng, chuyển giao công nghệ thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch nông, thuỷ sản, công nghệ sạch hơn…; tạo sự chuyển biến về năng suất, chất lượng, hiệu quả trong hoạt động sản xuất; tăng hàm lượng khoa học và công nghệ trong các sản phẩm chủ lực của tỉnh; bước đầu hình thành thị trường khoa học công nghệ trong tỉnh.



X. Thực hiện Đề án khuyến công đặc biệt cho người dân tộc Khmer và Chăm giai đoạn 2006-2010.

- Khôi phục và phát triển các làng nghề, bảo tồn giá trị truyền thống nghề thủ công của người dân tộc Khmer và Chăm, để làng nghề truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, không bị mai một, chuyển dần phương thức sản xuất phân tán theo lối tự cung, tự cấp sang sản xuất có sự liên kết, hỗ trợ, tập trung.

- Triển khai các ngành nghề mới phù hợp với địa phương; sản xuất ra nhiều sản phẩm có giá trị, giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nhàn rổi, tăng thu nhập cho người dân, ổn định cuộc sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

XI. Xây dựng chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề:

Gìn giữ và phát triển giá trị truyền thống của các làng nghề; góp phần phát triển kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Khôi phục và phát triển các nghề TTCN, triển khai các nghề mới ở nông thôn. Thực hiện quy hoạch phát triển cho từng làng nghề chuyển dần từ sản xuất nhỏ lẽ, phân tán, sang sản xuất hàng hoá tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu. Gắn phát triển làng nghề với phát triển du lịch của tỉnh; gắn các tuyến du lịch-làng nghề của tỉnh với khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Có chính sách phát triển và thu hút nghệ nhân để phát triển ngành nghề TTCN và các làng nghề truyền thống trong tỉnh.


PHẦN IV

TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. Tổ chức điều hành kế hoạch.

- Ủy ban nhân dân tỉnh điều hành kế hoạch thông qua các chương trình, các đề án, các dự án.

- Sở Công nghiệp là đơn vị quản lý ngành chịu trách nhiệm phối hợp cùng các Sở, ban, ngành cấp tỉnh và UBND huyện, thị, thành tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch.

II. Phân công thực hiện.

1. Sở Công nghiệp:

- Tổ chức triển khai, tổng hợp báo cáo kết quả và tiến độ thực hiện kế hoạch phát triển công nghiệp – TTCN giai đoạn 2007 – 2010; xây dựng kế hoạch thực hiện hàng năm.

- Tham mưu cho UBND tỉnh trong việc ban hành các chính sách phát triển CN-TTCN.

- Thực hiện Chương trình xây dựng khu công nghiệp, cụm sản xuất TTCN tỉnh giai đoạn 2006-2010

- Thực hiện Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp cơ khí tỉnh An Giang đến năm 2010 phục vụ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

- Thực hiện Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp hóa chất tỉnh An Giang đến năm 2010 có xét đến năm 2020

- Thực hiện Chương trình khôi phục và phát triển làng nghề.

- Đẩy mạnh các hoạt động khuyến công.

- Thực hiện Đề án khuyến công đặc biệt cho người dân tộc Khmer và Chăm giai đoạn 2006-2010.

- Xây dựng dự án nâng cao chất lượng nguồn lao động công nghiệp đến năm 2010.

- Tổ chức hoạt động truyền nghề tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ truyền thống phục vụ phát triển nông thôn và phục vụ du lịch. Có kế hoạch phát triển và thu hút nghệ nhân để phát triển các ngành nghề TTCN, các làng nghề trong tỉnh.

- Xây dựng đề án phát triển chế biến nông, thuỷ sản.

- Xây dựng đề án phát triển ngành may mặc, da giày.

- Quản lý và điều hành kinh phí hoạt động theo kế hoạch kinh phí được UBND tỉnh phê duyệt.



2. Sở Kế hoạch và Đầu tư:

- Kêu gọi và thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp.

- Nghiên cứu đề xuất UBND tỉnh ban hành các chính sách để thúc đẩy phát triển CN-TTCN; ưu đãi đầu tư.

- Tạo điều kiện thuận lợi thực hiện Chương trình phát triển các khu-cụm CN-TTCN tỉnh An Giang giai đoạn 2006-2010.

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đăng ký đầu tư, đăng ký kinh doanh; hướng dẫn thực hiện cơ chế 1 của đối với các khu - cụm CN-TTCN.

3. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

- Xây dựng quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu đáp ứng cho nhu cầu phát triển ngành công nghiệp chế biến.

- Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đảm bảo giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng năng suất, chất lượng, tạo ra nhiều sản phẩm sạch cung cấp cho công nghiệp chế biến.

- Cùng Sở Công nghiệp thực hiện Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; xây dựng đề án quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn; Chương trình khôi phục và phát triển làng nghề; đề xuất chính sách mới để khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn.

- Phối hợp Ngành Công nghiệp thực hiện Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp cơ khí tỉnh An Giang đến năm 2010 phục vụ CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn; Đề án khai thác lợi thế mùa nước nổi giai đoạn 2006-2010. Trong đó, tập trung phát triển các ngành nghề TTCN khai thác lợi thế mùa nước nổi; Đề án phát triển hệ thống trạm bơm điện.

4. Sở Khoa học và Công nghệ:

- Thực hiện Chương trình hỗ trợ và phát triển tài sản sở hữu trí tuệ tỉnh An Giang giai đoạn 2006-2010

- Thực hiện Chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tỉnh An Giang giai đoạn 2006-2010.

- Khuyến khích, hỗ trợ cho các doanh nghiệp đăng ký quản lý chất lượng sản phẩm theo các tiêu chuẩn quốc tế, nhãn hiệu hàng hoá.

- Đề xuất các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trình Bộ Khoa học và Công nghệ.

5. Sở Thương mại:

- Triển khai Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển thị trường - Hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh đến năm 2010 (Ban hành kèm theo quyết định số 11/2006/QĐ-UBND ngày 03/3/2006 của UBND tỉnh An Giang)

- Cùng Ngành Công nghiệp thực hiện kế hoạch phát triển các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu giai đoạn 2006-2010; xây dựng đề án phát triển ngành may mặc, da giày.

- Đẩy mạnh các hoạt động TBT (hàng rào kỹ thuật trong thương mại) nhằm giúp cho các doanh nghiệp, cơ sở điều chỉnh hướng sản xuất kinh doanh cho phù hợp với từng quốc gia, vùng, lãnh thổ.

- Phối hợp với các ngành, các cấp có liên quan hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất thủ mỹ nghệ mở rộng hệ thống các điểm trưng bày giới thiệu sản phẩm tại các khu cụm điểm du lịch, các khu thương mại trong tỉnh.

6. Sở Du Lịch:

- Khảo sát và đánh giá, tổ chức hoạt động của các làng nghề vừa phục vụ sản xuất vừa phục vụ du lịch.



- Phối hợp với Sở Công nghiệp và các ngành, các cấp có liên quan xây dựng quy hoạch các làng nghề gắn với các tuyến du lịch. Gắn các tuyến du lịch, làng nghề của tỉnh với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

7. Ban Quản lý Khu Công nghiệp tỉnh: cùng Sở Công nghiệp thực hiện Chương trình xây dựng khu công nghiệp, cụm sản xuất TTCN tỉnh giai đoạn 2006-2010 và kêu gọi đầu tư.

8. Các sở, ban, ngành có liên quan và UBND huyện, thị, thành phố: căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng đơn vị và địa phương có trách nhiệm phối hợp với Sở Công nghiệp, Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Khoa học & Công nghệ, Sở Thương mại, Sở Du lịch, Ban Quản lý các Khu Công nghiệp tỉnh trong việc tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch này.

9. Các doanh nghiệp Nhà nước, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh, Hiệp hội Nghề nuôi và Chế biến Thủy sản: tổ chức và hướng dẫn các cơ sở Công nghiệp – TTCN trong tỉnh thực hiện xây dựng các dự án phát triển sản xuất trong giai đoạn 2007-2010./.

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

đã ký

Phạm Kim Yên



Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương