Phân tích tài chính và nâng cao hiệu quả tài chính của Tổng công ty Hàng không Việt Nam



tải về 0.71 Mb.
trang2/8
Chuyển đổi dữ liệu20.01.2018
Kích0.71 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8

c. Tỷ số thanh toán nhanh ( The quick Ratio – Rq )

Công thức tính:



Rq = ( Tài sản lưu động – Hàng tồn kho ) / các khoản nợ ngắn hạn

Trong đó, tài sản lưu động trừ đi hàng tồn kho còn được gọi là tài sản vòng quay nhanh. Do hàng tồn kho ( Dự trữ ) là các tài sản có tính thanh khoản thấp nhất trong tổng tài sản lưu động, mất nhiều thời gian và dễ bị lỗ nhất khi bán nên không được tính vào tỷ số thanh toán nhanh.

Tỷ số thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ ( tồn kho ). Do đó, có thể thấy tỷ số thanh toán nhanh phản ánh chính xác hơn, chân thực hơn về khả năng thanh toán ngắn hạn.

Tỷ số thanh toán nhanh thấp hơn năm trước có nghĩa là những thay đổi về chính sách tín dụng và cơ cấu tài trợ đã làm khả năng thanh toán của doanh nghiệp yếu đi, và ngược lại. Tuy nhiên, tỷ số này cũng cần tuỳ theo sự cần thiết của ngành: các ngành nghề khác nhau thì yêu cầu đối với tỷ số thanh toán nhanh cũng khác nhau. Ví dụ, các ngành dịch vụ thì cần tiêu thụ nhiều tiền mặt, các khoản cần thu lại tương đối ít, do đó cho phép duy trì tỷ số này thấp hơn 1. Ngoài ra, vì các khoản nợ của doanh nghiệp không thể tập trung thanh toán vào cùng một thời kỳ, nên tỷ suất thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 không có nghĩa là không an toàn mà chỉ cần lượng tài sản lưu động nhanh lớn hơn những khoản nợ cần phải trả ngay trong kỳ gần nhất là có thể chứng tỏ rằng tính an toàn được đảm bảo.



2.2. Các tỷ số hoạt động – Đánh giá năng lực kinh doanh

Năng lực kinh doanh của doanh nghiệp là năng lực tuần hoàn của vốn doanh nghiệp, là một mặt quan trọng đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Vì vốn của doanh nghiệp được sử dụng để đầu tư vào các loại tài sản: tài sản lưu động và tài sản cố định, nên cần phải đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản, và từng bộ phận cấu thành tổng tài sản. Nói chung, sự tuần hoàn vốn của doanh nghiệp là sự vận động thống nhất của vốn tiền tệ, vốn sản xuất, vốn hàng hoá – dịch vụ. Trong đó, sự vận động của hàng hoá – dịch vụ có ý nghĩa quan trọng vì hàng hoá, dịch vụ có được tiêu dùng thì mới thực hiện được giá trị, thu hồi được vốn và hoàn thành vòng tuần hoàn của vốn. Do vậy, nhà quản lý có thể thông qua mối quan hệ và sự biến động của tình hình tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và chiếm dụng vốn của doanh nghiệp để phân tích tình hình vận động của vốn. Tình hình vận động vốn của doanh nghiệp tốt, chứng tỏ trình độ quản lý kinh doanh của doanh nghiệp cao, hiệu suất sử dụng tiền vốn cao. Ngược lại, sẽ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là thấp.

Các tỷ số hoạt động được sử dụng để đánh giá năng lực kinh doanh, bao gồm các tỷ số: Tỷ số vòng quay hàng tồn kho ( Vòng quay dự trữ ); Kỳ thu tiền bình quân; Hiệu quả sử dụng tài sản cố định; Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản.

a. Tỷ số vòng quay hàng tồn kho – Vòng quay dự trữ ( Inventory Ratio – Ri )

Công thức tính:



Ri = Doanh thu thuần / Hàng tồn kho.

Trong đó, doanh thu thuần là doanh số của toàn bộ hàng hoá tiêu thụ trong kỳ không phân biệt đã thu tiền hay chưa, trừ đi phần hoa hồng chiết khấu, giảm giá hay hàng hoá bị trả lại. Còn hàng hoá tồn kho bao gồm các loại nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, vật liệu phụ còn tồn trong kho. Độ lớn của quy mô tồn kho tuỳ thuộc vào sợ kết hợp của nhiều yếu tố như: ngành kinh doanh, thời điểm phân tích, mùa vụ,…Trong quá trình tính toán chúng ta cần phải lưu ý: mặc dù doanh thu được tạo ra trong suốt năm, nhưng giá trị hàng tồn kho trong Bảng cân đối là mức tồn kho tại một thời điểm cụ thể, do vậy khi tính chúng ta phải lấy giá trị tồn kho trung bình năm.

Tỷ số này đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho của các loại hàng hoá thành phẩm, nguyên vật liệu, là chỉ tiêu phản ánh năng lực tiêu thụ hàng hoá và tốc độ vòng quay hàng tồn trữ, đồng thời để ước lượng hiệu suất quản lý hàng tồn trữ của doanh nghiệp và là căn cứ để người quản lý tài chính biết được doanh nghiệp bỏ vốn vào lượng trữ hàng quá nhiều hay không. Do đó, nhìn chung hàng tồn kho lưu thông càng nhanh càng tốt. Nếu mức quay vòng hàng tồn kho quá thấp, chứng tỏ lượng hàng tồn quá mức, sản phẩm bị tích đọng hoặc tiêu thụ không tốt sẽ là một biểu hiện xấu trong kinh doanh. Vì hàng tồn trữ còn trực tiếp liên quan đến năng lực thu lợi của doanh nghiệp. Cho nên trong trường hợp lợi nhuận lớn hơn không, số lần quay vòng hàng tồn kho nhiều chứng tỏ hàng lớn trữ chỉ chiếm dụng số vốn nhỏ, thời gian trữ hàng ngắn, hàng tiêu thụ nhanh, thu lợi sẽ càng nhiều.

b. Kỳ thu tiền bình quân ( Average Collection Period – ACP )

Công thức tính:



ACP = Các khoản phải thu / Doanh thu bình quân một ngày

Trong đó, các khoản phải thu là những hoá đơn bán hàng chưa thu tiền có thể là hàng bán trả chậm, hàng bán chịu hay bán được mà chưa thu tiền, các khoản tạm ứng chưa thanh toán, các khoản trả trước cho người bán.



Doanh thu bình quân ngày = Tổng doanh thu / 360

Trong phân tích tài chính, kỳ thu tiền bình quân được sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toán, cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Vì rằng nếu các khoản phải thu của doanh nghiệp không được thu hồi đủ số, đúng hạn thì không những gây tổn thất đọng nợ cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tới năng lực kinh doanh. Số ngày trong kỳ bình quân thấp chứng tỏ doanh nghiệp không bị đọng vốn trong khâu thanh toán, không gặp phải những khoản nợ khó đòi, tốc độ thu hồi nợ nhanh và hiệu quả quản lý cao. Tính lưu động của tài sản mạnh, năng lực thanh toán ngắn hạn rất tốt, về một mức độ nào đó có thể khoả lấp những ảnh hưởng bất lợi của tỷ suất lưu động thấp. Đồng thời, việc nâng cao mức quay vòng của các khoản phải thu còn có thể làm giảm bớt kinh phí thu nợ và tổn thất tồn đọng vốn, làm cho mức thu lợi của việc đầu tư tài sản lưu động của doanh nghiệp tăng lên tương đối. Ngược lại, nếu tỷ số này cao thì doanh nghiệp cần phải tiền hành phân tích chính sách bán hàng để tìm ra nguyên nhân tồn đọng nợ. Trong nhiều trường hợp, có thể do kết quả thực hiện một chính sách tín dụng nghiêm khắc, các điều kiện trả nợ hà khắc làm cho lượng tiêu thụ bị hạn chế, nên công ty muốn chiếm lĩnh thị trường thông qua bán hàng trả chậm hay tài trợ nên có Kỳ thu tiền bình quân cao.

Điều đáng lưu ý khi phân tích là kết quả phân tích có thể được đánh giá là rất tốt, nhưng do kỹ thuật tính toán đã che dấu những khuyết điểm trong việc quản trị các khoản phải thu. Nên cần phải phân tích định kỳ các khoản phải thu để sớm phát hiện những khoản nợ khó đòi để có biện pháp xử lý kịp thời.

c. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định ( The Fixed Assets Utilization – FAU )

Công thức tính:



FAU = Doanh thu thuần / Giá trị tài sản cố định

Trong đó, giá trị tài sản cố định là giá trị thuần của các loại tài sản cố định tính theo giá trị ghi sổ kế toán, tức nguyên giá của tài sản cố định khấu trừ phần hao mòn tài sản cố định dồn đến thời điểm tính.

Tỷ số này còn được gọi là Mức quay vòng của tài sản cố định, phản ánh tình hình quay vòng của tài sản cố định, và là một chỉ tiêu ước lượng hiệu suất sử dụng tài sản cố định. Như vậy, tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp, hay nói cách khác là một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm. Tỷ số này cao chứng tỏ tình hình hoạt động của doanh nghiệp tốt đã tạo ra doanh thu thuần cao so với tài sản cố định, chứng tỏ việc đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp là xác đáng, cơ cấu hợp lý, hiệu suất sử dụng cao. Ngược lại, nếu vòng quay tài sản cố định không cao thì chứng tỏ hiệu suất sử dụng thấp, kết quả đối với sản xuất không nhiều, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp không mạnh. Mặt khác, tỷ số còn phản ánh khả năng sử dụng hữu hiệu tài sản các loại.

d. Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản ( The Total Assets Utilization – TAU )

Công thức tính:



TAU = Doanh thu thuần / Tổng tài sản có

Trong đó, tổng tài sản có là tổng toàn bộ giá trị tài sản của doanh nghiệp bao gồm cả tài sản cố định và tài sản lưu động tại thời điểm tính toán và dựa trên giá trị theo sổ sách kế toán.

Tỷ số này còn được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó cho biết hiệu quả sử dụng toàn bộ các loại tài sản của doanh nghiệp, hoặc thể hiện một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp đã đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.

Nếu như trong các thời kỳ, tổng mức tài sản của doanh nghiệp đều tương đối ổn định, ít thay đổi thì tổng mức bình quân có thể dùng số bình quân của mức tổng tài sản đầu kỳ và cuối kỳ. Nếu tổng mức tài sản có sự thay đổi biến động lớn thì phải tính theo tài liệu tỉ mỉ hơn đồng thời khi tính mức quay vòng của tổng tài sản thì các trị số phân tử và mẫu số trong công thức phải lấy trong cùng một thời kỳ.

Mức quay vòng của tổng tài sản là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng tổng hợp toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Giá trị của chỉ tiêu càng cao, chứng tỏ cùng một tài sản mà thu được mức lợi ích càng nhiều, do đó trình độ quản lý tài sản càng cao thì năng lực thanh toán và năng lực thu lợi của doanh nghiệp càng cao. Nếu ngược lại thì chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp chưa được sử dụng có hiệu quả.

2.3. Các tỷ số về đòn cân nợ - Đánh giá về năng lực cân đối vốn

Năng lực cân đối vồn chính là khả năng tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp. Các nhà quản lý cần đánh giá hiệu quả huy động vốn nhằm đảm bảo đạt được hiệu quả sử dụng vốn tối đa. Điều này không những quan trọng đối với doanh nghiệp mà nó còn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, các nhà cung cấp, ngân hàng cho vay,… Nếu khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp lớn mạnh sẽ tạo niềm tin cho các đối tượng có liên quan, do đó tạo thuận lợi cho doanh nghiệp về nhiều mặt trong kinh doanh và tăng nguồn vốn kinh doanh cho doanh nghiệp.

Các tỷ số về đòn cân nợ được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp. Đòn cân nợ tăng làm gia tăng tiềm năng tạo ra lợi nhuận và đồng thời cũng làm tăng rủi ro cho các chủ sở hữu. Vì tăng vốn bằng cách vay nợ làm tăng khả năng vỡ nợ của doanh nghiệp nên nguy cơ không thu hồi được nợ của các chủ nợ tăng, và nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận từ tiền vay thì lợi nhuận dành cho các chủ doanh nghiệp sẽ tăng đáng kể.

Nhóm các tỷ số về đòn cân nợ gồm có: Tỷ số nợ; Tỷ số về khả năng thanh toán lãi vay; Tỷ số về khả năng thanh toán các chi phí cố định.



a. Tỷ số nợ ( Debt Ratio – Rd )

Công thức tính:



Rd = Tổng số nợ / Tổng tài sản có

Trong đó, tổng số nợ gồm toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại thời điểm lập báo cáo tài chính. Còn tổng tài sản có bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định hay là tổng toàn bộ kinh phí đầu tư cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong phần bên trái của Bảng cân đối kế toán.

Tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn. Thông thường các chủ nợ thích tỷ số này vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ vay càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Còn các chủ sở hữu thích tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận tăng nhanh. Tuy nhiên nếu tỷ số nợ quá cao thì doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Để có nhận định đúng về tỷ số này cần phải kết hợp với các tỷ số khác nữa.

b. Khả năng thanh toán lãi vay - số lần có thể trả lãi ( Times Interest Earned Ratio – Rt )

Công thức tính:



Rt = EBIT / Chi phí trả lãi

Trong đó, EBIT là Thu nhập trước thuế và trả lãi, phản ánh số tiền mà doanh nghiệp có thể sử dụng để trả lãi vay. Chi phí trả lãi vay bao gồm: tiền lãi trả cho các khoản vay ngắn hạn, tiền lãi cho các khoản vay trung và dài hạn, tiền lãi của các hình thức vay mượn khác. Đây là một khoản tương đối ổn định và có thể tính trước được.

Tỷ số này cho biết khả năng thanh toán lãi vay bằng thu nhập trước thuế của doanh nghiệp, hay nói cách khác là cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi hàng năm như thế nào. Việc không trả được các khoản nợ này sẽ thể hiện khả năng doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản.

2.4. Các tỷ số lợi nhuận – Đánh giá năng lực thu lợi

Các tỷ số trên phản ánh hiệu quả từng hoạt động riêng biệt. Để phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất – kinh doanh và hiệu năng quản lý, chúng ta cần phải tính toán các tỷ số lợi nhuận. Thông qua các tỷ số lợi nhuận, các nhà quản lý đánh giá năng lực thu lợi của doanh nghiệp, là khả năng thu được lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì lợi nhuận là kết quả cuối cùng trong kinh doanh của doanh nghiệp, thu được lợi nhuận là mục tiêu chủ yếu của sự tồn tại của doanh nghiệp là một mặt quan trọng trong đánh giá thành tích tài chính của doanh nghiệp. Các đối tượng liên quan: nhà đầu tư, chủ sở hữu, nhà quản lý,… đều quan tâm đến năng lực thu lợi của doanh nghiệp.

Năng lực thu lợi của doanh nghiệp rất quan trọng đối với những người cho vay, vì lợi nhuận thuần của doanh nghiệp là một trong những nguồn tiền chủ yếu để thanh toán nợ. Không thể tưởng tượng nổi khi một doanh nghiệp thua lỗ liên miên có thể có khả năng thanh toán mạnh.

Năng lực thu lợi cũng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư mua cổ phần. Vì các cổ đông thu lợi đầu tư là thông qua cổ tức, mà toàn bộ cổ tức lại từ lợi nhuận tịnh của doanh nghiệp mà có. Hơn nữa đối với công ty có tham gia thị trường chứng khoán thì có sự tăng trưởng của lợi nhuận làm cho các cổ đông có thêm lợi về giá cổ phiều trên thị trường.

Năng lực thu lợi của doanh nghiệp cũng quan trọng đối với các nhà quản lý vì tổng lợi nhuận và lợi nhuận thuần là những chỉ tiêu để đánh giá thành tích kinh doanh của những người quản lý.

Lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm:

- Lợi nhuận kinh doanh: là nguồn gốc chủ yếu của lợi nhuận doanh nghiệp, là lợi nhuận có được thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận kinh doanh là do lợi nhuận của các nghiệp vụ kinh doanh chính và các lợi nhuận của các doanh nghiệp khác cấu thành. Lợi nhuận kinh doanh là một chỉ tiêu để đánh giá thành tích kinh doanh của doanh nghiệp.

- Các khoản thu chi ngoài kinh doanh: là các khoản thu chi không có quan hệ trực tiếp đối với các hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp. Tuy không có quan hệ trực tiếp đối với các hoạt động kinh doanh nhưng các khoản thu chi ngoài kinh doanh vẫn là một trong những nhân tố làm tăng hoặc giảm lợi nhuận vì nó cũng đem lại thu nhập hoặc phải chi ra đối với doanh nghiệp vẫn có ảnh hưởng rất lớn đối với tổng lợi nhuận và lợi nhuần thuần của doanh nghiệp.

- Thu nhập ngoài kinh doanh: là những khoản thu không có quan hệ trực tiếp với những hoạt động sản xuất kinh doanh. Thu nhập ngoài kinh doanh là những thu nhập mà không tổn phí tiền vốn của doanh nghiệp, trên thực tế là một loại thu nhập thuần tuý, doanh nghiệp không phải mất một loại chi phí nào. Vì vậy, về mặt hạch toán kế toán cần phải phân chia ranh giới giữa thu nhập kinh doanh và thu nhập ngoài kinh doanh. Các khoản thu nhập ngoài kinh doanh bao gồm tiền tăng lên của tài sản cố định, thu nhập thuần trong việc sắp xếp tài sản cố định, thu nhập do bán tài sản vô hình, thu nhập trong các giao dịch phi tiền tệ, các khoản thu tiền phạt, các khoản thu về kinh phí đào tạo.v.v…

Các tỷ số lợi nhuận đáng chú ý:

a. Tỷ số lợi nhuận thuần trên doanh thu ( Net Profit Margin on Sales – Rp )

Công thức tính:



Rp = ( Lợi nhuần thuần / Doanh thu thuần ) x 100

Tỷ số này phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần thì có bao nhiêu phần trăm lợi nhuận. Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biến động của về hiệu quả hay ảnh hưởng của các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nếu tỷ số này giảm thì doanh nghiệp cần phân tích và tìm biện pháp giảm các khoản chi phí để nâng cao tỷ lệ lợi nhuận, từ đó tăng khả năng thu lợi của doanh nghiệp.



b. Tỷ số lợi nhuận thuần trên tổng tài sản có ( Net Return on Assets Ratio – Rc )

Công thức tính:



Rc = ( Lợi nhuận thuần / Tổng tài sản có ) x 100

Tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp. Hay nói cách khác là tỷ số này phản ánh năng lực thu lợi của doanh nghiệp khi sử dụng toàn bộ các nguồn kinh tế của mình.

Cơ sở để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh là phải có tài sản nhất định, đồng thời các hình thái của tài sản cũng phải được bố trí hợp lý để các tài sản cố thể được sử dụng một cách có hiệu quả. Trong một thời kỳ nhất định, nếu doanh nghiệp chiếm hữu và hao phí ít tài sản, mà lợi nhuận thu được càng nhiều thì năng lực thu lợi của tài sản là ước lượng việc vận dụng có hiệu quả các tài sản và là một phương thức phản ánh hiệu quả đầu tư về tổng thể, đồng thời quan trọng đối với những người quản lý và những người đầu tư. Những người quản lý doanh nghiệp thường quan tâm tới năng lực thu lợi của tài sản có cao hơn mức lợi nhuận bình quân của tài sản xã hội và cao hơn mức lợi nhuận tài sản trong ngành hay không. Và trong một thời kỳ nhất định, do đặc điểm kinh doanh và các nhân tố hạn chế khác nhau, năng lực thu lợi của các ngành nghề khác nhau cũng sẽ khác nhau: có ngành thu lợi cao và có ngành thu lợi thấp.

c. Tỷ số lợi nhuận thuần trên vốn cổ phần thường ( Re )

Công thức tính:



Re = ( Lợi nhuận thuần / Vốn cổ phần thường ) x 100

Tỷ số này đo lường mức lợi nhuận trên mức đầu tư của các chủ sở hữu. Các nhà đầu tư rất quan tâm đến tỷ số này, vì đây là khả năng thu nhập của họ có thể nhận được nếu họ quyết định đầu tư vào doanh nghiệp.

Doanh lợi của mỗi cổ phiếu phổ thông phản ánh mức độ doanh lợi của mỗi một cổ phiếu phổ thông nói chung. Các nhà đầu tư thường dùng mức doanh lợi mỗi cổ phiếu để làm tiêu chuẩn quan trọng đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nói chung, chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ lợi nhuận được chia cho mỗi cổ phiếu càng nhiều, hiệu ích đầu tư của cổ đông cũng càng tốt. Ngược lại thì càng kém.

d. Tỷ số thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu ( Doanh lợi vốn chủ sở hữu – ROE )

Công thức tính:



ROE = Thu nhập sau thuế / Vốn chủ sở hữu

Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp. Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp.



e. Doanh lợi tài sản ( ROA )

Công thức tính:



ROA = Thu nhập trước thuế và lãi vay / Tài sản có

Hoặc:


ROA = Thu nhập sau thuế / Tài sản có

Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư. Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi vay hoặc thu nhập sau thuế để so sánh với tổng tài sản.



5. Một số vấn đề cần chú ý khi phân tích và đánh giá hiệu quả tài chính theo phương pháp tỷ số.

Trong quá trình phân tích đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, chúng ta thường có những nhận định về các tỷ số tài chính là chúng cao hay thấp. Để đưa ra những nhận định này, chúng ta phải dựa trên các hình thức liên hệ của các tỷ số này. Do đó, cần xem xét ba vấn đề:

- Khuynh hướng phát triển: Chúng ta cần phải xem xét khuynh hướng biến động qua thời gian để đánh giá tỷ số đang xấu đi hay tốt lên. Do đó, khi phân tích các tỷ số tài chính của doanh nghiệp cần phải so sánh với các giá trị của những năm trước đó để tìm ra khuynh hướng phát triển của nó.

- So sánh với tỷ số của các doanh nghiệp khác cùng ngành: Việc so sánh các tỷ số tài chính của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong ngành và với tiêu chuẩn của ngành cũng cho phép người phân tích rút ra những nhận định có ý nghĩa về vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, sức mạnh tài chính của công ty so với các đối thủ cạnh tranh. Trên cơ sở đó có thể đề ra những quy định phù hợp với khả năng của công ty.

- Những đặc điểm đặc thù của doanh nghiệp: Hầu hết các doanh nghiệp đều có những đặc điểm riêng tạo ra sự khác biệt, nó được thể hiện trong công nghệ, đầu tư, rủi ro, đa dạng hoá sản phẩm và nhiều lĩnh vực khác. Do đó, mỗi doanh nghiệp cần phải thiết lập một tiêu chuẩn cho chính nó. Các doanh nghiệp này sẽ có những giá trị khác nhau trong các tỷ số tài chính của chúng.

Ngoài ra, khi trình bày các tỷ số tài chính cần phải cẩn thận, vì: Trong thực tế, các khoản mục của bảng cân đối tài sản có thể chịu ảnh hưởng rất lớn của cách tính toán mạng nặng tình hình thức, cách tính toán này có thể che đậy những giá trị thật của các tỷ số tài chính. Một trở ngại khác gây trở ngại việc thể hiện chính xác các tỷ số tài chính là sự khác biệt giữa giá trị theo sổ sách kế toán và thị giá của các loại tài sản và trái quyền trên các loại tài sản. Cần thiết hết sức cẩn thận đối với những khác biệt này và phải so sánh các kết quả của các tỷ số về mặt thời gian và với cả các doanh nghiệp khác cùng ngành. Tuy nhiên, các giá trị ngành chỉ là các tỷ số dùng để tham khảơ chứ không phải là giá trị mà doanh nghiệp cần đạt tới. Những quan niệm thận trọng này không có nghĩa là sự so sánh các tỷ số là không có ý nghĩa, mà là cần phải có các chỉ tiêu cụ thể cho từng ngành để sử dụng làm chuẩn mực chung trong ngành.

Nói tóm lại, việc thiết lập các tỷ số tài chính một cách khách quan, chính xác là điều quan trọng và phức tạp, nó dẫn đường cho các nhà quản trị nhận định về khuynh hướng tương lai của doanh nghiệp.

6. Đánh giá tổng hợp hiệu quả tài chính bằng phương pháp phân tích Dupont

Nếu chỉ đánh giá riêng bất kỳ một loại chỉ tiêu tài chính nào đều không đủ để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả tài chính và thành quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ phân tích một cách hệ thống và tổng hợp các chỉ tiều tài chính thì mới có thể đánh giá được hợp lý và toàn diện đối với hiệu quả tài chính. Do đó, trên cơ sở các chỉ tiêu tài chính đã tính toán, chúng ta cần đánh giá tổng hợp hiệu quả tài chính của doanh nghiệp bằng các phương pháp: phương pháp cho điểm Volvo, phương pháp phân tích Rada, phương pháp phân tích Dupont…Sau đây, xin được trình bày về phương pháp phân tích Dupont vì bằng phương pháp này chúng ta có thể nắm bắt được nguyên nhân của những thay đổi trong tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.



- Phương pháp phân tích tài chính Du Pont

Bản chất của phương pháp DUPONT là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản ( ROA ), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu ( ROE ) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp.

Phương pháp phân tích DUPONT là phân tích tổng hợp tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thông qua quan hệ của một số chỉ tiêu chủ yếu để phản ánh thành tích tài chính của doanh nghiệp một cách trực quan, rõ ràng. Thông qua việc sử dụng phương pháp phân tích DUPONT để phân tích từ trên xuống không những có thể tìm hiểu được tình trạng chung của tài chính doanh nghiệp, cùng các quan hệ cơ cấu giữa các chỉ tiêu đánh giá tài chính, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng làm biến động tăng giảm của các chỉ tiêu tài chính chủ yếu, cùng các vấn đề còn tồn tại mà còn có thể giúp các nhà quản lý doanh nghiệp làm ưu hoá cơ cấu kinh doanh và cơ cấu hoạt động tài chính, tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp.

* Trong quá trình phân tích có thể thực hiện tách các chỉ tiêu ROE và ROA như sau:



ROE = TNST / VCSH = (TNST / TS) x (TS / VCSH) = ROA x EM

ROA = TNST / TS = (TNST / DT) x (DT / TS) = PM x AU

ROE = PM x AU x EM

Trong đó:

ROE: Doanh lợi vốn chủ sở hữu

TNST: Thu nhập sau thuế

VCSH: Vốn chủ sở hữu

TS: Tài sản

ROA: Doanh lợi tài sản

EM: Số nhân vốn

PM: Doanh lợi tiêu thụ

AU: Hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Như vậy, phương pháp Dupont giúp nhà phân tích nhận biết được các yếu tố cơ bản tác động tới ROE của một doanh nghiệp là: khả năng tăng doanh thu; công tác quản lý chi phí; quản lý tài sản và đòn bẩy tài chính.


III. Các giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.

Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp thể hiên qua:



  • N ăng lực thanh toán

  • N ăng lực cân đối vốn

  • Năng lực kinh doanh

  • Năng lực thu lợi

Như vậy, để nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp có nghĩa doanh nghiệp cần thực hiện các chiến lược ngắn hạn và dài hạn làm tăng các năng lực trên của doanh nghiệp.

Để nâng cao năng lực thanh toán, doanh nghiệp cần có chế độ quản lý tốt đối với: Tài sản lưu động, Các khoản nợ ngắn hạn, và Hàng tồn kho. Hay nói cách khác, doanh nghiệp cần giải quyết các vấn đề tài chính ngắn hạn liên quan chặt chẽ tới quản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp.

Để nâng cao năng lực cân đối vốn, các nhà quản lý cần quan tâm đến: chính sách tín dụng tài chính, chính sách huy động vốn để tăng vốn chủ sở hữu làm tăng tính tự chủ của doanh nghiệp. Điều này có ý nghĩa quan trọng vì liên quan đến mức độ tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho các món nợ, liên quan đến rủi ro phá sản của doanh nghiệp.

Để nâng cao năng lực kinh doanh, các nhà quản lý cần quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, tăng tốc các vòng quay tiền và vòng quay Hàng tồn kho.

Đối với năng lực sinh lợi thì nhà quản lý cần kết hợp các giải pháp, chính sách để tác động lên tất cả các hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Nhà quản lý cần có cái nhìn tổng quát về tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn trên mọi phương diện, vì năng lực sinh lời của một doanh nghiệp chụi ảnh hưởng của tất cả các hoạt động, không ít thì nhiều. Trong đó, doanh nghiệp cần tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến: Tổng doanh thu, Tổng chi phí, Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.

Tóm lại, để nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, các nhà quản lý cần có tầm nhìn bao quát tình hình hiện tại của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các chính sách, cơ chế thực hiện có tác động tốt thể hiện trên các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp, làm tăng giá trị tài sản cho các chủ sở hữu.

Để có thể hiểu một cách sâu sắc lý thuyết về phân tích và đánh giá hiệu quả tài chính thì cách tốt nhất là đi vào phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp trong thực tế, và doanh nghiệp mà chuyên đề đưa ra để phân tích ở đây là Tổng công ty Hàng không Việt Nam - một trong những doanh nghiệp Nhà nước lớn nhất của Việt Nam, trong đó lấy Vietnam Airlines làm nòng cốt.

Chương II: Phân tích tình hình tài chính của Tổng công ty Hàng không Việt Nam – Vietnam Airlines Coporation
I. Khái quát về đặc điểm hoạt động của Tổng công ty hàng không Việt Nam

1. Khái quát về Tổng công ty hàng không Việt Nam

Bắt đầu từ năm 1956, với đội ngũ máy bay chỉ 5 chiếc, Hàng không Việt Nam đã mở đường bay quốc tế đầu tiên tới Bắc Kinh, Viên Chăn vào năm 1976,… Đến tháng 4 năm 1993, Hãng Hàng Không Quốc Gia Việt Nam (VietnamAirlines ) được thành lập, là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Cục hàng không Dân dụng Việt Nam. Đến ngày 27 tháng 5 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Tổng công ty Hàng không Việt Nam ( VietNam Airlines Corporation ) theo quyết định số 328/TTg của Thủ tướng Chính phủ và hoạt động theo điều lệ tổ chức. Hoạt động của Tổng công ty Hàng không Việt Nam được phê chuẩn theo NĐ04/CP vào ngày 27/01/1996. Tổng công ty có trụ sở chính tại: 200 Nguyễn Sơn - Quận Long Biên – Gia Lâm – Hà Nội.

Tổng công ty Hàng không Việt Nam do Chính phủ quyết định thành lập là Tổng công ty Nhà nước có quy mô lớn, lấy Hãng hàng không Quốc gia làm nòng cốt và bao gồm các đơn vị thành viên là doanh nghiệp hạch toán độc lập, doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong ngành hàng không, nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và của toàn Tổng công ty, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Với nhiệm vụ thực hiện kinh doanh, dịch vụ, về vận tải hàng không đối với hàng khách, hàng hoá trong nước và nước ngoài theo quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển ngành hàng không dân dụng của Nhà nước, cung ứng dịch vụ thương mại kỹ thuật hàng không và các ngành có mối quan hệ gắn bó với nhau trong dây chuyền kinh doanh vận tải hàng không, xây dựng kế hoạch phát triển, đầu tư, tạo nguồn vốn, thuê, cho thuê, mua sắm máy bay, bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị, kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, nhiên liệu cho ngành hàng không, liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong nước và ngoài nước, kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật.

* Phạm vi và ngành nghề kinh doanh:



  • Vận chuyển hành khách và hàng hoá

  • Các dịch vụ hàng không

  • Nhận và gửi hàng hoá

  • Hệ thống đặt chỗ và hệ thống phân phối toàn cầu

  • Làm đại lý cho các hãng hàng không nước ngoài

  • Vận chuyển mặt đất

  • Du lịch

  • Thuê kho hàng

  • Sữa chữa và bảo dưỡng máy bay và các thiết bị

  • Xây dựng công trình hàng không

  • Dịch vụ suất ăn

  • Sản xuất hàng tiêu dùng

  • Quảng cáo, thiết kế và in ấn

  • Xuất khẩu và nhập khẩu

  • Bất động sản

  • Tư vấn đầu tư

  • Thuê và đào tạo nhân viên

  • Khách sạn

  • Xăng dầu

Theo ngành nghề kinh doanh, các thành viên của Tổng công ty đảm nhiệm từng chức năng được phân thành các nhóm chính như sau:

  • Kinh doanh vận tải hàng không: chủ yếu là do Vietnam Airlines đảm nhiệm.

  • Kinh doanh bay dịch vụ: do công ty bay dịch vụ VASCO đảm nhận

  • Cung ứng các dịch vụ hàng không đồng bộ ( dịch vụ kĩ thuật thương mại mặt đất và dịch vụ sữa chữa bảo dưỡng máy bay ) do các đơn vị thuộc khối hạch toán tập trung đảm nhiệm, bao gồm các xí nghiệp thương mại mặt đất : Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất, các xí nghiệp sửa chữa máy bay A75, A76.

  • Cung ứng các dịch vụ thương mại các cảng hàng không sân bay: do các công ty dịch vụ hàng không sân bay Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất đảm nhiệm là chủ yếu.

  • Kinh doanh nhiên liệu hàng không: do công ty xăng dầu hàng không thực hiện

  • Kinh doanh xuất nhập khẩu chuyên ngành do công ty xuất nhập khẩu hàng không thực hiện là chủ yếu dưới hình thức nhập uỷ thác cho Vietnam Airlines và các đơn vị thành viên khác.

  • Kinh doanh xây dựng chuyên ngành và dân dụng do công ty công trình hàng không và công ty tư vấn khảo sát thiết kế hàng không đảm nhiệm với thị trường có khả năng mở rộng nhưng thiếu ổn định.

  • Các hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ khác

Tổng công ty hàng không Việt Nam là một doanh nghiệp Nhà nước có quy mô rất lớn, gồm: 22 doanh nghiệp thành viên được chia thành hai khối: 14 đơn vị thuộc khối hạch toán độc lập và 8 đơn vị thuộc khối phụ thuộc. Đứng đầu của Tổng công ty là cơ quan đầu não bao gồm Hội đồng quản trị 7 thành viên do Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ định, trong đó có một uỷ viên kiêm chức vụ Tổng giám đốc, trợ lý cho Tổng giám đốc là 6 Phó tổng giám đốc, bên dưới là các phòng ban. Cơ cấu tổ chức hoạt động và bộ máy hoạt động của Tổng công ty được thể hiện ở sơ đồ sau:

Hiện tại, VietNam Airlines bay thẳng đến hơn 32 địa điểm quốc tế và nội địa. Với hơn 24 văn phòng, chi nhánh và hàng chục đại lý toàn cầu, VietNam Airlines tạo điều kiện thuận lợi cho hành khách.



Ngày 20/10/2002, VietNam Airlines chính thức ra mắt biểu tượng Bông sen vàng - biểu tượng vừa mang tính hiện đại vừa mang bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, đây là mốc đánh dấu sự chuyển mạnh một cách toàn diện của VietNam Airlines trong chiến lược nâng cao thương hiệu và vị thế của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam trong hàng không dân dụng của khu vực và thế giới.

Bông sen vàng




1   2   3   4   5   6   7   8


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương