PHẦn thứ I đÁnh giá KẾt quả thực hiện kế hoạch khoa học công nghệ VÀ MÔi trưỜng giai đOẠN 2006-2010



tải về 1.12 Mb.
trang1/11
Chuyển đổi dữ liệu13.08.2016
Kích1.12 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


PHẦN THỨ I

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2006-2010
Trong kế hoạch 5 năm 2006-2010, được sự quan tâm của Lãnh Đạo Bộ và các cơ quan hữu quan, cùng với sự nổ lực cố gắng của mình, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã chú trọng khai thác các nguồn vốn (ngân sách Nhà nước, hợp tác quốc tế, tự có từ các hợp đồng hợp tác nghiên cứu khoa học) cho đầu tư nâng cấp và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của Viện phục vụ cho nghiên cứu khoa học và công nghệ. Công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho KH&CN của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã được tập trung có trọng điểm, từng bước nâng cao về số lượng và chất lượng, đóng góp quan trọng vào việc củng cố và nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ, thúc đẩy công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ phát triển, góp phần phục vụ phát triển nghề nuôi trồng thủy sản và từng bước nâng cao sức mạnh và vai trò của Viện trong khu vực.
I. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ:

Trong giai đoạn 2006 – 2010, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II được giao thực hiện một số công trình nghiên cứu khoa học các cấp bao gồm:

- 01 đề tài trọng điểm cấp Nhà nước

- 02 đề tài thuộc chương trình quỹ gen cấp Nhà nước

- 10 đề tài thuộc chương trình công nghệ sinh học

- 02 dự án SXTN cấp Nhà nước

- 13 đề tài trọng điểm cấp Bộ

- 03 dự án SXTN cấp Bộ

- 13 nhiệm vụ cơ sở

- 03 Tiêu chuẩn ngành

- 03 đề tài SUDA

- 20 dự án hợp tác quốc tế

- 24 đề tài hợp tác với địa phương
Trên cơ sở thực hiện các đề tài dự án nói trên, các kết qủa nổi bật Viện đã đạt được trong lĩnh vực khoa học công nghệ giai đoạn 2006 – 2010 có ý nghĩa khoa học cũng như được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất như sau:
1. Cá tra, basa và nhóm cá da trơn:

- Chương trình chọn giống cá tra đã trải qua 2 thế hệ chọn lọc tại Viện và cho kết quả khả quan. Kết quả đề tài Chọn giống cá tra nhằm tăng tỷ lệ philê bằng chọn lọc gia đình, 2006-2008 đã tạo ra được đàn chọn giống thế hệ thứ 2, với hiệu quả chọn lọc thực tế thế hệ thứ nhất về tăng trưởng là 12,4% và hiệu quả chọn lọc ước tính tỷ lệ philê là gần 1%. Đề tài đã được nghiệm thu cấp Bộ và xếp loại khá vào ngày 27 tháng 06 năm 2009. Để chọn lọc được các dòng cá có chất lượng ổn định cần tiếp tục thêm nhiều thế hệ và áp dụng các kỹ thuật công nghệ chuyên biệt. Tuy nhiên, phương pháp chọn lọc các cá thể có giá trị di truyền (EBV) kế tiếp trên quần đàn chọn giống như trước đây có hạn chế là không đáp ứng được nhu cầu bố mẹ với số lượng lớn.

- Với quy trình nuôi thương phẩm cá tra thịt trắng thâm canh trong ao đất đã đem lại kết qủa với năng suất khoảng 250 tấn/ha sau khoảng 6 - 7 tháng nuôi, 70% cá nuôi có thịt trắng đạt yêu cầu xuất khẩu. Ý nghĩa này rất lớn giúp nâng cao giá trị của sản phẩm cá tra nuôi trong ao đất.

- Bước đầu Nghiên cứu ứng dụng công nghệ enzyme trong sản xuất collagen từ da cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus).

- Viện cũng chuẩn bị thực hiện đề tài Đánh giá sức tải môi trường sông Tiền và sông Hậu phục vụ quy hoạch nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) bền vững trên sông Tiền, sông Hậu.

- Thành công trong di giống và thuần hoá cá bông lao (Pangasius krempfi) một loài cá quí hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở ĐBSCL.

- Thức ăn công nghiệp cho cá tra ở các giai đoạn phát triển khác nhau được xác lập, dây chuyền công nghệ sản xuất thức ăn nổi cho cá tra ,basa đang được cải tiến và lấp đặt.

- Các bệnh nguy hiểm thường gặp trên cá tra và basa nuôi bè và ao đã được xác định cùng các giải pháp phòng trị hiệu quả đã và đang được triển khai.


2. Tôm sú và các loài tôm, cua bản địa:

- Chương trình gia hoá khép kín vòng đời và sản xuất tôm sú bố mẹ và tôm sú giống sạch bệnh đã thành công trong việc khép kín vòng đời tôm sú bố mẹ trong bể nuôi tuần hoàn kín giá thể cát và sản xuất được sản lượng lớn tôm bố mẹ sạch bệnh và tôm sú giống gia hoá (hơn 300 cặp tôm bố mẹ sạch bệnh và 7 triệu tôm sú giống gia hoá PL15 được sản xuất trong năm 2008). Kết quả này cho thấy triển vọng rất lớn trong việc sản xuất đồng loạt tôm bố mẹ nhân tạo sạch bệnh phục vụ cho ngành công nghiệp nuôi tôm sú của nước ta. Tuy nhiên, hiện tượng bắt cặp tự nhiên thấp, tỉ lệ nở thấp, đặc biệt rất nhiều lần đẻ trứng không nở mặc dù vẫn có túi tinh trong thelycum của tôm cái là những khó khăn nổi bật về chất lượng sinh sản tôm gia hoá vì vậy Viện tiếp tục nghiên cứu thông qua để tài Ứng dụng công nghệ sinh học và các công nghệ khác nhằm nâng cao sức sinh sản của tôm Sú (Penaeus monodon) bố mẹ nuôi trong điều kiện nhân tạo.

- Viện cũng đang nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất tôm chân trắng bố mẹ sạch bệnh (SPF).

- Quy trình công nghệ sản xuất giống tôm sú chất lượng cao với việc kiểm tra chặt chẽ mầm bệnh trên tôm bố mẹ và không sử dụng kháng sinh trong quá trình ương nuôi ấu trùng đã góp phần đáng kể vào việc sản xuất giống tôm sú có chất lượng cho nghề nuôi tôm sú ở ĐBSCL. Viện đã thực hiện công tác chuyển giao công nghệ quy trình này cho các tỉnh ở ĐBSCL.

- Qui trình công nghệ nuôi tôm sú thâm canh qui mô nông hộ và trang trại của Viện được áp dụng thành công rộng rải ở các tỉnh Bà rịa Vũng tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu và Cà Mau.

- Qui trình công nghệ và dây chuyền sản xuất thức ăn cho tôm sú nuôi ở các giai đoạn phát triển khác nhau đã được đưa vào sản xuất và từng bước được hoàn thiện.

- Các bệnh nguy hiểm thường gặp trên tôm sú ở các giai đoạn phát triển khác nhau, các nghiên cứu sâu về dịch tể học bệnh đốm trắng cùng các giải pháp phòng trị dự phòng được phát triển và áp dụng có hiệu quả.

- Các kết qủa nghiên cứu về mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến, mô hình nuôi tôm kết hợp với trồng lúa và mô hình nuôi tôm sinh thái mà Viện đang triển khai sẽ góp phần rất lớn vào việc nâng cao sản lượng tôm sú nuôi ở đây, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đại đa số nông dân ở đây (quy mô diện tích nông hộ, trình độ văn hóa, vốn đầu tư,..) nhưng đồng thời giảm bớt sự rủi ro cũng như mức độ ô nhiễm đến môi trường chung quanh, sản xuất một cách ổn định hơn. Với năng suất mô hình nuôi quảng canh cải tiến trung bình từ 150 – 250/kg/ha/năm (chiếm khoảng 50%), nếu với các quy trình công nghệ được áp dụng để nâng năng suất lên khoảng 250 – 350 kg/ha/năm, sẽ tăng thêm hơn 15.000 tấn/năm.

- Qui trình công nghệ sản xuất giống và nuôi thâm canh tôm thẻ (P. merguensis) cho kết quả rất tốt mở ra triển vọng đa dạng hoá các đối tượng nuôi vùng ven biển.

- Qui trình công nghệ nuôi cua bằng con giống nhân tạo trong rừng ngập mặn đạt năng suất 1tấn/ha tại Huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau đã được hoàn tất.


3. Tôm càng xanh:

- Tôm càng xanh là đối tượng có gia trị kinh tế cao, là mặt hàng xuất khẩu được nuôi dạng quy mô nông hộ, với diện tích mương vườn, ao nhỏ rất phổ biến ở vùng ven sông Tiền và sông Hậu (năng suất từ 800 -1.200 kg/ha). Gần đây mô hình và công nghệ nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa (150 – 300 kg/ha) hoặc đăng quần (500 – 1.200 kg/ha) cũng được phát triển ở ĐBSCL, vì vậy giải quyết nhu cầu con giống tôm càng xanh là một yêu cầu bức thiết.

- Kết quả nghiên cứu công nghệ sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực của Viện đã đạt được kết quả: quy trình ương tôm PL30 phục vụ vi phẫu, tỷ lệ sống từ 55 -93%, kích cở đạt vi phẫu 60-75%; quy trình sản xuất tôm càng xanh cái giả (chuyển đổi giới tính bằng kỹ thuật vi phẫu) tỷ lệ chuyển đổi giới tính giao động từ 49 – 71% trung bình 53%.; sản xuất PL tòan đực tỷ lệ sống trung bình 10,4 -40%. Đã sản xuất tôm cái giả được 22.127con, tổng số lượng tôm PL 15 tòan đực đã sản xuất được 3.203.800 con.

- Chương trình Chọn giống tôm càng xanh theo tính trạng sinh trưởng bằng phương pháp chọn lọc gia đình đã được nghiên cứu từ năm 2008 đến nay đã thu được 1 số kết quả khả quan và đang tiếp tục thực hiện.

- Thức ăn công nghiệp cho tôm càng xanh ở các giai đoạn phát triển khác nhau và dây chuyền sản xuất đã được cải tiến và hoàn thiện.

- Các bệnh nguy hiểm thường gặp trên tôm càng xanh nhất là giai đoạn ấu trùng đã được nhận diện, đặc biệt là bệnh trắng đuôi (tác nhân virus) góp phần vào việc cải tiến và nâng cao năng suất sản xuất giống tôm càng xanh.


4. Cá biển và nhuyễn thể:

- Xác định vị trí phân bố nghêu giống, nghêu bố mẹ và đặc điểm vùng phân bố, đặc điểm sinh học cũng như hiện trạng kinh tế xã hội để đưa ra các giải pháp bảo vệ vá phát triển nguồn lợi nghêu ở Bến Tre.

- Bước đầu thực hiện đề tài Điều tra, nghiên cứu bệnh trên một số đối tượng nhuyễn thể nuôi tại vùng ven biển Việt Nam.
5. Các loài cá nước ngọt bản địa:

- Các kết qủa của công nghệ sản xuất giống các loài cá bản địa khác ở ĐBSCL góp phần rất lớn vào việc đa dạng hóa đối tượng nuôi nước ngọt với nhiều mô hình nuôi khác nhau. Một số loài cá có giá trị kinh tế rất cao hoặc được tiêu dùng nội địa và xuất khẩu như cá rô đồng, cá trê vàng, cá bống tượng, cá tai tượng, cá cóc, cá thát lát, cá lóc,…. Ngoài ra giống các loài cá bản địa đựơc sản xuất cũng đã được thả vào các hồ chứa ở Tây Nguyên (70.000 con cá giống mè hôi và ét mọi được thả vào hồ Ea Soup và hồ Lak) giúp phục hồi lại đàn cá tự nhiên trước đây bị mất đi do khai thác hoặc thay đổi chế độ thuỷ văn của hồ.

- Cá hô (Catlocarpio sianensis) đã được thuần hoá và sinh sản nhân tạo thành công trong điều kiện nhân tạo.

- Chương trình Chọn giống cá rô phi đỏ được nghiên cứu từ năm 2008 đến nay đã thu được 1 số kết quả khả quan và đang tiếp tục thực hiện. Những kết quả của chương trình áp dụng vào sản xuất đã được người dân chấp nhận.


6. Các vấn đề nghiên cứu cơ bản:

- Một trong những bước tiếp cận mới trong việc ức chế quorum sensing của vi khuẩn gây bệnh, là việc phân lập những vi khuẩn probiotic có khả năng phân hủy phân tử quorum sensing trong thủy sản để sản xuất thử nghiệm chế phẩm vi sinh từ các dòng vi khuẩn có đặc tính đối kháng Vibrio spp. nhằm nâng cao tỉ lệ sống ấu trùng cá biển và tôm sú và tạo chế phẩm vi sinh vật có tính đối kháng với vi khuẩn Ewardsiella ictaluri nhằm phòng bệnh bệnh gan – thận mủ ở cá tra cũng đang được nghiên cứu ở Viện.

- Đã nghiên cứu thành công bộ kit sử dụng phương pháp LAMP cho phép phát hiện virus WSSV dựa vào gene đích VP28 của virus trên mẫu tôm sú, tôm thẻ, tôm càng xanh bệnh. Bộ kit có thể phát hiện virus bệnh với số lượng 100 copy/phản ứng trong vòng 120 phút với độ nhạy tương đương phương pháp Nested PCR (OIE, 2009. Đang bắt đầu Nghiên cứu xây dựng quy trình chẩn đoán và chế tạo bộ kit phát hiện vi rút IMNV gây bệnh trên tôm Thẻ chân trắng (Liptopenaeus vannamei) và vi rút LSNV gây bệnh trên tôm Sú (Penaeus monodon).

- Kết quả nghiên cứu từ đề tài cấp Bộ đã được nghiệm thu “Nghiên cứu vắc-xin phòng bệnh cho cá tra, cá basa, cá mú, cá hồng mỹ nuôi công nghiệp” đã cung cấp và hình thành một số tư liệu ban đầu cho việc sản xuất vắc xin cho cá tra như việc phân lập và xác nhận tác nhân gây bệnh là vi khuẩn E. ictaluri cũng như nghiện cứu liều LD50, phương pháp tiêm vắc-xin, nồng độ kháng nguyên tối ưu và đánh giá hiệu lực của vắc-xin từ các thí nghiệm gây nhiễm trên cá. Dựa trên những kết quả này Viện tiếp tục nghiên cứu sản xuất vắc-xin vô hoạt gây bệnh gan thận mủ trên cá tra để sớm đưa ra sản phẩm vắc-xin mang lại hiệu quả tốt phục vụ cho nghề nuôi cá tra với hướng tiếp cận mới trong sản xuất vắc xin bất hoạt (kết hợp với protein sốc nhiệt), việc nghiên cứu thử nghiệm thành công của hướng tiếp cận này sẽ mang lại ý nghĩa rất lớn trong việc phòng bệnh cá cho ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và cho nuôi cá Tra nói riêng. Vắc xin sốc nhiệt protein nếu mang lại hiệu quả cao hơn so với vắc xin bất hoạt không qua sốc nhiệt sẽ làm giảm giá thành của vắc xin từ đó gián tiếp làm giảm giá thành nuôi và nâng lãi suất cho người nuôi cá Tra.


7. Các vấn đề về dinh dưỡng thức ăn:

- Hoàn thành hồ sơ thiết kế lắp đặt dây chuyền sản xuất thức thủy sản năng suất 300-500 kg/giờ nhằm phục vụ cho nghiên cứu và sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi thương phẩm cá chẽm (Lates calcarifer), cá giò (Rachycentron canadum).

- Kết quả nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học giàu enzyme để bổ sung, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn nuôi cá tra đã tạo ra những qui trình sản xuất sinh khối giàu enzyme và đã sản xuất thử được 34 kg sản phẩm.

- Kết quả dự án SXTN “Hoàn thiện công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp cho cá tra, tôm sú và tôm càng xanh”: Thiết kế, chế tạo, hoàn thiện hệ thống thiết bị tạo viên thức ăn nuôi tôm sú, tôm càng xanh, cá tra. Đã sản xuất được 478,2 tấn thức ăn cá tra, 3 tấn thức ăn tôm sú và 8 tấn thức ăn tôm càng xanh.
8. Các vấn đề về nguồn lợi và quản lý nguồn lợi thuỷ sản nội địa:

- Thông qua chương trình thủy sản Mekong, các chương trình hợp tác nghiên cứu đã hổ trợ giúp các tỉnh ĐBSCL trong công tác điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản nhằm đưa ra biện pháp bảo vệ, tái tạo phục hồi nguồn lợi tự nhiên trên các thủy vực tự nhiên ở ĐBSCL cũng như các hồ chứa lớn miền Đông Nam Bộ. Trên cơ sở điều tra đánh giá sự biến động nguồn lợi thủy sản, đề ra những phương án phân vùng, quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững thông qua quản lý cộng đồng, đồng thời đưa ra những phương án làm giảm thiểu các tác động môi trường đến tài nguyên thủy sản nội địa và ven biển.


9. Các vấn đề về chế biến và bảo quản sau thu hoạch:

- Đã tổ chức nghiên cứu hòan thiện công nghệ và chuyển giao 5 quy trình công nghệ sản xuất 5 lọai đồ hộp cho công ty Seaspimex – đơn vị phối hợp thực hiện dự án. Đầu năm 2008 công ty đã sản xuất thử nghiệm được trên 18.000 hộp.


10. Các dịch vụ khoa học công nghệ thuỷ sản:

- Tôm sú và tôm càng xanh giống.

- Cá giống nước ngọt các loại.

- Các sản phẩm chế biến từ Artemia.

- Các dự án quy hoạch phát triển thuỷ sản.

- Các dịch vụ tư vấn khoa học công nghệ.

- Các sản phẩm bao gồm thuốc, hoá chất, các chế phẩm và các máy móc thiết bị phục vụ nuôi trồng thuỷ sản.
II. XÂY DỰNG TIỀM LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1. Đầu tư xây dựng cơ bản:

- Công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho KHCN của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã được tập trung có trọng điểm, từng bước nâng cao về số lượng và chất lượng, đóng góp quan trọng vào việc củng cố và nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ, thúc đẩy công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ phát triển, góp phần phục vụ phát triển nghề nuôi trồng thủy sản và từng bước nâng cao sức mạnh và vai trò của Viện trong khu vực. Cụ thể kinh phí đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước như sau:



Đơn vị tính: triệu đồng

TT

Tên dự án đầu tư XDCB

Kinh phí

Thiết bị KH

Thời gian

1

TT QG Quan trắc Cảnh báo MT và Phòng ngừa Dịch bệnh Thủy sản Khu vực Nam Bộ

6.900

3.700

2006, 2007

2

Khu B TT QG Giống Hải sản Nam Bộ

18.000

0

2006-2010

3

TT QG Giống Thủy sản nước ngọt Nam Bộ

5.000

250

2006, 2007

4

PTN Dinh dưỡng thức ăn thủy sản

125




2006

5

PTN Bệnh và môi trường nuôi thủy sản

180




2006

6

Quy hoạch phát triển nuôi tôm nước lợ 2015 và 2020

332




2006

7

Phát triển công nghệ sản xuất thức ăn và giống các loài nước ngọt có giá trị kinh tế quan trọng được nuôi ở quy mô nông hộ nhỏ thuộc ĐBSCL, Việt nam

1.400

440

2007




Tổng cộng

31.937

4.390





2. Công tác tăng cường năng lực nghiên cứu:

- Trong giai đoạn 2006 – 2010 Viện đã được Bộ đầu tư kinh phí tăng cường trang thiết bị nghiên cứu với tổng trị giá là 4.668,423 triệu đồng (Bộ phá mẫu và chưng cất đạm, Hệ thống lên men vi sinh tự động, Máy đông khô, Máy Luân nhiệt, Máy đo đa chỉ tiêu, Kính hiển vi soi nổi kèm máy tính, máy ảnh và phần mềm...) nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho các phòng (Trung tâm Công nghệ sau thu hoạch, Phòng Thí nghiệm Sinh học thực nghiệm, TT QG giống HS Vũng Tàu, TT Quan Trắc, Phân viện NC TS Minh Hải, Phòng Nguồn lợi và Khai thác TS Nội địa). Cụ thể trong bảng sau:


TT

Tên phòng thí nghiệm/đơn vị

Địa điểm đầu tư

Tên thiết bị

(Chỉ ghi loại A)

Kinh phí (tr. đồng)

1

Tăng cường trang thiết bị năm 2006

Trung tâm Công nghệ sau thu hoạch

Bộ phá mẫu và chưng cất đạm (256,0 tr đồng)

430,294

2

Tăng cường trang thiết bị năm 2007

Phòng Thí nghiệm Sinh học thực nghiệm

- Hệ thống lên men vi sinh tự động (428,0 tr đồng)

- Máy đông khô (428,0 tr đồng)



893,378

3

Tăng cường trang thiết bị năm 2008

PTN Sinh học thực nghiệm, TT QG giống HS Vũng Tàu, TT Quan Trắc

Máy Luân nhiệt (201,2 tr đồng)

746,064

4

Tăng cường trang thiết bị năm 2009

Phân viện NC TS Minh Hải, Phòng Nguồn lợi và Khai thác TS Nội địa, TT Quan Trắc

- Máy đo đa chỉ tiêu (158,6 tr đồng)

- Kính hiển vi soi nổi kèm máy tính, máy ảnh và phần mềm (300,0 tr đồng)



898,887

5

Tăng cường trang thiết bị năm 2010

Phòng Nguồn lợi và Khai thác TS Nội địa, TT Quan Trắc

Không có thiết bị loại A

1.700,000




Cộng







4.668,423

Ngoài ra, một số đối tác nước ngoài cũng góp phần nhằm trang bị một số thiết bị phục vụ nghiên cứu và thông tin khoa học cho Viện như:

- Trung tâm Quốc gia Giống Hải sản Nam bộ: từ nguồn vốn tự có Trung Tâm đã thực hiện với kinh phí 15 triệu đồng cho các mục: phòng thí nghiệm, bảo trì, bảo dưỡng trạm bơm nước biển, hệ thống bơm nước biển, hệ thống cung cấp khí trong các trại giống; ngoài ra còn đầu tư 150 triệu đồng cho việc hoàn thiện thiết bị lọc tuần hoàn.

- Trung tâm Công nghệ Sau Thu hoạch Thủy sản: đầu tư sửa chữa, mua trang thiết bị cho các đơn vị thuộc Trung tâm với số tiền 12 trệu đồng (PTN Vi sinh, hóa sinh...).

- Trung tâm Quốc gia Quan trắc Cảnh báo Môi trường và Phòng ngừa Dịch bệnh Thủy sản Khu vực Nam Bộ đã trang bị một bộ máy vi tính cho bộ môn cơ sở dữ liệu mô hình, một bộ máy vi tính cho phòng thủy sinh thực vật, kính lọc huỳnh quang, 2 tủ hút khí độc, 2 tủ mát giữ giống vi khuẩn, 1 tủ ấm ủ vi khuẩn và 2 Micropipet, bể composit từ nguồn vốn tự có của trung tâm.

- Thông qua dự án HTQT (Chương trình thủy sản Mekong), Phòng Nguồn lợi và Khai thác Thủy sản Nội địa đã trang bị một số thiết bị cho phòng thí nghiệm (kính hiển vi, tủ âm sâu và chai lọ …) và 2 bộ máy tính để bàn, 1 máy tính xách tay, 1 máy in laser và 1 máy chụp hình kỹ thuật số phục vụ cho công việc.


3. Xây dựng sửa chữa nhỏ:

Công tác xây dựng sửa chữa nhỏ được Bộ đầu tư tổng kinh phí là 2.909 triệu đồng từ năm 2006 – 2010. Các mục sửa chữa nhỏ cũng nhằm mục đích cải tạo lại cơ sở vật chất của Viện góp phần hoàn thiện cơ ngơi làm việc cho cán bộ công chức Viện.


Đơn vị tính: triệu đồng

TT

Tên dự án

Điạ điểm xây dựng

Số quyết định phê duyệt

Tổng được duyệt

Thời gian



Sửa chửa nhà làm việc ba tầng của Viện NCNTTS II

116 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 1, Tp. HCM

Số 413/QĐ-BTS ngày 16/5/2006

497

2006



Bờ kè Trại thực nghiệm nuôi trồng thủy sản Thủ Đức

658 Kha Vạn Cân, Quận Thủ Đức, Tp. HCM

Số 962/QĐ-BTS ngày16/11/2006

681

2007



Sửa chữa thiệt hại do bão số 9 năm 2006 gây ra tại Trung tâm quốc gia giống HS Nam Bộ

167 Thùy Vân, Phường 2, Tp. Vũng Tàu, Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Số 3390/QĐ-BNN-XD ngày31/10/2007

420

2007



Lợp mái chống thấm dột nhà làm việc Phân viện NC TS Minh Hải

21-24 Phan Ngọc Hiển, Tp. Cà Mau

Số 3566/QĐ-BNN-KHCN ngày31/10/2007

110

2008



Sửa chữa đường bê tông, sửa chữa 2 hệ thống mương cấp thoát nước và thay mái tôn Trại tôm giống, sửa chữa hàng rào của Trại thực nghiệm thủy sản Bạc Liêu

18/7 Cao Văn Lầu, phường Nhà Mát, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

Số 3567/QĐ-BNN-KHCN ngày31/10/2007

465

2008



Sửa chữa sân, tường rào, nhà kho văn phòng Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng TS II

116 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 1, Tp. HCM

Số 3568/QĐ-BNN-KHCN ngày31/10/2007

286

2008



Sửa chữa Tuyến ống hút nước biển tại Trung tâm quốc gia giống hải sản Nam Bộ thuộc Viện Nghiên Cứu NTTS II

167 Thùy Vân, Phường 2, Tp. Vũng Tàu, Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Số 2441/QĐ-BNN-KHCN ngày27/10/2008

450

2009



Trạm thực nghiệm thủy sản Bạc Liêu

18/7 Cao Văn Lầu, P Nhà Mát, TX Bạc Liêu

77/QĐ-VTS II

Ngày 18/6/2009






2010



Phòng thí nghiệm Wetlab tại xưởng thực nghiệm Gò Vấp

139/1152 Lê Đức Thọ, P 13, Gò Vấp, TP HCM


78/QĐ-VTS II

Ngày 18/6/2009






2010




Tổng cộng






2.909



  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương