Phụng tự tại Việt Nam trong 50 năm qua (1960-2010)



tải về 125.3 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu05.08.2016
Kích125.3 Kb.
Phụng tự tại Việt Nam trong 50 năm qua (1960-2010)

Với Sắc chỉ Chư Huynh Đáng Kính (Venerabilium nostrorum) ngày 24 tháng 11 năm 1960, Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã chính thức thành lập hàng Giáo phẩm tại Việt Nam. Tính đến nay là 50 năm. Vì thế cũng là dịp để nhìn lại việc thực thi các giáo huấn của Công đồng chung Vaticanô II, trong đó có việc cử hành và sống phụng vụ tại Việt Nam, nhất là từ sau khi ban hành Hiến chế về Phụng vụ [1].


I. ĐỜI SỐNG PHỤNG TỰ TRƯỚC CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II


Trong thời gian trước Công đồng Vaticanô II, tức là trước năm 1962, năm khai mạc Công đồng, hay cho đúng hơn, trước khi Công đồng công bố Hiến chế về Phụng vụ Sacrosanctum Concilium, ngày 4 tháng 12 năm 1963, giáo dân tại Việt Nam cũng như toàn thể Giáo Hội trên thế giới, đã tham dự vào việc cử hành phụng vụ được thực hiện theo những sách phụng vụ và nghi lễ từ Công đồng Triđentinô (1545-1563): Tất cả phụng vụ được cử hành bằng tiếng Latinh; các thừa tác viên là linh mục, phó tế, phụ phó tế, và các chức nhỏ như thầy giúp lễ, đọc sách, trừ quỷ và giữ cửa. Ngoài ra còn có chức cắt tóc và các chú giúp lễ. Vai trò của ca đoàn được coi trọng và hát những bài thánh ca trong phụng vụ bằng tiếng Latinh và đôi khi là những bài thánh ca đa âm. Lời Chúa cũng được công bố bằng tiếng Latinh.

Giáo dân Việt Nam đi xem lễ, và cha thì làm lễ. Đó là những kiểu nói rất thông thường. Giáo dân đọc những phần kinh được soạn theo các lời giải thích theo nghĩa bóng về các nghi lễ vị linh mục làm hay đọc trên bàn thờ, như trước đây, khi linh mục làm 5 dấu thánh giá trong Thánh lễ, thì được hiểu là 5 dấu thương khó của Chúa. Giáo dân không đối đáp với chủ tế. Họ được đưa vào trong mầu nhiệm cử hành qua đức tin, qua bài giảng và các bài giáo lý về Thánh lễ và các bí tích.

Song song với các buổi cử hành phụng vụ, còn có những buổi cử hành các việc đạo đức bình dân rất thịnh hành và giáo dân tham dự cách sốt sắng: như lần hạt, ngắm đàng Thánh giá, giữ các ngày thứ năm, thứ sáu và thứ bảy đầu tháng, các cuộc rước kiệu, giữ các tháng hoa, tháng Mân Côi, ngắm thương khó, các tuần chín ngày, tam nhật, các phiên chầu lượt…

Các Giám mục cử hành lễ đại triều tại nhà thờ chánh tòa, hay khi đi thăm mục vụ các họ đạo, với những nghi lễ thật trang trọng và có tính cách huyền nhiệm.

Tất cả những điều này, những ai ngày nay sống vào thế hệ sáu mươi có thể nhận ra được cách rõ rệt sự khác biệt giữa việc cử hành phụng vụ trước và sau công cuộc canh tân phụng vụ này.

II. ĐỜI SỐNG PHỤNG TỰ SAU CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II


Ngày 4 tháng 12 năm 1963, văn kiện đầu tiên của Công đồng Vaticanô II được công bố là Hiến chế về Phụng vụ: “Sacrosanctum Concilium” (Thánh Công đồng). Với hiến chế này, Công đồng đã muốn đánh giá đúng mức việc cử hành phụng vụ, vì là “chóp đỉnh” mọi sinh hoạt của Giáo Hội và là “nguồn” mọi sức mạnh và ơn thánh cho Giáo Hội (x. PV 7). Hiến chế cũng nhấn mạnh tới việc tham gia tích cực của tín hữu vào buổi cử hành phụng vụ [1]. Lời Chúa cũng là một ưu tư lớn của Công đồng trong các buổi cử hành phụng vụ (x. PV 24). Từ đây, sinh hoạt phụng vụ trong Giáo Hội có những đổi thay.

Tại Việt Nam, luồng gió mới này cũng ảnh hưởng sâu xa vào trong đời sống đạo đức của các tín hữu. Năm 1968, Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam đã nhận định như sau trong bản báo cáo gởi cho Hội đồng Thực thi Hiến chế về Phụng vụ: “Công cuộc canh tân phụng vụ do Công đồng chung Vaticanô II quyết định đã được người công giáo miền Nam Việt Nam tiếp nhận với niềm vui mừng và nhiều hiệu quả. Việc áp dụng các chỉ thị liên hệ tới việc canh tân phụng vụ không gặp phải khó khăn cản trở nào. Trái lại, qua việc thay đổi một số nghi thức và nhất là nhờ việc đem tiếng Việt vào trong các buổi cử hành Thánh lễ và các bí tích, các tín hữu tham dự cách tích cực và ý thức…” [3].

Phụng vụ rất được chú trọng trong đường hướng chung của Giáo Hội địa phương, đặc biệt trong các cử hành và chầu Thánh Thể. Các tín hữu đến nhà thờ vào các Chúa nhật và lễ trọng chiếm khoảng 85%. Nhiều người tham dự các Thánh lễ ngày trong tuần. Các bí tích và đời sống cầu nguyện được xem như những phương tiện hiệu quả để canh tân đời sống, và mang lại sức mạnh nội tâm để nhiệt thành phục vụ Giáo Hội và xã hội [4].

Người công giáo Việt Nam rất hưởng ứng các truyền thống tông đồ của Giáo Hội, cách riêng trong phụng vụ. Nhìn chung, các cử hành phụng vụ nơi nhà thờ Chánh tòa và các giáo xứ được thực hiện với một lòng tôn kính đặc biệt.

Trong cộng đoàn các dòng tu, chủng viện và các nơi chuyên về đào tạo, các đền thánh và nhà tĩnh tâm, các cử hành phụng vụ được chuẩn bị cách chu đáo và được xem như trung tâm của các sinh hoạt hàng ngày.

Có thể nói rằng các cử hành phụng vụ trên khắp đất nước Việt Nam luôn dựa trên những chỉ dẫn trong các sách phụng vụ và quy tắc của Giáo Hội.

Việt Nam không có những vấn đề lớn về phụng vụ. Tuy nhiên, việc tham dự phụng vụ của giới trẻ có vài khó khăn. Các học sinh trung học phải học thêm nhiều môn, việc học thêm chiếm nhiều thời giờ (đây là vấn đề chung của nền giáo dục Việt Nam ngày nay), cho nên người trẻ công giáo ở độ tuổi này không thể tham dự Thánh lễ cách thường xuyên như khoảng mười năm trước đây.

- Cử hành ngày Chúa Nhật: Có nhiều sáng kiến giúp năng động các cử hành phụng vụ, đặc biệt là vào ngày Chúa Nhật. Nhiều nhà thờ ở thành phố phổ biến các tờ bướm ghi các văn bản Kinh Thánh và các bài suy niệm để giúp giáo dân có phương tiện học hỏi Lời Chúa và tham dự cách tích cực hơn vào các cử hành. Thông thường, các ca đoàn chuẩn bị tốt các bài hát thích hợp cho mỗi cử hành. Cộng đoàn phụng vụ thưa kinh rập ràng và sốt sắng, cách riêng trong lời đáp lại các ý nguyện của lời nguyện tín hữu. Nhiều nơi tổ chức dâng lễ với vũ điệu.

- Các sùng kính bình dân: những hình thức sùng kính bình dân phổ biến nhất là việc tôn kính Thánh Thể, Thánh Tâm, Lòng Chúa Thương xót. Mỗi giáo xứ có các đoàn thể như Thiếu nhi Thánh Thể, Legio Mariae, Dòng ba Đức Bà Núi Cát Minh, Dòng ba Phanxicô, Dòng ba Đaminh, Các Bà mẹ Công giáo, Gia đình Phạt tạ Thánh Tâm, Mến Thánh Giá Tại thế. Thành viên của các đoàn thể này đóng một vai trò quan trọng trong việc năng động các cử hành phụng vụ tại giáo xứ.

III. CÁC BẢN DỊCH PHỤNG VỤ


Năm 1968, Hội đồng Giám mục miền Nam Việt Nam đã xin Tòa Thánh một số năng quyền và một số điểm để thực thi ngay trước khi các sách phụng vụ và các nghi thức được Tòa Thánh tu chính và công bố. Chúng ta sẽ lần lượt nhìn lại sinh hoạt phụng vụ này.

1. Tiếng Việt


Với Sắc Lệnh (Decretum typicum) mang số @ [5] Prot. 787/64 ngày 15-6-1964, Tòa Thánh cho phép Hội đồng Giám mục miền Nam Việt Nam được dùng tiếng Việt và một số ngôn ngữ khác của các dân tộc ít người, trong các buổi cử hành phụng vụ theo như các chỉ thị của Hiến chế về phụng vụ và của Tòa Thánh [6]. Từ đây lần lượt các bản dịch sang tiếng Việt đã được thực hiện, theo như các sách phụng vụ Latinh được công bố cho toàn thể Giáo Hội.

a. Sách Lễ (Missale Romanum)


- Năm 1965, một số bản dịch tạm và hiện có đã được phép dùng ngay, trong khi chờ đợi các sách phụng vụ Latinh được tu chính và công bố theo chỉ thị của Công đồng Vaticanô II, như bản dịch “Các thư Thánh Phaolô và các Phúc âm” cho ngày Chúa Nhật, do nhà in Tân Định ấn hành; “Sách Lễ nhỏ” do linh mục P.A.X. và tủ sách Ra Khơi ấn hành; “Sách Lễ” do nhà xuất bản An-Phong ấn hành; “Sách Lễ” do nhà xuất bản Hiện Tại ấn hành [7].

- Ngày10-9-1965, Tòa Thánh đã cho phép dùng tiếng bản xứ trong các phần của Thánh lễ: các thánh ca riêng cho từng lễ nghi, các lời nguyện và các Kinh tiền tụng [8].

- Ngày 1-2-1968, Tòa Thánh chuẩn y bản tiếng Việt Các Lời nguyện chung ngày Thứ sáu Tuần thánh [9].

- Ngày 22-4-1971, Tòa Thánh chuẩn y bản dịch tiếng Việt Sách Lễ Rôma theo ấn mẫu Latinh thứ nhất, được tu chính sau Công đồng Vaticanô II [10].

- Ngày 7-4-1988, Tòa Thánh đã chuẩn y cho phép dùng tạm bản văn Thánh lễ tiếng Việt kính Thánh Anrê Dũng Lạc, linh mục, và các Bạn tử đạo [11].

- Ngày 3-11-1988, Tòa Thánh đã chuẩn y cho phép dùng tạm bản văn Thánh lễ tiếng Anh và tiếng Pháp, kính Thánh Anrê Dũng Lạc, linh mục, và các Bạn, tử đạo [12].

- Ngày 24-11-1999, Tòa Thánh đã chuẩn y bản văn Thánh lễ và Các bài đọc Sách Thánh dùng trong Năm Thánh 2000 [13].

Ngoài ra còn một số bản dịch tiếng Việt khác cũng được Tòa Thánh chuẩn y, như:

- Cho tỉnh Dòng Đaminh: cho dùng tạm bản dịch Việt Nam một vài phần của Nghi thức cử hành Thánh lễ, theo Nghi thức Dòng Đaminh [14].

- Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế: chuẩn y bản dịch tiếng Việt bản văn các lễ riêng của Dòng [15].

- Miền Việt Nam các Cha Lazarist và Nữ Tử Bác ái Thánh Vinh Sơn: chuẩn y bản dịch tiếng Việt bản văn các lễ riêng của Dòng [16].

Năm 1971, Ủy ban Phụng tự của Hội đồng Miền Nam Việt Nam đã cho in và phát hành 24.000 Sách lễ hằng ngày và 25.000 Sách lễ ngày Chúa Nhật; 10.000 cuốn Nghi thức cử hành Bí tích Thêm sức [17].


b. Nghi thức cử hành Thánh lễ (Ordo Missae)


- Ngày 1-2-1968, chuẩn y bản dịch tiếng Việt Lễ Quy Rôma (Canon Romanus) [18].

- Ngày 17-6-1968, chuẩn y bản dịch các Kinh tiền tụng mới [19].

- Ngày 30-7-1969, chuẩn y bản dịch Nghi thức cử hành Thánh lễ với Giáo dân [20].

- Ngày 7-1-1994, chuẩn y bản dịch tạm thời các Kinh Nguyện Thánh Thể dùng trong Thánh lễ cử hành với trẻ em, Thánh lễ Hòa giải, Thánh lễ cầu theo các nhu cầu khác nhau [21].

- Ngày 10-05-2005, chuẩn y bản dịch Nghi thức Thánh lễ [22].

c. Sách bài đọc trong Thánh lễ (Lectionarium Missae)


- Ngày 1-4-1970, Tòa Thánh chuẩn y bản dịch tiếng Việt Sách các Bài đọc trong Thánh lễ, Mùa chay và Mùa Phục Sinh. Sau đó là các phần khác của Sách Bài đọc trong Thánh lễ [23].

d. Các sách cử hành bí tích và á bí tích:


- Ngày 15-4-1964 và 27-2-1965, một số bản dịch tạm và hiện có đã được phép dùng ngay để cử hành các bí tích và á bí tích, trong khi chờ đợi các sách phụng vụ Latinh được tu chính và công bố theo chỉ thị của Công đồng chung Vaticanô II, như bản dịch của Hiện tại để cử hành bí tích Rửa tội, Hôn phối và nghi thức an táng; bản văn của Tòa Giám mục Vĩnh Long để cử hành bí tích thêm sức; bản văn của các Cha Dòng Chúa Cứu thế ấn hành để dùng khi nhắn nhủ và giảng trong Nghi thức Truyền chức [24].

- Ngày 15-5-1967, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức Thêm sức [25].

- Ngày 15-05-1967, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức cử hành bí tích hôn phối [26].

- Ngày 15-05-1967, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức làm phép dầu dự tòng, dầu bệnh nhân và dầu thánh [27].

- Ngày 15-05-1967, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức đón tiếp giám mục tại giáo xứ [28].

- Ngày 01-02-1968, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức xức dầu bệnh nhân và việc mục bệnh nhân [29].

- Ngày 31-1-1969, cho phép dùng tạm bản dịch tiếng Việt một số các chúc lành theo Sách Các Phép Roma [30].

- Ngày 30-07-1969, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức truyền chức phó tế và linh mục (ấn bản mẫu lần thứ nhất) [31].

- Ngày 30-07-1969, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức cử hành bí tích hôn phối [32].

- Ngày 1-4-1970, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức Bí tích rửa tội trẻ con [33].

- Ngày 21-11-1970, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức an táng [34].

- Ngày 11-1-1972, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức Thêm sức [35].

- Ngày 11-01-1972, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức làm phép dầu dự tòng và dầu bệnh nhân, và dầu thánh [36].

- Ngày 07-04-1972, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức thánh hiến các trinh nữ [37].

- Ngày 07-04-72, chuẩn y bản dịch Sách nghi thức khấn dòng [38].

- Ngày 10-07-1973, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức đặt thừa tác vụ đọc sách, giúp lễ; Nghi thức tiếp nhận vào hàng các ứng viên lên chức phó tế và linh mục; Nghi thức chấp nhận bậc độc thân [39].

- Ngày 13-3-1974, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức Khai Tâm Kitô giáo cho người lớn [40].

- Ngày 03-10-1974, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức về việc rước lễ và tôn sùng mầu nhiệm Thánh Thể ngoài Thánh lễ [41].

- Ngày 04-12-1974, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức Truyền chức giám mục (ấn bản lần thứ nhất) [42].

- Bản dịch Sách Nghi thức truyền chức giám mục, linh mục và phó tế (ấn bản mẫu lần thứ II) đã được Hội đồng Giám mục Nam Việt Nam cho phép dùng tạm, theo đặc ân của Tòa Thánh ban cho.

- Ngày 04-12-1974, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức xức dầu bệnh nhân và việc mục vụ bệnh nhân [43].

- Ngày 09-12-1982, chuẩn y bản dịch Sách Nghi thức đội triều thiên tượng Đức Mẹ [44].

- Ngày 11-12-1982, chuẩn y bản dịch Công thức giải tội cho từng cá nhân [45].

- Ngày 17-8-1983, chuẩn y bản dịch công thức giải tội cho nhiều người cùng lúc (giải tội tập thể) [46].

- Ngày 12-12-1985, theo đơn xin của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Tòa Thánh ban cho mọi linh mục và các thừa tác viên được ủy quyền cử hành Bí tích Rửa Tội đặc ân có thể theo công thức đơn sơ trong khi rửa tội cho người lớn. Đặc ân này có giá trị cho đến khi hoàn cảnh cho phép cử hành theo Nghi thức thông thường [47].

- Ngày 20-02-2008, chuẩn y bản dịch Nghi thức cử hành hôn nhân [48].


e. Các Giờ kinh Phụng vụ


- Ngày 15-4-1964 và 27-02-1965, Tòa Thánh đã cho phép các Tu sĩ Nam Nữ dùng tạm bản dịch: Kinh nhật tụng nhỏ kính Đức Trinh nữ Maria, do Nhà xuất bản Hiện tại và Mai-Lâm Đoàn Văn Thăng ấn hành [49].

- Ngày 28-11-1968, chuẩn y bản dịch các thánh vịnh trong cuốn sách “Đức Kitô Lời ca muôn thuở” của Cha An Sơn Vị (Huế 1966) [50].

- Ngày 07-04-1988, chuẩn y để dùng tạm bản dịch bản văn các giờ kinh phụng vụ kính Thánh Anrê Dũng Lạc, linh mục, và các Bạn tử đạo [51].

- Ngày 24-04-1988, chuẩn y để dùng tạm thời bản dịch tiếng Việt bản văn Phần chung Phụng vụ giờ kinh và Phần chung các thánh tử đạo [52] .


2. Tiếng Bahnar


Ngày 3-12-1968, Tòa Thánh chuẩn y bản dịch tiếng Bahnar các lễ Chúa Nhật và một số lễ khác, Nghi thức cử hành Thánh lễ (Ordinarium Missae) Lễ Quy Rôma (Canon Romanus) được dùng tại Giáo phận Kontum [53].

3. Tiếng Churu


Ngày 30-4-1966, Tòa Thánh chuẩn y bản dịch tiếng Churu Nghi thức cử hành Thánh lễ (Ordinarium Missae), nghi thức rảy nước thánh (ritus aspersionis aquae benedictae) và nghi thức ban phép lành của Giám mục (ritus benedictionis pontificalis) dùng tại Giáo phận Đà Lạt [54].

4. Tiếng K’Ho


Ngày 30-04-1966, Tòa Thánh chuẩn y bản dịch tiếng K’Ho Nghi thức cử hành Thánh lễ (Ordinarium Missae), nghi thức rảy nước thánh (ritus aspersionis aquae benedictae), nghi thức ban phép lành của Giám mục (ritus benedictionis pontificalis), Sách lễ Rôma các ngày Chúa Nhật và một số lễ, các ngày trong tuần Mùa Chay; Nghi thức an táng và Thánh lễ an táng, được dùng tại Giáo phận Đà Lạt [55].

Ngày 3-11-1966, Tòa Thánh phê chuẩn bản dịch tiếng K’Ho phần các lễ các Thánh (Commune Missarum Sanctorum) và nghi thức cử hành bí tích Thêm sức (ritus confirmationis), được dùng tại Giáo phận Đà Lạt [56].


5. Tiếng K’Ho-pom


Ngày 18-11-1971, Tòa Thánh phê chuẩn bản dịch tiếng K’Ho-pom Nghi thức cử hành Thánh lễ (Ordo Missae), được dùng trong Giáo phận Đà Lạt [57].

6. Tiếng Pháp


Ngày 15-6-1964 và 27-2-1965, Tòa Thánh cho phép dùng tiếng Pháp trong phụng vụ tại Việt Nam. Sách bài đọc: Lectionnaire Latin-francais; bản văn dùng cho các phần khác để cử hành Thánh lễ: Các bản văn đã được thẩm quyền hợp pháp của vùng nói tiếng Pháp chuẩn y [58].

7. Tiếng Anh


Ngày 15-6-1964 và ngày 27-2-1965, Tòa Thánh cho phép dùng tiếng Anh trong phụng vụ tại Việt Nam. Sách bài đọc: bản văn do “Confraternity of Christian Doctrine”; bản văn dùng cho các phần khác để cử hành Thánh lễ: Các bản văn đã được thẩm quyền hợp pháp của vùng nói tiếng Anh chuẩn y [59].

8. Tiếng Trung Hoa


Ngày 15-6-1964 và ngày 27-2-1965, Tòa Thánh cho phép dùng tiếng Trung Hoa trong phụng vụ tại Việt Nam. Bản văn dùng cho các phần khác để cử hành Thánh lễ: Các bản văn đã được thẩm quyền hợp pháp của vùng nói tiếng Pháp chuẩn y [60].

Cùng những ngày này, Tòa Thánh cũng cho phép dùng các sách để cử hành các bí tích và á bí tích bằng tiếng Anh, Pháp và Trung Hoa, trong đó cũng đã cho phép dùng bản dịch được các thẩm quyền liên hệ chuẩn y [61].


Một vài nhận xét


Cho tới năm 1973, hầu hết các sách phụng vụ tiếng Latinh (ấn bản mẫu) được tu chính sau Công đồng Vaticanô II đã được dịch sang tiếng Việt. Phải công nhận là bản dịch chưa hoàn hảo, vì nhiều lý do, như thiếu chuyên môn làm việc thường xuyên, thiếu thời giờ, rồi các khó khăn từ sau năm 1975. Nhưng các bản dịch này là những kết quả tích cực đã thực hiện tại Việt Nam.

Những cuốn chưa được dịch hoặc chưa được chuẩn y, như Ordo paenitentiae (1973) [62]; Ordo dedicationis ecclesiae et altaris (1978); Ordo Lectionum Missae, editito typica altera (1981); De Benedictionibus (1984); Caeremoniale Episcoporum (1984); Collectio Missarum de Beata Maria Virgine et Lectionarium pro Missis de Beata Maria Virgine (1986); De Exercismis et supplicationibus quibusdam (1999), Liturgia Horarum, Officium lectionis (các bài đọc Kinh thánh và các Giáo phụ).

Ngày nay, Hội đồng Giám mục đã cho tu chính lại dần dần các bản dịch trước đây, bắt đầu với Sách lễ Rôma (1992) và hiện thời đang xem xét lại bản văn này và sẽ cập nhật hóa theo Sách Lễ Rôma, ấn bản mẫu lần thứ III.

IV. VĂN BẢN PHỤNG VỤ TIẾNG VIỆT


Ngày 07-01-1994, Tòa Thánh đã chấp thuận tạm thời bản văn tiếng Việt Thánh lễ dịp Tất Niên và Tân Niên âm lịch (x. Sách Lễ tiếng Việt, năm 1992, trang 1037-1045); Thánh lễ Tết Trung Thu (nt., trang 1046-1047); và Lễ Các Thánh Tử đạo Việt Nam [63] (nt., trang 736-737).

Năm 1988, dịp phong thánh cho 117 vị Tử đạo tại Việt Nam, Tòa Thánh cũng đã phê chuẩn bản văn tạm thời Thánh lễ các Thánh Tử đạo [64].

Ngoài ra còn một số bản văn phụng vụ tiếng Việt khác cũng Tòa Thánh chấp thuận như: Tại Giáo phận Đà Nẵng, ngày 12-06-2000, có bản văn tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp Lời nguyện nhập lễ kính Chân Phước Anrê Phú Yên, tử đạo [65].

Trong kinh nguyện Thánh thể

Tòa Thánh cũng đã phê chuẩn việc thêm vào Kinh nguyện Thánh Thể lời cầu cho các người quá cố với công thức như sau: “… đặc biệt các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ, và thân bằng quyến thuộc chúng con…”.


V. CÁC THÍCH NGHI TRONG PHỤNG VỤ


Chúng ta thử điểm lại một số các điểm thích nghi trong Nghi lễ cử hành Thánh lễ mà thẩm quyền Giáo Hội tại Việt Nam đã quyết định.

1. Về lễ nghi:


Vào năm 1974, Ủy ban Giám mục về Phụng vụ, vào ngày 25-09-1974, đã ra thông cáo như sau [66]:

Ủy ban Giám mục về Phụng vụ xin trân trọng thông báo: Hội đồng Giám mục Việt Nam, trong phiên họp ngày 12-6-1974, tại Tu viện Phước Sơn, Thủ Đức, đã đồng ý cho các nơi thí nghiệm những điểm sau đây:



1) Có thể bái gối hoặc cúi mình.

2) Có thể sử dụng tiếng tôi, chúng tôi, hoặc chúng con.

3) Có thể xông hương như xưa nay, hoặc bỏ hương vào lư, hoặc đốt hương nén (nhang), và cắm vào bát hương.

Những gì Hội đồng Giám mục chưa cho phép (như cho rước lễ trong tay…) các nơi chưa được phép áp dụng”.

Vào năm 1992, Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ra thông cáo do Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm, Chủ tịch, ký tại Đà Lạt ngày 1-1-1992, với những thích nghi như sau:

- Ở số 4 qui định: Trong các Thánh lễ:

a) Dùng kiểu “cúi mình” thay cách “bái gối”.

b) Dùng chữ “con” thay chữ “tôi” trong các kinh, trừ trong kinh “Cáo mình” và kinh “Tin kính” (Sách lễ sau này, in sao thì đọc như vậy).

c) Có thể hoặc dùng “bình hương” hoặc “xông hương”, hoặc dùng “lư hương” và “dâng hương”.

d) Phụ nữ được đọc bài sách Thánh (trừ bài Phúc âm, là dành cho Phó tế hoặc Chủ tế, và đọc tại chỗ được chỉ định như nam giới. Cả hai phải mang y phục đoan trang, xứng đáng.

e) Có thể chỉ đọc hai bài sách Thánh, khi phải đọc 3 bài (nhưng luôn giữ bài Phúc âm). Và xướng: Trích Sách…hoặc Thư… Phúc âm hoặc Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo Thánh…

f) Về lời nguyện chung: trong khi chờ đợi Hội đồng Giám mục công bố một số bản mẫu mới, Hội đồng Giám mục xin mỗi Giáo phận cố gắng soạn thảo một bản mẫu để tạm dùng trong Giáo phận và để góp phần xây dựng các bản mẫu chung sau này cho tất cả các Giáo phận.

g) Trong việc ban bình an và biểu thị bình an, chủ tế và cộng đoàn Giáo Hội trao nhận bình an trong câu chúc: “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em”. Đ/. “Và ở cùng Cha”. Và không làm cử chỉ khác. Còn sau câu “Anh (chị) em hãy chúc bình an cho nhau”, nói với cộng đoàn hiện diện, thì:

+ Chủ tế ban hoặc trao hôn bình an cho mấy vị đồng tế đứng gần (và cho phó tế) bằng kiểu áp má một lần và nói: “Bình an của Chúa ở cùng cha (thầy)”; “Và ở cùng cha”.

+ Các vị đồng tế khác cũng làm như vậy cho nhau.

+ Giáo dân quay vào và cúi chào nhau để biểu thị bình an và bác ái.

- Ở số 6 qui định: “Hội đồng Giám mục sẽ chỉ thị về các bài hát, đặc biệt các bài ca nhập lễ, dâng lễ, hiệp lễ, Kinh Lạy Cha trong các Thánh lễ cũng như về cung hát của Chủ tế và các thừa tác viên”.

Theo hai Thông cáo này, chúng ta đã nhận ra được một số điểm thích nghi đem vào trong Nghi thức cử hành Thánh lễ, theo văn hóa và truyền thống Việt Nam.

2. Những thích nghi có tính sâu rộng hơn


Về vấn đề thích nghi phụng vụ có tính cách sâu rộng hơn, thì Hội đồng Giám mục Việt Nam đã có nhiều chỉ thị dè dặt hơn vì nhiều lý do. Ở đây, chúng ta thử đọc lại hai tài liệu của Hội đồng Giám mục Việt Nam trong quá khứ về vấn đề này.

Trong một bản báo cáo cho Bộ Phụng tự về sinh hoạt phụng vụ sau buổi họp của Hội đồng Giám mục Việt Nam từ ngày 05-12/01/1972, có đoạn viết về Một số cử chỉ phụng vụ như sau:

Giáo Hội không loại bỏ những gì là chân thật trong các tôn giáo địa phương, cả trong phạm vi phụng vụ. Theo nguyên tắc này và nhân danh HĐGMVN, Ủy ban Giám mục về Phụng vụ, trong thông cáo số 02/71, đề ngày 11-01-1971 [67], đã cho thực hiện một cuộc trưng cầu dân ý để biết rộng rãi hết sức có thể ý kiến của các linh mục và giáo dân về việc thay thế các cử điệu hiện thời trong phụng vụ bằng những cử điệu khác, mà theo ý kiến và trong thực tế, có thể được coi là phù hợp hơn với các tập tục và thói quen Việt Nam, như cử điệu bái gối được thay thế bằng cử điệu cúi mình sâu, bỏ hôn bàn thờ và Sách lễ, và thế lại bằng cách xá, thay thế giang tay bằng cử điệu chắp tay, ... Trong toàn thể, thì phần đông các câu trả lời (4500 câu trả lời tất cả) không đồng ý việc thay đổi nhanh chóng… Theo một số các thành viên khác, còn phải suy nghĩ thêm nữa, trong lúc các tôn giáo địa phương khác đang bắt chước các cử điệu của chúng ta và trong khi đà tiến hóa của xứ sở đi về việc hiện đại hóa được thực hiện nhanh hơn là chúng ta ngờ được. Đàng khác, một cuộc tổng hợp giữa Tây và Đông còn là một điều đáng mong chờ tại Việt Nam; hơn nữa, có chắc là các cử chỉ ngày nay được coi là thích hợp với phong tục và thói quen Việt Nam có thể diễn tả thích hợp đức tin Kitô giáo của chúng ta cách đặc biệt không? Sau cuộc thảo luận, Đại Hội đã quyết định không thay đổi gì trong lúc này về những cử điệu đang dùng và tiếp tục theo đuổi cuộc nghiên cứu tìm tòi phát khởi từ nhiều năm nay, với lưu ý một đàng về ý nghĩa sâu xa của các nghi thức phụng vụ của chúng ta, và đàng khác về ý nghĩa và giá trị tôn giáo của các cử chỉ và tập tục của xứ sở”. [68]

Ngày 19-10-1992, trong Thư mục vụ, Hội đồng Giám mục đã viết về vấn đề Hội nhập văn hóa trong phạm vi phụng vụ, trong mục số 9, với tựa đề Xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin có bản sắc dân tộc hơn:

Ngay từ đầu, cha ông chúng ta đã biết vận dụng những cái hay trong kho tàng văn hóa dân tộc để diễn tả đức tin, diễn tả tương quan của mình với Thiên Chúa: từ âm nhạc, kiến trúc, lễ nghi đến cách tổ chức gia đình, làng xóm xứ đạo. Ngày nay, giao lưu giữa các dân tộc đang làm cho các nền văn hóa ngày càng xích gần nhau và dễ dàng tiếp nhận nhau.

Đi tìm sắc thái văn hóa dân tộc không có nghĩa đơn thuần lấy lại những cái cổ xưa, nhưng làm sao cho tính cách dân tộc được diễn tả trong lời kinh tiếng hát, trong cử hành phụng vụ, trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong suy tư và ngôn ngữ thần học. Công việc này cũng phải được thực hiện trong các dân tộc ít người nữa, sao cho các dân tộc đều giữa được bản sắc của mình trong Hội Thánh.

Đây là một việc lớn, cần sự đóng góp của nhiều lãnh vực chuyên môn và phải theo sự chỉ đạo chung để tránh những tùy tiện”.

Trong những năm gần đây đã có những cuộc tọa đàm về vấn đề thờ kính tổ tiên; cuộc tọa đàm về một số vấn đề văn hóa công giáo Việt Nam; những bài viết về hội nhập văn hóa trong việc rao giảng Tin Mừng tại Việt Nam. Chúng ta mong rằng những cuộc bàn luận này sẽ giúp ích nhiều cho vấn đề hội nhập văn hóa trong phụng vụ.

Ngoài ra Hội đồng Giám mục cũng cần xác định một số điểm mà Giáo luật đã dành cho các Hội đồng Giám mục xác định rõ hơn cho vùng của mình, như khoản luật 851 & 2 về định chế liên hệ đến việc cử hành bí tích rửa tội; khoản 891 về tuổi lãnh nhận bí tích thêm sức…

3. Những thí nghiệm về nghi thức cử hành Thánh lễ


Vào thời kỳ sau Công đồng Vaticanô II, tại Việt Nam đã có những thí nghiệm để thích nghi các buổi cử hành Thánh lễ theo sắc thái Việt Nam, như ở dòng Biển Đức Thiên An ở Huế, hoặc tại Trung Tâm Đắc Lộ Sài Gòn, buổi cử hành Thánh lễ theo sắc thái dân tộc tại nhà thờ Tân Chí Linh Sài Gòn vào ngày 08-09-1974 [69]. Buổi cử hành thí nghiệm này đã gây nhiều hào hứng, cũng như các phản ứng thuận lợi, không thuận lợi thời đó [70].

4. Lịch phụng vụ và những thích nghi riêng cho Việt Nam


- Năm 1969, Tòa Thánh đã chuẩn ý một số cử hành riêng như sau:

Lễ trọng kính thánh Phanxicô Xaviê, Quan thầy các xứ truyền giáo được mừng vào ngày Chúa nhật liền trước lễ Chúa Kitô là Vua vũ trụ, vì Chúa nhật thứ nhất trong tháng 12 luôn là Mùa Vọng.

Đồng thời cũng cho phép Lễ trọng Đức Mẹ Vô Nhiễm được cử hành vào Chúa nhật thứ II Mùa Vọng, vì ngày 8 tháng 12 luôn là ngày làm việc [71].

- Ngày 03-06-1988, cho phép đưa lễ thánh Anrê Dũng Lạc, linh mục và các bạn tử đạo, vào lịch riêng Việt Nam và được mừng với bậc lễ nhớ bắt buộc [72].

- Năm 1990, theo đơn xin của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cho phép đem vào lịch chung của Giáo Hội lễ thánh Anrê Dũng Lạc, linh mục, và các bạn tử đạo, mừng vào ngày 24 tháng 11, với bậc lễ nhớ [73].

Về lịch phụng vụ riêng cho Việt Nam, được Tòa Thánh chuẩn y, thì chưa có, tuy nhiên đã có những quyết định của Hội đồng Giám mục Việt Nam, năm 1992, về việc cử hành một số lễ như sau:

01-10: Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, trinh nữ và tiến sĩ Hội thánh, lễ kính

07-10: Lễ Đức Mẹ Mân Côi, Lễ kính

24-11: Thánh Anrê Dũng Lạc, và các bạn tử đạo, Lễ kính

03-12: Thánh Phanxicô Xaviê, linh mục, Lễ kính



Các ngày cầu mùa (De rogationibus) được chỉ định như sau:

Ngày cầu cho Tổ quốc.

Mồng một Tết Nguyên Đán: cầu bình an cho Năm Mới.

Mồng hai Tết Nguyên Đán: cầu cho Tổ Tiên.

Mồng ba Tết Nguyên Đán: cầu cho công việc làm ăn.

Tết Thiếu nhi.

Các ngày sám hối: thứ sáu trong năm và mùa chay (Giáo luật 1250).

Thứ tư Lễ Tro: Vì theo chu kỳ hai hoặc ba năm thứ tư Lễ Tro thường trùng với các ngày Tết nguyên đán tại Việt Nam, nên Hội đồng Giám mục Việt Nam đã xin Toà Thánh để có thể dịch nghi lễ làm phép Tro và xức Tro, cũng như ngày ăn chay vào thứ sáu, hoặc thứ bảy sau Lễ Tro. Ngày 26-11-1998, Bộ Phụng tự đã đồng ý cho Hội đồng Giám mục Việt Nam được cử hành lễ làm phép và xức Tro vào thứ sáu, hoặc thứ bảy sau Lễ tro, cũng như việc ăn chay kiêng thịt vào hai ngày trên [74].


5. Lịch riêng các Giáo phận


Lịch riêng của Giáo phận Vinh và đây là Giáo phận duy nhất tại Việt Nam đã có lịch riêng cho giáo phận được Toà Thánh chuẩn y. Ngày 01-08-1980 [75], Toà Thánh chuẩn y lịch riêng cho Giáo phận Vinh, gồm các lễ sau đây:

18-2: Thánh Phêrô Khanh, linh mục tử đạo, lễ nhớ,

3-3: Cung hiến nhà thờ chánh toà Vinh, tại nhà thờ chánh toà, lễ trọng; tại các nhà thờ khác trong Giáo phận, lễ kính;

15-8: Đức Mẹ hồn và xác lên trời, Quan thầy Giáo phận, lễ trọng;

24-11: Thánh Phêrô Borie, giám mục tử đạo, Thánh Vinh Sơn Điểm và Phêrô Khoa, linh mục tử đạo, lễ nhớ.

Như các yếu tố vừa được ghi lại trên đây, vấn đề lịch chung cho toàn thể Giáo Hội tại Việt Nam cần được xét lại và soạn một lịch mới. Vì có những lịch được soạn ra trước khi Đức Giáo Hoàng Phaolô VI công bố Tự sắc về Các nguyên tắc tổng quát về Năm phụng vụ và lịch chung Rôma, cũng như Huấn dụ về Lịch riêng ban hành năm 1972.


6. Lễ Thánh Quan Thầy


Ngày 14-12-1990, theo đơn xin của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Toà Thánh đã chấp nhận việc chọn thánh Anrê Dũng Lạc, linh mục, và các Bạn tử đạo, làm quan thầy toàn thể Giáo Hội tại Việt Nam [76].

7. Các phép đặc biệt


Ngày 11-8-1994, theo đơn xin của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Toà Thánh đã cho phép được cho rước lễ trên tay [77].

Theo đơn xin của Cáo thỉnh viên vụ Phong thánh cho các Chân phước Tử đạo Việt Nam, Toà Thánh đã cho phép Giáo Hội tại Việt Nam và các cộng đồng công giáo Việt Nam hải ngoại được mừng kính các thánh mới trong vòng một năm kể từ ngày phong thánh [78].

Theo đơn xin của Cáo thỉnh viên vụ Phong Chân Phước cho vị Tôi tớ Chúa Anrê Phú Yên, tử đạo, Toà thánh đã cho phép Giáo phận Đà Nẵng, các cộng đoàn công giáo Việt Nam trong nước và hải ngoại được mừng kính Chân phước mới trong vòng một năm kể từ ngày phong Chân Phước [79].

VI. HUẤN LUYỆN PHỤNG VỤ


Việc huấn luyện phụng vụ là điểm Hiến chế về Phụng vụ nói tới và nhấn mạnh nhiều (x. PV,15-19). Tại Việt Nam ý thức về sự cần thiết của việc huấn luyện này cũng được nêu ra rõ ràng [80]. Môn phụng vụ đã được giảng dạy tại các chủng viện và dòng tu. Tuy nhiên số giáo sư chuyên môn chưa có nhiều, và ít người được gởi đi học chuyên môn về phụng vụ tại các Học viện chuyên về phụng vụ, nhất là từ năm 1975 đến 1994. Việt Nam chưa có các trung tâm cấp quốc gia hay miền dành riêng để huấn luyện phụng vụ. Các khóa bồi dưỡng về phụng vụ cũng ít được tổ chức. Hiện tại, một số Giáo phận tổ chức các khóa huấn luyện cho các thành phần dân Chúa; phụng vụ luôn được kể là một môn học trong chương trình huấn luyện.

Báo chuyên về phụng vụ không có. Báo Phụng Vụ phát hành số 1, tháng 12 năm 1970, xuất bản 2 tháng một lần. Cho tới tháng 10 năm 1971, đã cho xuất bản được 6 số và con số độc giả là 3000. Từ năm 1975 báo này không còn xuất bản nữa. Báo Linh mục Nguyệt san (Sacerdos), báo Nhà Chúa cũng không còn.


VII. ỦY BAN PHỤNG TỰ


Ngày 24-1-1968, Ủy ban Phụng tự của Hội đồng Giám mục Việt Nam đã được chính thức thành lập. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh và chính trị, Ủy ban đã không thể làm được gì nhiều ở cấp quốc gia. Ủy ban này hoạt động tích cực cho việc dịch thuật các Sách phụng vụ sang tiếng Việt, giúp Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam và các Giám mục trong các vấn đề phụng vụ. Ủy ban cũng cho xuất bản một nguyệt san mang tên Phụng Vụ. Ủy ban này tiếp tục hoạt động trong suốt thời gian từ năm 1975 tới nay, với các vị Chủ tịch Ủy ban: Đức Cha Giuse Phạm Văn Thiên, Giám mục Phú Cường; Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần, Giám mục Phó Long Xuyên; Đức Cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm, Giám mục Đà Lạt; Đức Cha Emmanuel Lê Phong Thuận, Giám mục Cần Thơ; Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám mục Giáo phận Thành Phố Hồ Chí Minh; Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ, Giám mục Phú Cường. Trong cuộc họp đại Hội thường niên tháng 10-2000, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã chấp thuận Bản quy chế của Ủy ban này. Hiện nay, Ủy ban dành đa số thời gian cho việc dịch thuật các sách phụng vụ.

Khoảng hơn mười năm gần đây, mỗi Giáo phận có ủy ban phụng tự, hoặc ít nữa là có một linh mục đặc trách về lãnh vực này.


VIII. HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC


Ngay từ sau khi ban hành Hiến chế Phụng vụ, Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam đã có những sáng kiến để thực hiện việc canh tân phụng vụ tại Việt Nam theo như chỉ thị của Công đồng Vaticanô II và các văn kiện của Tòa Thánh được công bố sau đó.

Các bản dịch Tiếng Việt được ghi lại trên đây là một minh chứng cho hoạt động tích cực của Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam và từ 1980 của Hội đồng Giám mục của tất cả Việt Nam trong lãnh vực phụng vụ, trong việc canh tân phụng vụ theo Công đồng Vaticanô II.

Ngoài ra còn có các thư nói về việc canh tân phụng vụ đã được công bố, thư ngày 01-08-1964, ngày 01-04-1965, ngày 27-09-1965, và thư chung ngày 19-10-1992. Một số bản tường trình hằng năm cho Tòa Thánh về việc thực thi công cuộc canh tân phụng vụ cũng là những hoạt động tích cực của Hội đồng Giám mục Việt Nam: bản báo cáo cho Bộ Phụng tự về sinh hoạt phụng vụ sau cuộc họp của Hội đồng Giám mục Việt Nam từ ngày 05-12/01/1972 [81]. Chúng ta đọc lại hai bản tường trình của Hội đồng Giám mục gởi sang Tòa Thánh [82]. Các bản tường trình này cho thấy các điểm chính sau đây:

- Xác định các phần phụng vụ được dùng tiếng Việt, tiếng Anh, Pháp, Trung Hoa, một số tiếng của các Dân tộc thiểu số;

- việc đồng tế được áp dụng ngay;

- thiết lập Ủy ban Giám mục về Phụng vụ;

- sự hứng khởi của tín hữu Việt Nam tiếp nhận việc canh tân phụng vụ, tham gia với sự tích cực và ý thức; các linh mục mau mắn thi hành các chỉ thị có liên hệ đến việc này.

- Các điểm tiêu cực được ghi nhận như sau: chưa áp dụng đồng đều các chỉ thị về việc canh tân phụng vụ, từ đó giáo hữu có hoang mang và bị lạc lõng;

- tín hữu chưa hiểu rõ các ý nghĩa thay đổi trong phụng vụ;

- trong một số cộng đoàn dòng tu, các bản văn phụng vụ chính thức do Hội đồng Giám mục chấp thuận và được Tòa Thánh chuẩn y đã không được sử dụng, đôi khi còn tự ý thay đổi.


IX. KẾT LUẬN


Nhìn lại 50 năm sinh hoạt phụng vụ tại Việt Nam, hay áp dụng công cuộc canh tân phụng vụ của Công đồng Vaticanô II, chúng ta nhận thấy một số điểm sau đây:

- Việt Nam đã rất hứng khởi tiếp nhận công cuộc canh tân này.

- Hội đồng Giám mục đã cố gắng đáp ứng cho công cuộc canh tân này qua việc dịch thuật, cổ võ cử hành phụng vụ xứng đang với việc tham gia tích cực và ý thức.

- Về dịch thuật, chắc chắn phải dịch các phần, các sách phụng vụ còn thiếu. Cũng còn cần hoàn thiện các bản dịch với các từ thần học phụng vụ dần dần được xác định, hợp với nhu cầu phụng vụ.

- Các sách phụng vụ thường có những khoản thích nghi dành cho Hội đồng Giám mục. Những khoản này cần được nghiên cứu cùng với việc hội nhập văn hóa.

- Việc huấn luyện phụng vụ cần được lưu tâm nhiều hơn.

- Giúp dân chúng hiểu được mối liên hệ giữa phụng vụ và lòng đạo đức bình dân.

Phụng vụ là “tột đỉnh và nguồn suối ơn thánh” như Công đồng Vaticanô II nói (x. PV 10); hoặc như nước giếng trong lành mà mọi người tới kín múc để được sống (kiểu nói đơn sơ của Chân phước Giáo Hoàng Gioan 23). Giáo Hội tại Việt Nam đã cố gắng làm cho việc cử hành phụng vụ đạt tới chóp đỉnh này và trở nên nguồn ơn cho các tín hữu. Các nỗ lực đóng góp của mọi người thật cần thiết để cổ võ một nền phụng vụ thánh và tôn thờ xứng đáng dâng lên Thiên Chúa, cũng như đem lại ơn cứu độ cho mọi người.

-----------------------------------------------------------------------------------

[1] Sacrosanctum Concilium, 4-12-1963, từ đây được viết tắt là PV.

[2] x. PV 14 và các chỗ khác.

[3] Bản Tường trình của Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam gởi Tòa Thánh, x. Notitiae 4 (1968), 265-266.

[4] x. Thư mục vụ của HĐGMVN, năm 2001, số 21.

[5] @ là ký hiệu để chỉ các bản dịch tiếng Việt của các sách phụng vụ trước Công đồng Vaticanô II. Tòa Thánh chuẩn y cho phép dùng tạm cho tới khi các sách phụng vụ được tu chính theo các chỉ thị của Công đồng Vaticanô II và được dịch sang tiếng bản xứ.

[6] x. Notitiae 1 (1965), 52-53.

[7] Các sắc lệnh số @ Prot. 787/64, ngày 15-4-1964 và @ Prot. 787/65, ngày 27-2-1965, Notitiae 1 (1965) 52-53.

[8] @ Prot. 3436/65, Notitiae 1 (1965) 324-325.

[9] Sắc lệnh số @ Prot. A. 54/68, x. Notitiae 4 (1968) 92.

[10] Sắc lệnh số Prot. 953/71, x. Notitiae 7 (1971) 257.

[11] Sắc lệnh số Prot. CD 269/88, x. Notitiae 24 (1988) 327.

[12] Sắc lệnh số Prot. CD 1413/88, Notitiae 24 (1988) 874.

[13] Sắc lệnh số Prot. 2673/99/L, x. Notitiae 35 (2000).

[14] Sắc lệnh số @ Prot. 2863/65, ngày 16-6-1965, x. Notitiae 1 (1965) 201.

[15] Sắc lệnh số @ Prot. A. 369/67, ngày 12-06-1967 và Prot. n. 436/67, ngày 24-06-1967, x. Notitiae 3 (1967) 334.

[16] Sắc lệnh số @ Prot. A. 191/69, ngày 31-01-1969, x. Notitiae 5 (1969) 73.

[17] Bản báo cáo của Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam gởi Tòa Thánh, năm 1972, x. Notitiae 8 (1972) 72-75.

[18] Sắc lệnh số @ Prot. A. 54/68, x. Notitiae 4 (1968) 92.

[19] Sắc lệnh số @ Prot. A. 204/68, x. Notitiae 4 (1968) 230.

[20] Sắc lệnh số Prot. 884/69, x. Notitiae 5 (1969) 357.

[21] Sắc lệnh số Prot. 2446/93/L, x. Notitiae 30 (1994) 324.

[22] Sắc lệnh số Prot. 2228/03/L.

[23] Sắc lệnh số Prot. 1519/70, x. Notitiae 7 (1970) 269.

[24] Các sắc lệnh @ Prot. 787/64 và Prot. 787/65, x. Notitiae 1 (1965) 52-53.

[25] Sắc lệnh số @ Prot. A. 344/67, x. Notitiae 3 (1967) 215.

[26] Sắc lệnh số @ Prot. A. 344/67, x. Notitiae 3 (1967) 215.

[27] Sắc lệnh số @ Prot. A. 344/67, x. Notitiae 3 (1967) 215.

[28] Sắc lệnh số @ Prot. A. 344/67, x. Notitiae 3 (1967) 215.

[29] Sắc lệnh số @ Prot. A. 54/68, x. Notitiae 4 (1968) 92.

[30] Sắc lệnh số @ Prot. A. 109/69, x. Notitiae (1969) 70.

[31] Sắc lệnh số Prot. 884/69, x. Notitiae 5 (1969) 357.

[32] Sắc lệnh số Prot. 884/69, x. Notitiae 5 (1969) 357.

[33] Sắc lệnh số Prot. 1519/70, x. Notitiae 6 (1970) 269.

[34] Sắc lệnh số Prot. 3659/70, x. Notitiae 7 (1971) 56.

[35] Sắc lệnh số Prot. 2190/71, x. Notitiae 8 (1972) 111.

[36] Sắc lệnh số Prot. 2190/71, x. Notitiae 8 (1972) 111.

[37] Sắc lệnh số Prot. 506/72, x. Notitiae 8 (1972) 141.

[38] Sắc lệnhh số Prot. 506/72, x. Notitiae 8 (1972) 141.

[39] Sắc lệnh số Prot. 677/73, x. Notitiae 9 (1973) 254.

[40] Sắc lệnh số Prot. 676/73, x. Notitiae 10 (1974) 234.

[41] Sắc lệnh số Prot. 2153/74, x. Notitiae 10 (1974) 400.

[42] Sắc lệnh số Prot. 116/74, x. Notitiae 11 (1975) 105.

[43] Sắc lệnh số Prot. 117/74, x. Notitiae 11 (1975) 105.

[44] Sắc lệnh số Prot. CD 1192/82, x. Notitiae 19 (1983) 19.

[45] Sắc lệnh số Prot. 1133/82, x. Notitiae 19 (1983) 19.

[46] Sắc lệnh số Prot. CD 306/83, x. Notitiae 19 (1983) 563.

[47] Sắc lệnh số Prot. CD 1599/85, x. Notitiae 22 (1986) 10.

[48] Sắc lệnh số Prot. 1407/06/L.

[49] Các Sắc lệnh số @ Prot. 787/64, và Prot. 787/65, x. Notitiae 1 (1965) 52-53.

[50] Sắc lệnh số @ Prot. A. 413/68.

[51] Sắc lệnh số Prot. CD 269/88, x. Notitiae 24 (1988) 394.

[52] Sắc lệnh số Prot. CD 5879/88, x. Notitiae 24 (1988) 394.

[53] Sắc lệnh số Prot. A. 418/68.

[54] Sắc lệnh số Prot. 1226/66.

[55] Sắc lệnh số Prot. 1226/66.

[56] Sắc lệnh số Prot. 2811/66.

[57] Sắc lệnh số Prot. 97/71.

[58] Sắc lệnh số Prot. 787/64 và và số Prot. 787/65, x. Notitiae 1 (1965) 52-53.

[59] Các sắc lệnh số Prot. 787/64 và Prot. 787/65, x. Notitiae 1 (1965) 52-53.

[60] Các sắc lệnh số Prot. 787/64 và Prot. 787/65, x. Notitiae 1 (1965) 52-53.

[61] x. Notitiae 1 (1965) 52-53.

[62] Về Ordo paenitentiae, chúng ta mới thấy có bản dịch hai công thức tha tội cho từng cá nhân và tha tội tập thể như chúng ta thấy trên đây. Toàn bộ cuốn Ordo paenitentiae chưa được dịch ra tiếng Việt.

[63] Sắc lệnh số Prot. 2444/93/L.

[64] Sắc lệnh số Prot. CD 269/88, ngày 07-04-1988. Bản văn tiếng Latinh Thánh lễ này đã được đưa vào trong Sách Lễ Rôma tiếng Latinh.

[65] Sắc lệnh số Prot. 399/00/L.

[66] GM. GIUSE PHẠM VĂN THIÊN, «Thông cáo số 06/74 của Ủy ban Giám mục về Phụng vụ», trong Phụng Vụ 24 (1974) 7.

[67] GM. GIUSE PHẠM VĂN THIÊN, «Thông cáo số 02/71 của Ủy ban Giám mục về Phụng vụ», trong Phụng Vụ 2 (1971), 30-32. Những vấn đề này đã được đưa ra thảo luận trong phiên họp Ủy ban Phụng vụ và Truyền thông Xã hội cấp toàn quốc ngày 5-4-1971, tại Trung tâm Công giáo Việt Nam: x. Phụng Vụ 3 (1971) 38-42.

[68] X. Notitiae 9 (1973) 73.

[69] GM. PHAOLÔ NGUYỄN VĂN BÌNH, «Ban phép cho thí nghiệm một lần Thánh lễ và Thánh ca độc đáo Việt Nam tại Nhà thờ Tân Chí Linh», trong Phụng Vụ 24 (1974) 8-9.

[70] NGƯỜI DỰ LỄ, «Nhận định về cuộc trình diễn Thánh lễ và Thánh ca độc đáo Việt Nam tại Tân Chí Linh», trong Phụng Vụ 24 (1974) 39-45.

[71] Sắc lệnh số Prot. 1353/69, ngày 16-10-1069, x. Notitiae 6 (1970) 61.

[72] Sắc lệnh số Prot. CD 630/88, x. Notitiae 24 (1988) 475.

[73] X. Notitiae 25 (1989).

[74] Sắc lệnh số Prot. 2407/98L, x. Notitiae 35 (2000) 32.

[75] Sắc lệnh số Prot. CD 1421/80.

[76] Sắc lệnh số Prot. CD 878/90, x. Notitiae 26 (1990) 710.

[77] Sắc lệnh số Prot. CD 1574/94/L, x. Notitiae 30 (1994) 543.

[78] Sắc lệnh số Prot. CD 215/88, 27-01-1988, x. Notitiae 24 (1988) 209.

[79] Sắc lệnh số Prot. CD 251/88, 27-01-1988, x. Notitiae 24 (1988) 209.

[80] X. Báo cáo gởi Tòa Thánh, năm 1965, x. Notitiae 1 (1965) 299-300.

[81] X. Notitiae 9 (1972) 73.



[82] X. Notitiae 3 (1965) 299-300 và Notitiae 4 (1966) 265-266.
Uỷ Ban Phụng tự / HĐGMVN

Nguồn: hdgmvietnam.org


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương