PHẦn mở ĐẦU



tải về 155.17 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu21.08.2016
Kích155.17 Kb.

  1. PHẦN MỞ ĐẦU



1.Lý do chọn đề tài :

Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta. Đây là một chủ trương quan trọng có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới, lối sống mới và con người mới. Qua các kỳ Đại hội Đảng, Đảng ta đã có những bước cụ thể hoá nhằm tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “ Toàn dân xây dựng đời sống văn hoá ”, xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hoá, phong trào người tốt việt tốt, thực hiện phong trào thi đua yêu nước, động viên toàn dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, phát huy tài năng, lao động sáng tạo để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Thông qua việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá, văn nghệ, xây dựng lối sống văn minh lịch sự, tập quán, lễ thức tốt đẹp đậm đà bản sắc dân tộc và phù hợp với trào lưu văn hoá tiến bộ của nhân loại.

Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở còn là cuộc đấu tranh gay gắt trên mặt trận tư tưởng và văn hoá. Đó là cuộc đấu tranh một mặt nhằm khẳng định các giá trị dân chủ, nhân đạo và tiến bộ của văn hoá, giáo dục nếp sống đạo đức và ứng xử trong mọi người, phát triển văn hoá dân tộc đi đôi mở rộng giao lưu văn hoá với bên ngoài, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Mặt khác, cần kiên quyết chống lại những hành vi thô bạo, lai căng, phản văn hoá, phi đạo đức và nhân tính. Kế thừa phát huy truyền thồng nhân ái, nghĩa tình, thuần phong mỹ tục đi đôi với bài trừ hũ tục mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội khác.

Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở được coi là bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là công việc xây dựng kết cấu hạ tầng về văn hoá để tiến hành các hoạt động giáo dục xã hội chủ nghĩa là nhằm hình thành nhân cách công dân, có ý thức đầy đủ về quyền hạn và nghĩa vụ công dân, tôn trọng Hiến pháp và pháp luật, sống theo đạo lý “ Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người ”, có ý thức lao động tự giác, có phẩm chất đạo đức trong sáng, lành mạnh, đáp ứng mọi nhu cầu về hoạt động văn hoá của nhân dân lao động đồng thời thu hút đông đảo quần chúng tham gia vào quá trình sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới.

Trong những năm qua, quán triệt đường lối của Đảng, dưới sự lãnh chỉ đạo của cấp ủy Đảng xã Nam Du, sự lãnh chỉ đạo của các cấp Hội, Hội nông dân Việt Nam xã Nam Du đã cụ thể hoá kịp thời về việc xây dựng đời sống văn hoá trên địa bàn dân cư, trong toàn thể cán bộ hội viên và nông dân đã thu được kết quả rất khả quan. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn một số khuyết điểm, yếu kém, một bộ phận nhỏ trong dân cư và hội viên nông dân đời sống vật chất, tinh thần còn gặp nhiều khó khăn, tệ nạn xã hội một số nơi còn phát triển ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng con người mới, lối sống mới.

Với thực trang nêu trên, tôi xin chọn đề tài “ Vai trò của Hội Nông dân Việt Nam xã Nam Du trong việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở - Thực trạng và giải pháp”.

2.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài :

2.1.Mục đích của đề tài :

Nhằm vận động cán bộ, hội viên và nông dân phối hợp cùng toàn thể tổ chức các cấp Hội và nhân dân thực hiện tốt việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trên địa bàn xã Nam Du, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.



2.2.Nhiệm vụ của đề tài :

- Nắm rõ tầm quan trọng của việc xây dựng đời sống văn hoá trong những năm qua, đề ra nhiệm vụ, phương hướng cho những năm tiếp theo.

- Đánh giá những việc làm được, chưa làm được, tìm ra những nguyên nhân. Rút ra những ưu, khuyết điểm và những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện.

- Đề ra những giải pháp thích hợp để giải quyết những vấn đề đặt ra.



3.Phạm vi và phương pháp nghiên cứu :

3.1.Phạm vi nghiên cứu :

Đề tài nghiên cứu xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trên địa bàn xã An Sơn 2004 – 2005 và 2006 xã Nam Du ( sau khi chia tách xã ).

3.2 Phương pháp nghiên cứu :

Đề tài sử dụng phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp khác như : điều tra, khảo sát, tổng hợp, so sánh nắm rõ thực trạng địa bàn để nhằm thực hiện mục đích mà đề tài đặt ra.



4.Ý nghĩa của đề tài :

Kết quả nghiên cứu của tiểu luận góp phần quán triệt Nghị quyết của Đảng nói chung và Nghị quyết của Chi ủy – Chi bộ xã Nam Du nói riêng, vai trò của tổ chức Hội Nông dân góp phần cùng các tổ chức khác trong việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở.

Tiểu luận có thể làm tài liệu tham khảo cho Cấp ủy và Chính quyền địa phương nghiên cứu, cho toàn thể cán bộ, hội viên và nông dân xã nhà học tập. Trên cơ sở đó tìm ra giải pháp thích hợp nhằm thực hiện tốt việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trên địa bàn xã.

A.PHẦN NỘI DUNG


CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG VIỆC XÂY DỰNG

ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở CƠ SỞ HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

1.1.Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là một nhiệm vụ cấp bách, cần thiết và có ý nghĩa quyết định về xây dựng nền văn hoá mới

1.1.1Khái niệm đời sống văn hoá ở cơ sở :

Với tính chất là hiện tượng xã hội, văn hoá là sự phát huy những lực lượng bản chất của con người nhằm làm chủ thiên nhiên, xã hội và bản thân, thể hiện ra trong hoạt động sáng tạo của con người và trong những kết quả của hoạt động đó, thúc đẩy sự phát triển nhân cách và của xã hội theo hướng đạt tới cái đúng, cái tốt và cái đẹp.

Vậy văn hoá trước hết là hoạt động tinh thần nhằm phát huy những năng lực bẩm sinh và bản chất của con người vươn tới cái chân, cái thiện và cái mỹ. Thông qua các hoạt động đó, các dân tộc sẽ hình thành nên một hệ thống có giá trị đó là đạo lý làm người, là các chuẩn mực xã hội. Hệ thống các giá trị và chuẩn mực đó sẽ dần dần được tích luỹ lại làm nên môi trường văn hoá. Từ môi trường văn hoá này, mỗi thành viên của xã hội kể từ khi ra đời, lớn lên . . . sẽ nhận được sự giáo dục, sự đào luyện để thực sự trở thành một con người và sáng tạo những giá trị của văn hoá mới.

Từ khái niệm văn hoá, ta thấy rằng đời sống văn hoá ở cơ sở không bó hẹp ở một lĩnh vực mà nó bao quát mọi mặt đời sống xã hội như : sản xuất, trao đổi, tiêu dùng, nhận thức, sáng tạo, . . . Đời sống văn hoá ở cơ sở là sự kết hợp cuộc sống hàng ngày với văn hoá thành một tổng thể hài hoà, bao gồm các yếu tố : lao động hăng say và thành thạo có năng suất cao, môi trường sản xuất được bố trí khoa học và đẹp đẽ, tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa giữa người và người, chất lượng của nếp sống cá nhân, sự mở rộng thế giới quan khoa học, sự hiểu biết và làm chủ các giá trị văn hoá của người lao động, sự phát triển của nghệ thuật và hiệu quả xã hội của nó.



1.1.2. Tác dụng của việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở :

Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở làm cho con người am hiểu tri thức khoa học, những tư tưởng lành mạnh, những phẩm chất đạo đức và tình cảm cao quý, những năng lực thực tiễn, phát triển cao, . . . Tri thức, tư tưởng, đạo đức, tình cảm và năng lực thực tiễn ấy phải phục vụ cho nhu cầu sản xuất, nâng cao đời sống con người. Đời sống con người là sự trao đổi chất giữa con người và tự nhiên thông qua hoạt động cải tạo tự nhiên, là sự trao đổi chất giữa cá nhân và xã hội thông qua các hoạt động cải tạo xã hội. Theo Mác thì “ Bản chất của con người là tổng hoà các quan hệ xã hội ”. Do đó nội dung bản chất của đời sống văn hoá thể hiện chủ yếu ở hai mối quan hệ : Quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa con người với nhau. Con người hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và qua đó con người cải tạo chính bản thân mình, phát triển nhân cách của mình.

Đời sống văn hoá ở cơ sở là toàn bộ những nhu cầu văn hoá, những hoạt động nhằm sáng tạo và hưởng thụ những giá trị về văn hoá để thoả mãn các nhu cầu văn hoá của con người. Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là phát hiện và phát triển nhu cầu, những hoạt động, những giá trị của mức độ tiêu dùng về văn hoá. Đó là bốn khâu của quá trình văn hoá : Từ nhu cầu kích thích hoạt động, hoạt động ra giá trị, giá trị tiêu dùng, tiêu dùng dẫn đến kích thích và phát triển cao hơn. Bốn khâu ấy liên kết thành một chỉnh thể của quá trình văn hoá theo vòng xoáy ốc.

Có thể khẳng định rằng đời sống văn hoá ở cơ sở chỉ có thể tồn tại ở cơ sở trong từng cá nhân con người. Vì vậy, địa bàn chủ yếu để xây dựng đời sống văn hoá là cơ sở. Các xã, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, khóm ( ấp ), cơ quan, xí nghiệp, trường học, nông - lâm - ngư trường,.. là tế báo của xã hội. Các gia đình, làng, xóm, các quan hệ lứa tuổi, nghề nghiệp và từng con người là biểu hiện cụ thể, sinh động hàng ngày, là đối tượng của việc xây dựng đời sống văn hoá.

Trong giai đoạn hiện nay chỉ có Đảng ta mới nhận thức và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ tư tưởng cách mạng và khoa học có thể đảm đương tốt sứ mệnh lịch sử và lãnh đạo xây dựng thành công trên đất nước ta nền văn hoá thực sự của dân, do dân và vì dân. Đảng lãnh đạo chứ không phải cổ vũ, động viên ý thức trách nhiệm, xây dựng đời sống văn hoá là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng định hướng các hoạt động văn hoá. Từ đó khơi dậy phát huy mọi nguồn lực, tiềm năng sáng tạo trong nhân dân tạo điều kiện để nhân dân trực tiếp sáng tạo ra các giá trị văn hoá và hưởng thụ văn hoá, tác động có hiệu quả giữa con người với con người ngày càng tốt đẹp hơn.

Văn hoá là một trong những động lực để phát triển kinh tế. Trong báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về các văn kiện Đại hội X của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trình bày ngày 18 – 11 – 2006 chỉ rõ : “ Về văn hoá, chúng ta chủ trương tiếp tục phát triển sâu rông và nâng cao chất lượng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra chất lượng mới của cuộc sống , xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ” ( 1)



1.1.3.Tầm quan trọng của việc xây dựng đời sống văn hoá mới :

Nền kinh tế nước ta còn phổ biến là sản xuất nhỏ và tồn tại nhiều thành phần, cơ cấu kinh tế chưa thật sự ổn định, còn nhiều mặt mất cân đối. Nền văn hoá mới của ta xây dựng nhiều năm qua, mặc dù hình thành bước đầu nhưng nó chưa đạt cơ sở của nền sản xuất hàng hoá và sản xuất lớn xã hộichủ nghĩa. Hệ tư tưởng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tuy đã được truyền bá nhưng chưa chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tinh thần của nhân dân, hệ tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, phong kiến và những tư tưởng thù địch tuy bị ta đánh bại nhưng vẫn còn tồn tại và đan xen lẫn nhau. Đây là cuộc đấu tranh rất khó khăn và phức tạp.Vì vậy, muốn xoá bỏ tận gốc những tư tưởng và nền văn hoá lạc hậu đó là phải xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở không chỉ là nhiệm vụ quan trọng cấp bách trước mắt mà còn là nhiệm vụ cơ bản lâu dài của cách mạng nước ta. Xây dựng đời sống văn hoá là bước đi ban đầu của việc xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa lại là mục tiêu của cuộc cách mạng tư tưởng và văn hoá.

Xác định đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của đời sống ở cơ sở đối với nước ta, nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V chỉ rõ : Mọi nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hoá là đưa văn hoá thâm nhập vào đời sống hàng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hoá, hết sức chăm lo đời sống văn hoá ở vùng nông thôn, chú ý đến vùng có đồng bào dân tộc.

Đại hội X đã chỉ rõ : “ ... Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội ...” ( 2 )

Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc, các giá trị văn hoá, nghệ thuật, ngôn ngữ chữ viết, thuần phong mỹ tục của dân tộc, tôn giáo, tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá, tiếp thu tinh hoa và góp phần làm cho phong phú thêm nền văn hoá nhân loại. Bảo đảm tự do dân chủ cho mọi sáng tạo văn hoá, văn học nghệ thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho phát huy hiệu quả lao động nghệ thuật. Văn nghệ sẽ nêu cao trách nhiệm trước nhân dân, trước tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng giáo dục, xây dựng con người,… chăm sóc đời sống văn nghệ sĩ, đãi ngộ thoả đáng đối với những văn nghệ sĩ tài năng.

Quán triệt đường lối chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước, chúng ta thấy rõ việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là nhiệm vụ hết sức quan trọng và nặng nề. Đó không chỉ là trách nhiệm riêng của ngành văn hoá mà còn là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân ta đến người trực tiếp và nhanh chóng tạo nên tích cực, chủ động của nhân dân góp phần xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, tình cảm đạo đức, lối sống cho con người trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.



1.2.Vai trò của tổ chức Hội Nông dân với việc xây dựng đời sống văn hoá :

1.2.1.Những tiêu chí xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở :

Để xây dựng thành công nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta đã chỉ ra 10 nhiệm vụ cụ thể như sau :



Một là, Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới: Con người là chủ thể sáng tạo ra thế giới sản phẩm văn hoá. Các sản phẩm văn hoá ấy gắn kết với mạng lưới hoạt dộng văn hoá cũ của con người hình thành ra môi trường văn hoá mới. Môi trường văn hoá là thiên nhiên thứ hai, là chủ thể của văn hoá, lại vừa là sản phẩm chính của nó. Phẩm chất văn hoá của con người thể hiện rõ ở trình độ ứng xử của nó đối với thiên nhiên, đối với xã hội và đối với bản thân.

Hai là, Nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hoá : Môi trường văn hoá là môi trường chứa đựng những giá trị văn hoá, những quan hệ văn hoá của con người từ quá khứ đến hiện tại và hướng tới tương lai. Môi trường văn hoá chính là hệ sinh thái văn hoá, môi trường đời sống tinh thần của xã hội. Xây dựng môi trường văn hoá góp phần ổn định chính trị - xã hội, tạo bầu không khí tinh thần lành mạnh làm tiền đề để xây dựng con người, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.

Ba là, Phát triển văn học và nghệ thuật : Văn học nghệ thuật là bộ phận tinh tế và nhạy cảm của văn hoá, thể hiện khát vọng vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ của nhân dân. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là sáng tạo những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng nghệ thuật, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ sâu sắc, có ý nghĩa giáo dục, bồi dưỡng tinh thần, tình cảm, nhân cách và bản lĩnh cho các thế hệ công dân của đất nước. Đồng thời bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính, đấu tranh chống lại các khuynh hướng sáng tác trái với đời sống văn hoá văn nghệ của Đảng.

Bốn là, Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc : Di sản văn hoá là tài sản của dân tộc do lịch sử để lại, bao gồm các di sản văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể. Di sản văn hoá không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của nhân dân, góp phần khẳng định niềm tự hào dân tộc, mà còn là nguồn lực đề phát triển kinh tế - xã hội.

Năm là, Phát triển sự nghiệp giáo dục- đào tạo và khoa học – công nghệ: Giáo dục và đào tạo cần tập trung bồi dưỡng cho thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tinh thần tự hào dân tộc, có lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước.

Sáu là, Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng : Các phương tiện thông tin đại chúng bao gồm : sách, báo, tạp chí, các đài phát thanh và truyền hình Trung ương và địa phương . . . Dùng tiếng nói dân tộc và chữ viết của các dân tộc có chữ viết trên các phương tiện thông tin đại chúng ở vùng đồng bào dân tộc.

Bảy là, Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá dân tộc thiểu số : Nước ta có 54 dân tộc anh em cùng đoàn kết gắn bó với nhau trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không thể không chú ý tới nhiệm vụ hết sức quan trọng là bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá của các dân tộc thiểu số.

Tám là, Chính sách văn hoá đối với tôn giáo : Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân và đang tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đảng và nhà nước ta thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật của công dân.

Chín là, Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá : Giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hoá là một yêu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà sâu sắc văn hoá dân tộc. Chú trọng giúp đỡ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn và bảo vệ văn hoá dân tộc, hiểu biết hơn về đất nước và sự nghiệp đổi mới, tạo điều kiện để họ tham gia vào xây dựng, phát triển văn hoá dân tộc.

Mười là, Củng cố xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá : Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của các thiết chế hiện có. Thực hiện chủ trương “ Nhà nước và nhân dân cùng làm ”, thực hiện xã hội hoá các hoạt động văn hoá. Xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hoá ở cơ sở. Thực hiện nghiêm túc các văn bản luật pháp về văn hoá, thông tin mà Nhà nước ban hành.

Để cụ thể hoá việc thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, ngày 31/12/2001 thường trực Tỉnh ủy có quyết định số 369/ QĐ.TU thành lập Ban chỉ đạo “ Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ”. Nội dung, tiêu chuẩn thi đua thực hiện cuộc vận động bao gồm 5 điểm sau :

Một là ; Phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xoá đói giảm nghèo.

Hai là ; Xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh.

Ba là ; Xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật.

Bốn là ; Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, sạch đẹp, an toàn.

Năm là ; Xây dựng các thiết chế văn hoá, thể thao và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá, thể thao ở cơ sở.

Căn cứ vào 5 nội dung định hướng nêu trên, thường trực Ban Chỉ đạo Tỉnh đã xây dựng thành bốn tiêu chuẩn thực hiện cụ thể đối với hộ gia đình, tổ nhân dân tự quản, ấp ( khu phố, khu vực ) và cơ quan, tổ chức, đơn vị và thống nhất biểu điểm bình xét công nhận danh hiệu cuộc vận động hàng năm. Số điểm tối đa áp dụng cho cả 4 tiêu chuẩn là 100 điểm.

1.2.2. Vai trò của Hội nông dân với việc xây dựng đời sống văn hoá

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân, luôn luôn coi công tác vận động nông dân là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Vì vậy, mà Đảng ta ngay từ đầu mới thành lập đã sớm xây dựng được khối liên minh công – nông ngày càng được củng cố vững chắc, tạo thành đội quân chủ lực hùng hậu của cách mạng, là một trong những nhân tố quyết định tạo nên những thắng lợi vĩ đại trong cách mạng tháng 8 ( 1945 ), trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hiện nay.

Trong 5 nhiệm vụ của công tác vận động nông dân, nhiệm vụ thứ tư, Hội nông dân đã được Đảng và nhà nước giao cho hết sức quan trọng đó là vận động xây dựng đời sống văn hoá, tinh thần ở nông thôn văn minh, hiện đại, đảm bảo cơ sở xã hội bền vững cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đạt hiệu quả.

Chỉ thị số 59/CT/TW ngày 15 tháng 8 năm 2000 của Ban chấp hành Trung ương chỉ rõ : “ . . . Đẩy mạnh phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói, giảm nghèo và làm giàu” . Phát triển các phong trào nông dân hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao ; thực hiện tốt cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư ” và phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ”.

Ban chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã phát động nhiều phong trào nông dân tham gia xây dựng đời sống văn hoá với nhiều nội dung và hình thức phong phú. Đề ra 6 tiêu chuẩn cho hộ gia đình nông dân đăng ký và thực hiện.

Là thành viên cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ” ở cơ sở. Hội đã được Chi ủy, Chi bộ cụ thể hoá bằng các Nghị quyết để Hội làm tiền đề, làm cơ sở cho việc hoạt động từng bước đạt hiệu quả cao hơn.

Trên đây là những tiêu chí và vai trò của Hội Nông Dân về đời sống văn hoá ở cơ sở. Đó là những tiêu chí của đời sống văn hoá cao, muốn đạt tới phải trãi qua một sự phấn đấu lâu dài. Trong hoàn cảnh kinh tế của đất nước còn nhiều khó khăn như hiện nay, chúng ta chưa thể đáp ứng mọi nhu cầu văn hoá của nhân dân, cũng như chưa thể cùng một lúc xây dựng đủ thiết chế văn hoá – xã hội. Điều cần nhấn mạnh là phải ra sức phấn đấu làm cho các hoạt động văn hoá ở cơ sở ngày càng phong phú, thiết thực, xây dựng một đời sống văn hoá phù hợp với những điều kiện cho phép của địa phương.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở CƠ SỞ

TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NAM DU, HUYỆN KIÊN HẢI

TRONG NHỮNG NĂM QUA ( 2005 – 2006 )

2.1 Đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của xã Nam Du

Xã Nam Du được chia tách từ xã An Sơn theo Nghị định số 97/CP ngày 15/9/2005 của Chính Phủ. Với diện tích tự nhiện 440 ha, bao gồm 10 hòn đảo lớn nhỏ. Dân số 752 hộ với 3.240 nhân khẩu, dân cư sống tập trung đông ở 3 hòn : Hòn Ngang, Hòn Mấu, Hòn Dầu. Sống chủ yếu bằng nghề thương nghiệp - dịch vụ, khai thác – nuôi trồng chế biến hải sản, một số ít chuyên canh cây nông nghiệp, . . . Xã có 3 ấp, phân chia thành 22 tổ nhân dân tự quản. Dân tộc chủ yếu là người Kinh ( chiếm 97% ), các dân tộc khác chiếm 3%. Dân cư làm ăn theo mùa vụ nên dân số luôn biến động. Hàng năm có khoảng 60 – 100 hộ từ nơi khác đến tạm trú.

Dân theo các tôn giáo chiếm khoảng 20% ( khoảng 650 người ) thuộc các tôn giáo : Phật giáo, Thiên chúa, Cao Đài , Hoà Hảo. Có 2 miếu thờ lớn ( Bà Chúa - Hòn Ngang và Lăng Ông Nam Hải - Hòn Mấu )

Do mới được chia tách, bước đầu cơ sở vật chất còn khó khăn nhưng dưới sự lãnh đạo của Chi ủy, Chi bộ và sự đoàn kết thống nhất giữa các ngành, các ấp đã vượt qua khó khăn và hoàn thành tốt nhiệm vụ đặt ra. Nhìn chung, thời gian qua tình hình kinh tế - xã hội vẫn ổn định và có bước phát triển, đời sống xã hội của nhân dân luôn được quan tâm. Tình hình an ninh – chính trị - trật tự an toàn xã hội luôn giữ vững ổn định, hệ thống chính trị được củng cố kiện toàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, tổng sản phẩm ( GDP ) tăng bình quân hàng năm 14,15%, thu nhập bình quân đầu người đạt 12 triệu đồng/người/năm. Sản lượng khai thác hải sản hàng năm tăng từ 4,7 % trở lên, nuôi trồng đạt bình quân 8,3 tấn/năm. Thu ngân sách hàng năm đạt và vượt chỉ tiêu trên giao. Tỉ lệ hộ nghèo ( theo tiêu chí mới ) còn 7 hộ ( 0,76% )



2.2 Tình hình xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trên địa bàn xã

2.2.1Những kết quả đạt được và nguyên nhân

*Kết quả đạt được

Cùng với sự phát triển kinh tế, thương nghiệp dịch vụ, nông lâm nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt… những vấn đề thuộc lĩnh vực văn hoá được triển khai toàn diện, đã đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả thiết thực . Cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ” , “ Người tốt, việc tốt ” đã được triển khai, phát động từ trong nội bộ đến tận quần chúng nhân dân, bên cạnh đó đã tổ chức nhiều lớp tập huấn xây dựng đời sống văn hoá.

Ban vận động xã đã phát động nhiều phong trào và giao chỉ tiêu cho các tổ chức đoàn thể làm nòng cốt thực hiện.

Qua các phong trào đã góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, đời sống tinh thần, vật chất của người dân từng bước được nâng lên, tình làng nghĩa xóm được thắt chặt, bộ mặt xóm ấp từng bước đổi mới, trật tự kỷ cương an toàn xã hội được củng cố, các việc làm từ thiện ( thông qua các tổ chức xã hội và các đoàn thể ) giúp nhau trong sản xuất, giải quyết việc làm, vượt khó vươn lên và giúp đỡ những người lầm lỡ trở về cuộc sống cộng đồng, các biểu hiện tiêu cực thiếu văn hoá trong đời sống cộng đồng được hạn chế đáng kể. Cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư ” và thực hiện “ Quy chế dân chủ ở cơ sở ”, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nét đẹp văn hoá dân tộc, các thuần phong mỹ tục, . . . thể hiện bản chất nhân văn, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Thông qua phương châm “ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra ” đã động viên được nhân dân phát huy trí tuệ tham gia xây dựng Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương . . .

Có thể nói cuộc vận động vừa là phương thức vừa là điều kiện để từng người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân ngày càng tốt hơn, góp phần thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội.

Hội Nông dân xã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã và các tổ chức đoàn thể của xã làm tốt công tác tuyên truyền trong đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân về đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là tuyên truyền Nghị quyết X của Đảng gắn với việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế xã hội, đã tổ chức được 29 cuộc, có 725 người tham dự ( số liệu năm 2006 ).

Hội cùng Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc phối hợp cùng các ngành Huyện và Xã tổ chức ngày chính trị hàng tháng được 10 cuộc có 557 lượt người tham dự, nhân dân đóng góp nhiều ý kiến, tập trung vào các vấn đề : lộ giao thông, khu dân cư, điện, khám chữa bệnh, nước sạch, đất đai, vay vốn và đề nghị xử lý nghiêm những hành vi vi phạm về khai thác, đánh bắt hải sản.

Thông qua các chi, tổ hội phối hợp với các ban ngành, ấp, tổ nhân dân tự quản tiếp tục thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, đổi mới phương thức hoạt động với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân phát huy nguồn lực, ra sức đầu tư kinh doanh, làm giàu chính đáng, xoá đói giảm nghèo, chăm lo phúc lợi xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội . . .

Trong sản xuất, đẩy mạnh việc khai thác, nuôi trồng, chuyển đổi cây trồng vật nuôi, cải tạo vườn tạp, . . .

Công tác xoá đói giảm nghèo được Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể quan tâm. Trong năm 2006, cất được 03 căn nhà Đại đoàn kết, tổng trị giá 18.500.000đ ( Nâng số nhà cất mới từ khi phát động phong trào đến nay là 17 căn ), sửa chữa 04 căn. Hiện nay toàn xã đã cơ bản xoá xong nhà xiêu vẹo, số hộ nghèo và cận nghèo đến cuối năm 2006 là 07 hộ ( 0,76% ).

Về hoạt động văn hoá thông tin Hội, tích cực tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, thường xuyên tuyên truyền phục vụ các ngày lễ, tết, hội nghị, thực hiện tốt cuộc bầu cử đại biểu Hội Đồng Nhân Dân 3 cấp, chuẩn bị cho bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XII và bầu bổ sung Đại biểu Hội Đồng Nhân dân xã nhiệm kỳ 2004 – 2009.

Xã có câu lạc bộ Đàn ca tài tử, câu lạc bộ Không sinh con thứ 3, bằng hình thức sinh hoạt đều đặn vào chủ nhật hàng tuần mang lại kết quả rất khả quan, thu hút nhiều hội viên tham gia.

Tổ chức bình xét hộ, tổ, ấp, đơn vị văn minh. Kết qủa như sau :

Năm

Số hộ đạt

Tổ

Ấp

Đơn vị văn minh

Hộ gia đình nông dân

Toàn xã

Theo đăng ký

2005

542/752

72,07%


542/658

82,37%


13/22

59,09%


1/3

33,33%


4/5

80%


248/312

79,48%


2006

559/752

74,33%


559/658

84,95%


14/22

63,63%


3/3

100%


5/5

100%


252/312

80,76%


Phong trào văn nghệ, thể dục, thể thao rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ từng bước được nâng lên, tổ chức nhiều buổi giao lưu văn nghệ, thi đấu các trò chơi dân gian, . . . thu hút đông đảo thanh niên, hội viên tham gia hưởng ứng.

Về vận động cơ sở hạ tầng : phối hợp cùng Mặt trận tổ quốc, Chính quyền và các đoàn thể trong năm 2006 đã vận động nhân dân đóng góp, xây dựng 2 đoạn lộ 183 m, số tiền 23 triệu đồng, 1 cây cầu 26 m với số tiền 22 triệu đồng. Động viên vận động các mạnh thường quân được 1.750 kg gạo hỗ trợ 175 hộ gặp khó khăn.

Về giáo dục – đào tạo : Huy động trẻ 06 – 14 tuổi đến trường đạt 100% ( Nghị quyết chi ủy – chi bộ 95% ), lưu ban, bỏ học hàng năm chiếm 0,2% do theo gia đình rời địa phương làm ăn theo mùa vụ. Đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Phấn đấu đạt phổ cập trung học cơ sở vào năm 2007. Chất lượng dạy và học thường xuyên được nâng cao. Đội ngũ 26/28 giáo viên đã thông qua trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng tốt yêu cầu dạy và học, đạo đức học sinh được chú trọng, tủ sách giáo khoa học đường được duy trì, phát huy có hiệu quả. Cơ sở vật chất được đầu tư khang trang từ nhiều nguồn kinh phí ( đã xoá được ca 3 và phòng học bán kiên cố ). Phong trào học phổ cập THCS được duy trì khá tốt.

* Nguyên nhân :

- Do Chi Ủy – Chi bộ xã Nam Du đã cụ thể hoá kịp thời các Nghị quyết, chủ trương của Đảng, Nhà nước và phổ biến đến mọi người dân, các tổ chức nhân dân tự quản, các ấp và từ đó đã tạo ra nhận thức trong việc xây dựng đời sống văn hoá trên địa bàn xã.

- Sự phối hợp đồng bộ với các tổ chức đoàn thể , sự chỉ đạo nhịp nhàng của Chi ủy – Chi bộ đến từng tổ, Đảng ở các cấp làm tốt công tác tuyên truyền đến tận quần chúng nhân dân.

- Duy trì tốt các buổi họp tổ nhân dân tự quản, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để điều chỉnh, sửa đổi nhiệm vụ phù hợp với từng thời điểm.

- Ý thức xây dựng đời sống văn hoá trong cộng đồng ngày được củng cố và phát triển.



2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân :

* Hạn chế :

- Đội ngũ cán bộ làm công tác trong lĩnh vực văn hoá còn thiếu , đôi lúc còn chạy theo thời vụ, còn kiêm nhiệm nhiều việc. Từ đó năng lực không theo kịp yêu cầu tình hình mới hiện nay.

- Một số ít thanh thiếu niên sống thiếu lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng, ít quan tâm đến tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, bản sắc văn hoá dân tộc.

- Trình độ dân trí không đồng đều, mức hưởng thụ văn hoá còn thấp, hoạt động văn hoá văn nghệ chưa đáp ứng yêu cầu thưởng thức của nhân dân, phim ảnh nước ngoài, văn hoá phim độc hại đã và đang xâm nhập vào xã hội. Nội dung chất lượng thông tin đại chúng còn hạn chế, quản lý nhà nước về văn hoá còn nhiều sơ hở, cơ sở vật chất, trang thiết bị trong lĩnh vực phục vụ văn hoá còn thiếu, từ đó làm hạn chế trong hoạt động của ngành.

- Chưa xây dựng được nhà văn hoá. Một số tệ nạn xã hội như : cờ bạc, rượu chè, mê tín dị đoan, tuy có ngăn chặn nhưng vẫn còn lén lút xảy ra trong nhân dân.

- Việc triển khai thực hiện cuộc vận động ở một số tổ còn chậm và gặp khó khăn do đi lại khó khăn nhất là mùa mưa bão. Một số ít gia đình trong dân cư thiếu chuẩn mực : Cha thiếu gương mẫu, vợ thiếu thuỷ chung, con cái không hiếu thảo,... Một số hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại trong việc cưới, việc tang; sự phân hoá giàu nghèo ngày càng gay gắt, một số bộ phận lao động thiếu việc làm, một số ít chay lười lao động, thiếu đạo đức, phẩm chất, . . .

- Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất. Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình chưa đạt yêu cầu đề ra. Một số hộ nghèo còn sinh con ngoài kế hoạch. Việc khắc phục trình trạng ô nhiễm môi trường chưa tiến hành triệt để, phong trào rèn luyện thân thể trong nhân dân chủ yếu còn ở dạng tự phát.

- Trong chỉ đạo điều hành đôi lúc chưa đồng bộ : Một số ít thành viên trong Ban Chỉ Đạo chưa thể hiện hết vai trò, trách nhiệm trong cuộc vận động. Chưa kịp thời biểu dương tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong cuộc vận động để khích lệ phong trào.



* Nguyên nhân hạn chế :

- Ý thức chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta ở một bộ phận dân cư trình độ dân trí chưa cao nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác xây dựng đời sống văn hoá ở xã.

- Bộ máy chuyên trách về hoạt động văn hoá còn thiếu. Công tác bình xét gia đình văn hoá đôi lúc chậm so với yêu cầu và đôi khi còn chạy theo hình thức.

- Một số thành viên trong Ban Chỉ Đạo chưa đi sâu, sát địa bàn, chưa linh hoạt chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo.



2.2.3 Một số kinh nghiệm và vấn đề cần đặt ra trong việc xây dựng đời sống văn hoá :

*Một số kinh nghiệm :

- Đảng ta đã có Nghị quyết về xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, đây là cơ sở pháp lý cho mọi người dân trong cả nước nói chung và xã Nam Du nói riêng luôn có ý tức tốt trong việc tham gia tích cực xây dựng đời sống văn hoá.

- Sự quan tâm, hướng dẫn của ngành văn hoá các cấp, sự thống nhất, đoàn kết cao trong cấp ủy Đảng đã nhận thức tầm quan trọng về việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở nên đã có chương trình, kế hoạch trong việc triển khai thực hiện trên địa bàn.

- Nhân dân trong xã đại đa số luôn có ý thức : Để có đươc đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, trình độ dân trí được nâng lên thì phải coi trọng xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Chính vì vậy, trong những năm qua việc xây dựng đời sống văn hoá đã dần đi vào nền nếp, thu được nhiều kết quả tốt, năm sau cao hơn năm trước cả về số lượng lẫn chất lượng.



*Những vấn đề đặt ra :

- Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, làm cơ sở cho việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về xây dựng đời sống văn hoá trong nhân dân bằng nhiều hình thức : Tổ chức học tập, thảo luận. Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền qua nhiều hình thức : truyền thanh, biểu ngữ, panô . . .

- Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho các tổ chức đoàn thể, lấy tổ chức đoàn thể làm hạt nhân cho công tác tuyên truyền. Tham mưu với cấp ủy Đảng xây dựng văn hoá, đạo đức, nếp sống mới cho một số nhân dân trong xã đang vi phạm và xuống cấp về đạo đức, lối sống.

- Xây dựng nhiều mô hình, thúc đẩy phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng trên địa bàn xã.

- Đào tạo và sử dụng cán bộ làm công tác văn hoá ổn định, hạn chế việc luân chuyển và kiêm nhiệm nhiều công tác.

CHƯƠNG 3

NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NAM DU TRONG NHỮNG NĂM TỚI ( 2007 – 2010 )

3.1 Quán triệt tinh thần văn kiện Đại hội Đảng các cấp. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền :

Từ khi Đảng ra đời và trong suốt lịch sử lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng ta luôn coi văn hoá là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng. Quan điểm này được đề cập trong cương lĩnh, đường lối, chiến lược của Đảng. Trong các văn kiện Đại hội III, IV, V, Đảng ta xác định cách mạng tư tưởng – văn hoá là một trong ba cuộc cách mạng phải tiến hành đồng thời ( cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng – văn hoá ). Ngay từ Đại hội V của Đảng, chủ trương xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở đã được đặt ra. Đây là một chủ trương lớn có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng văn hoá mới, lối sống mới và con người mới, phù hợp với đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tại Đại hội VII, cương lĩnh của Đảng đã xác định văn hoá là một trong 6 đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng, đó là nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đến Đại hội Trung ương 5 ( Khoá VIII ) Đảng ta xác định : “ Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ”. Tại Hội nghị Trung ương 9 ( Khoá IX ) Đảng ta xác định thêm “ Phát triển văn hoá đồng bộ với sự phát triển kinh tế ”. Như vậy trong từng thời kỳ cách mạng có sự bố trí nhịêm vụ khác nhau, nhưng thời kỳ nào Đảng cũng coi trọng sự nghiệp văn hoá. Gần đây tại Đại hội X, Đảng tiếp tục khẳng định : “ Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội ” chính là bước phát triển mới về nhận thức của Đảng về vị trí công tác văn hoá trước tình hình mới.

Hội nghị Trung ương 10 ( Khoá IX ) khẳng định tiếp tục thực hiện các giải pháp của Nghị quyết Trung ương 5 ( Khoá VIII ) và chỉ rõ cần tập trung thực hiện các giải pháp chủ yếu sau :

- Giải pháp hàng đầu là nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức Đảng và cấp ủy các cấp đối với lĩnh vực văn hoá.

- Phát huy tính năng động của các cơ quan Đảng, nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các hội sáng tạo văn học - nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật và thông tin, báo chí trong sự nghiệp van hoá, tạo nên sức mạnh tổng hợp.

- Đẩy mạnh giáo dục về chủ nghĩa xã hội, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, tạo chuyển biến rõ rệt về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, trí tuệ người Việt Nam theo 5 đức tính đã được Nghị quyết Trung Ương 5 ( Khoá VIII ) xác định.

- Tăng cường đầu tư cho văn hoá, phấn đấu để đến năm 2010 ít nhất đạt 1,8% tổng chi ngân sách của Nhà nước, tiếp tục đảm bảo kinh phí cho các chương trình mục tiêu văn hoá.

Trong những năm qua ( 2005 – 2006 ), thông qua việc học tập, quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, cán bộ, Đảng viên và nhân dân trong xã luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, nhắc nhở lẫn nhau trong giáo dục con em và bản thân gia đình mình chấp hành đường lối của Đảng, chính sách chủ trương của Nhà nước. Chính vì vậy mà mọi người dân luôn có ý thức trong việc giữ gìn an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội. Bản thân từng gia đình đã làm tốt bổn phận của người làm cha, làm mẹ trong việc giáo dục con cái, định hướng lý tưởng sống, ít có trẻ em vi phạm pháp luật và hư hỏng.

Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số quần chúng nhân dân chưa thật sự giác ngộ, bộ phận nhỏ cán bộ, Đảng viên vẫn chưa thể hiện hết vai trò, trách nhiệm của mình trong việc gương mẫu chấp hành một chủ trương, quy định của Nhà nước như : biểu hiện tình trạng mất đoàn kết, nhậu nhẹt bê tha, nói không đi đôi với làm, làm giảm lòng tin ở quần chúng nhân dân. Để giữ vững kỷ cương, phép nước, nhằm phấn đấu đạt xã văn hoá trong công tác xây dựng văn hoá chính trị và pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần phải làm cho mọi người ( kể cả cán bộ, đảng viên ) thông hiểu chủ trương, chính sách của Đảng, tôn trọng luật pháp Nhà nước, theo phương châm “ Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật ”. Từ đó nâng dần giác ngộ đối với chủ nghĩa xã hội, tăng cường đoàn kết liên minh công – nông – trí thức, khôi phục lòng tin của nhân dân với Đảng.

Để thực hiện nhiệm vụ đó, cần tiến hành tuyên truyền giáo dục thông qua các tổ chức đoàn thể, tổ chức các hội nghề nghiệp, các tổ chức sản xuất, các trường phổ thông, các phương tiện thông tin đại chúng. Chủ đề tuyên truyền giáo dục nhằm vào việc phổ biến sâu rộng Hiến pháp, các bộ luật, các chính sách và chủ trương của Đảng và Nhà nước ta. Hình thức tuyên truyền cần đa dạng, phong phú và thường xuyên. Cần nêu gương người tốt việc tốt và phê phán hiện tượng xấu công khai, có địa chỉ cụ thể. Điều quan trọng là việc thi hành pháp luật phải thật công bằng, nghiêm minh, tránh nể nang, bao che cho người có chức, có quyền mắc phải sai lầm hoặc phạm tội.



3.2Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn - nghiệp vụ cho tổ chức đoàn thể, lấy tổ chức đoàn thể làm hạt nhân cho công tác tuyên truyền :

Vận dụng những tư tưởng của Hồ Chí Mính và các bài học của cách mạng Việt Nam do Đại hội VI của Đảng tổng kết vào thời kỳ đổi mới. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI đã đề ra Nghị quyết số 08B/NQ HNTW “ Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ” với bốn quan điểm :

Một là, cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân.

Hai là, động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hoà các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân.

Ba là, các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng.

Bốn là, công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh: từ những kinh nghiệm của quá trình lãnh đạo cách mạng ở nước ta. Hội nghị Trung ương 8 khoá VI đã chỉ rõ rằng : “ Công tác quần chúng không chỉ là trách nhiệm của các đoàn thể mà còn là trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, có sự phối hợp với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mọi cán bộ, Đảng viên, nhân viên nhà nước đều phải làm công tác quần chúng theo chức trách của mình” . ( 3 )

Như vậy, khi Đảng đã cầm quyền, lực lượng làm công tác dân vận gồm : Đảng, Nhà nước và các tổ chức Đoàn thể. Mỗi tổ chức tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ của mình mà có nội dung, phương thức làm dân vận riêng.

Trong giới hạn của đề tài, là cán bộ Hội Nông dân, tôi xin được trình bày một số giải pháp của Hội Nông dân đã cùng các tổ chức đoàn thể khác đóng góp cho nhiệm vụ này.

Chỉ thị số 05/CT/TW ngày 24 tháng 3 năm 1987 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ghi rõ : “ Nông dân nước ta chiếm đại bộ phận số dân, có truyền thống yêu nước và cách mạng vẻ vang, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân đã có những cống hiến to lớn và quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà trước đây cũng như sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay ”.

Chỉ thị cũng đã chỉ rõ : Địa bàn hoạt động của Hội chủ yếu là cơ sở, xã ( phường, thị trấn có nông dân ) là cấp cơ sở của Hội. Dưới Ban chấp hành xã ( phường, thị trấn ) có các chi hội và các tổ hội, hội viên ở các ấp, xóm và gắn với các hình thức tổ chức kinh tế tập thể ở những nơi nông dân đã đi vào con đường làm ăn tập thể. Cần nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm để có hình thức và phương pháp hoạt động thích hợp của Hội ở cơ sở nhằm phân biệt hoạt động kinh tế của các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và hoạt động chính trị - xã hội của tổ chức Hội.

Bên cạnh đó, ngày 15 tháng 12 năm 2000, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 59/CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

Các đồng chí lãnh đạo Trung ương luôn quan tâm đền công tác nông dân. Nhân Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 5 Hội Nông Dân Việt Nam ngày 28

tháng 3 năm 1988, đồng chí Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh đã phát biểu : Với tinh thần “ Cách mạng là ngày hội của quần chúng, giai cấp nông dân hăng hái bước vào giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm xoá bỏ đói nghèo, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc ”

Ngoài ra, còn rất nhiều Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ như: Quyết định số 17/1998/QĐ. TTg ngày 24 tháng 01 năm 1998 về ban hành quy định trách nhiệm của các Bộ, các cấp chính quyền trong việc tạo điều kiện để các cấp Hội Nông Dân Việt Nam hoạt động có hiệu quả; Chỉ thị số 26/2001/CT.TTg ngày 9/10/2001 của Thủ tướng chính phủ về việc tạo điều kiện để Hội nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân; Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng, . . .

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng, sự giúp đỡ tạo điều kiện của Chính quyền và sự hợp tác của các Đoàn thể ở cơ sở và sự chỉ đạo sâu sắc của Hội cấp trên đối với Hội Nông dân cơ sở là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Nông dân cơ sở, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

Hội Nông dân ở cơ sở cần phải biến các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước thành hành động cụ thể. Mỗi cán bộ, hội viên nông dân là một chiến sĩ cách mạng tiên phong trên mọi lĩnh vực, góp phần thúc đẩy phong trào ngày càng vững chắc, rộng khắp.

3.3Xây dựng văn hoá, đạo đức và nếp sống mới cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân trên địa bàn xã Nam Du :

Là một xã đảo ở xa trung tâm đất liền ( trên 90 km ) và cách trung tâm Huyện ( khoảng 60 km ), trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, Mặt trận xã luôn thể hiện vai trò trách nhiệm của mình trong việc đẩy mạnh công tác tổ chức, xây dựng đời sống văn hoá trên địa bàn xã, mà trước hết coi việc xây dựng văn hoá, đạo đức và nếp sống mới cho nhân dân luôn là nhiệm vụ hàng đầu và cấp bách, đặc biệt khi Đảng ta chuyển đổi nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Bên cạnh những mặt tích cực, tác động của nền kinh tế thị trường đã làm cho bộ mặt của xã có một sự thay đổi thay đổi đáng kể : Đời sống của nhân dân từng bước cải thiện, nhân dân đại đa chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước nên ít có biểu hiện vi phạm đạo đức, lối sống, mối quan hệ giữa con người với con người đã thể hiện được truyền thống đạo lý của dân tộc ta vốn có từ xưa đến nay. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận nhỏ cán bộ, nhân dân trong xã còn vi phạm đạo đức, nếp sống như trong sản xuất kinh doanh còn trốn thuế, nạn làm hàng nháy, hàng giả, buôn bán hàng cấm, một số tệ nạn như : mại dâm trá hình, trộm cắp chưa được ngăn chặn triệt để, . . .

Xây dựng văn hoá đạo đức phải dựa trên cơ sở đẩy mạnh xây dựng phong trào nếp sống mới, xây dựng gia đình văn hoá mới và con người mới. Cần xây dựng phong cách lao động có kỹ thuật, kỷ luật, có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. Trong gia đình thì mọi người cần bình đẳng, hoà thuận, chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tôn trọng lao động. Nơi công cộng thì phải ứng xử lịch sự, văn minh, tôn trọng mọi người, tôn trọng tài sản chung, vệ sinh, trật tự, chấp hành đúng luật lệ, quy ước. Điều lưu ý là không nên quan niệm con người theo sự tưởng tượng siêu hình mà cần quan niệm con người mới là những con người bằng xương, bằng thịt có đủ những tình cảm, có những ưu và khuyết điểm như chính sự đa dạng và phong phú của cuộc đời. Chỉ có điều là con người mới chính là những con người nhìn thấy được khuyết điểm và luôn khắc phục những khuyết điểm ấy, đồng thời biết phát huy ưu điểm để ngày càng hoàn thiện hơn và vươn lên làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội ngày một cao hơn.

Cần truy quét những tàn dư văn hoá phản động, đồi trụy, lạc hậu, phong kiến, tiểu tư sản, tư sản, bài trừ các tệ nạn xã hội, bài trừ hũ tục mê tín dị đoan, cải tạo những tập quán lỗi thời do kẻ xấu từ bên ngoài đưa vào hoặc do một số ít người có quan điểm thương mại văn hoá gây ra. Khôi phục lại những tập quán đẹp trong ứng xử, giao tiếp giữa người với người trong gia đình, quan hệ xóm giềng và ngoài xã hội, . . .

Dân gian có câu : “ Có thực mới vực được đạo ”, do đó để xây dựng một xã hội với những con người có lối sống đẹp, có đạo đức tốt, có văn hoá cao. Điều quan trọng là ngoài việc sử dụng những biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nêu gương, phê phán hay cả trừng trị mà cần phải quan tâm giải quyết cuộc sống một cách thiết thực, phải lo cho mọi người có công ăn việc làm, đời sống ổn định, kinh tế phát triển, có như vậy công việc mới đạt kết quả.

3.4 Coi trọng công tác xây dựng phong trào văn hoá - nghệ thuật quần chúng trên địa bàn xã

Một bộ phận trọng yếu của đời sống văn hoá ở cơ sở là việc đưa nghệ thuật đến với nhân dân mà quan trọng là lôi cuốn và tổ chức được quần chúng tham gia hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật không chuyên.

Trong những năm qua, phong trào văn nghệ quần chúng ở xã có sự chuyển biến khá mạnh mẽ. Xã lập được câu lạc bộ Đàn ca tài tử, câu lạc bộ Hát với nhau và câu lạc bộ Không sinh con thứ ba, mỗi tháng sinh hoạt ít nhất cũng được 1 lần/ 1câu lạc bộ và hoạt động rất đều đặn. Hàng năm, nhân các ngày lễ lớn và các ngày kỷ niệm của các ngành đều có tổ chức thành chương trình hội diễn, thu hút rất nhiều người tham gia sáng tác và biểu diễn, nhiều chương trình , tiết mục, tác phẩm tự biên, tự diễn khá tốt, nhiều giọng hát hay. Kinh phí để nuôi dưỡng những hoạt động văn nghệ quần chúng có nhiều nguồn như : sự đóng góp của các nhà mạnh thường quân, các thành phần kinh tế - xã hội, của một số hộ khá giàu có tinh thần yêu văn hoá – văn nghệ, . . .

Các câu lạc bộ không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp. Từ đó phong trào văn nghệ quần chúng rất sôi nổi, góp phần nâng cao đời sống văn hoá ở cơ sở và qua đó phát hiện được nhiều tài năng đề cử tham gia các phong trào văn nghệ cấp trên hoặc với các đơn vị bạn.

Tuy nhiên, trong sinh hoạt còn một số tiết mục chưa thật sự đi vào lòng người xem, phong cách biểu diễn còn đơn điệu, một số tiết mục kém phần nghệ thuật, câu lạc bộ đàn ca tài tử đôi khi còn sử dụng bài ca có nội dung chưa phù hợp.

Để củng cố và phát triển phong trào văn nghệ quần chúng lên một bước mới cả về số lượng và chất lượng cần chú ý xây dựng và chăm lo phong trào từ các ấp. Hàng năm cần tổ chức hội thi cấp xã nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn, tổ chức giao lưu với các xã bạn để học tập, trao đổi kinh nghiệm.

Để nhân dân trong xã kịp thời có những món ăn tinh thần bổ ích, cấp ủy Đảng, Chính quyền, Ban Văn Hoá-Thông Tin cần xây dựng mạng lưới truyền thanh, trạm thông tin ( trong khi chờ được trên xây dựng nhà văn hoá ) để tuyên truyền, phổ biến rộng rãi hơn nữa phong trào văn nghệ quần chúng. Cần có cán bộ chuyên trách để quản lý nội dung cũng như hình thức sinh hoạt để đa dạng và phong phú các loại hình nghệ thuật. Thông qua các chương trình hội diễn bảo vệ giá trị chân, thiện, mỹ phê phán cái cũ, cái xấu cản trở việc xây dựng đời sống văn hoá trên địa bàn xã.

3.5 Cần coi trọng việc đào tạo và sử dụng cán bộ văn hoá ở địa bàn xã

Trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới, khâu cán bộ là quan trọng, có tính chất quyết định, vì cán bộ có vai trò vừa là nòng cốt, vừa là hướng dẫn, vừa là quản lý, lãnh đạo phong trào.

Sau khi chia tách từ xã An Sơn, các cấp lãnh đạo xã Nam Du đã nhận rõ tầm quan trọng của cán bộ, nên đã cố gắng bằng nhiều biện pháp đều cử được một đồng chí phụ trách lĩnh vực này, các câu lạc bộ đều chọn những thành viên có năng lực, đạo đức, phẩm chất tốt để lãnh đạo. Nhưng so với yêu cầu thì vẫn còn thiếu và yếu. Cán bộ phụ trách văn hoá lại chưa qua đào tạo chuyên môn, các chức danh câu lạc bộ chỉ kiêm nhiệm ( không có phụ cấp tài chính ) phần nào cũng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động.

Phương hướng tới cần phải quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, tốt về chất lượng, có thể bằng nhiều cách như một số địa phương khác đã làm như : thông qua đào tạo dài, ngắn hạn, tại chức, . . . Thông qua thực tiễn để phát hiện và bồi dưỡng cán bộ. Việc sử dụng cán bộ nên sắp xếp với sở trường thực tiễn để cán bộ đó phát huy được tài năng và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn đều phải được tiêu chuẩn hoá từng bước. Đã là cán bộ lãnh đạo chuyên môn, quản lý nghiệp vụ thì phải am hiểu công việc, không chung chung, qua loa. Phải vì công việc mà bố trí người, không nên vì người mà bố trí công việc, tránh tình trạng hễ là cấp ủy viên thì lãnh đạo ngành nào cũng được. Cần quan niệm rõ : Đảng lãnh đạo chuyên môn là lãnh đạo bằng Nghị quyết, Chỉ thị, bằng định hướng chứ không phải cá nhân từng đồng chí cấp ủy viên cần thiết trực tiếp vào các vấn đề chuyên môn. Cần phân loại cán bộ hệ thống Đảng, chính quyền, quản lý nghiệp vụ và cán bộ chuyên môn để có hướng đào tạo, sử dụng lâu dài và đúng sở trường cán bộ. Khi chuyển cán bộ từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, nên tham khảo cơ quan tại chỗ và cơ quan chuyên môn cấp trên của cán bộ.


C. PHẦN KẾT LUẬN


Việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Thông qua việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là nhằm để xây dựng con người mới và lối sống mới xã hội chủ nghĩa, nhằm làm cho mỗi con người vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ; chống lại cái ác và cái xấu cản trở công việc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước nói chung và xã Nam Du nói riêng.

Việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trên địa bàn xã Nam Du phải luôn luôn được coi là một nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài, đòi hỏi cấp ủy Đảng cần phải đề ra kế hoạch và chương trình hành động cụ thể, nhằm làm cho mỗi người sống và làm việc trên địa bàn một cách tự giác, chấp hành tốt đường lối của Đảng và chính sách, chủ trương, pháp luật của Nhà nước, góp phần tạo nên những sản phẩm văn hoá đáp ứng nhu cầu thưởng thức cho công chúng trên địa bàn huyện Kiên Hải nói chung và người dân lao động ở xã Nam Du nói riêng.

Trong quá trình xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, Ban văn hoá xã luôn phải thường xuyên tham mưu đề xuất với cấp ủy Đảng và chính quyền những giải pháp thích hợp, sát với đặc điểm, tình hình của các ấp. Có như vậy công tác xây dựng đời sống ở cơ sở trên địa bàn xã mới có kết quả tốt, nhanh chóng đẩy lùi những hành vi vi phạm pháp luật, xem thường kỷ cương, phép nước chạy theo lối sống thực dụng làm băng hoại các giá trị đạo đức và lối sống.

Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở phải trên cơ sở tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng và sự phối hợp giữa Mặt trận tổ quốc và các ban ngành, đoàn thể của xã để tạo ra một sức mạnh tổng hợp, đảm bảo cho công tác xây dựng đời sống văn hoá mới đạt kết quả tốt.



Là lực lượng đông đảo, đóng vai trò nòng cốt, Hội Nông dân cả nước nói chung, Hội Nông dân xã Nam Du nói riêng quyết tâm ra sức học tập, thực hiện phong trào ngày càng lớn mạnh , phấn đấu vì mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ”. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, tuyên truyền giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, đẩy mạnh phong trào “ Sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại ”, đẩy lùi tích cực, lạc hậu, khẳng định giá trị tốt đẹp của văn hoá Việt Nam, con người Việt Nam thời kỳ mới.

______________________________________

(3)Một số văn kiện của Đảng về công tác Dân vận (1976-2000),Nxb,CTQG, H,2000,Tr101




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương