Phạm Kim Khánh



tải về 0.58 Mb.
trang7/14
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích0.58 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   14

Bát chánh đạo
Con đường dứt khổ


Xuyên qua ba bài trước -- "Phật Giáo Và Vấn Đề Đau Khổ", "Ái Dục: Nguồn Gốc Của Đau Khổ", và "Niết Bàn, Chấm Dứt Đau Khổ" -- chúng ta đã thảo luận về ba chân lý thâm diệu đầu tiên của Tứ Diệu Đế. Đó là quan điểm của Phật Giáo về kiếp nhân sinh. 

Dựa trên triết thuyết nầy, Đức Phật vạch ra một lối sống thích nghi để đi đến chỗ trong sạch tuyệt đối và trí tuệ toàn hảo, Đó là Bát Chánh Đạo, con đường dẫn thoát ra khỏi vòng luân hồi sanh tử triền miên, và đưa chúng sanh vượt ra ngoài mọi hình thức đau khổ. Bát Chánh Đạo là phần thực hành của Phật Giáo.

Kinh Dhammacakkappavattana Sutta, Chuyển Pháp Luân, có đoạn như sau:

"Bây giờ, hởi nầy các tỳ khưu, đây là chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ. Đó là Bát Chánh Đạo: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, và Chánh Định."

Như vậy Bát Chánh Đạo là con đường chia làm tám chi, bao gồm tám năng lực hùng mạnh có tánh cách thiện. Tám chi nầy phải được tập trung lại để đánh đỗ một năng lực bất thiện là ái dục, dai dẳng ngủ ngầm bên trong ta. Giờ đây chúng ta hãy tìm hiểu từng chi một, và sau đó, nhìn chung vào toàn thể Con Đường.

Chánh Kiến


Chánh Kiến (sammà ditthi) là tri kiến chân chánh, hiểu biết đúng. Sự vật như thế nào, hiểu sự vật đúng như vậy. Hiểu sâu vào bên trong thực tướng của sự vật chớ không phải hiểu phớt trên bề mặt. Đến mức cùng tột, Chánh Kiến là thấu triệt thực tướng của ngũ uẩn, tức thấu triệt bản chất thật sự của chính mình. Nói theo một cách, Chánh Kiến là chứng ngộ Tứ Diệu Đế. Tuy nhiên, trước khi đạt đến mức độ hiểu biết cao siêu ấy, trong nghĩa thông thường, Chánh Kiến là phân biệt chánh tà, biết điều nào là thiện, và điều nào bất thiện. Muốn thực hành Giáo Pháp mà không có nền tảng Chánh Kiến vững chắc, lắm khi phải lầm đường lạc nẻo, thay vì hướng về mục tiêu, càng tách rời ra xa. 

Quan kiến hướng dẫn hành động. Sự hiểu biết luôn luôn nằm phía sau những nỗ lực. Nếu hiểu biết sai lầm, tà kiến sẽ dẫn dắt đến những hành động lầm lạc có tác dụng tạo đau khổ. Ngược lại, nếu hiểu biết chân chánh, Chánh Kiến sẽ đưa đến hành động chân chánh và do đó, hướng dẫn về con đường thoát khổ. Mặc dầu sự hướng dẫn sơ khởi nầy vẫn còn là khái niệm mù mờ, hình như không đưa đến hậu quả quan trọng, nhưng nhìn lại tận tường, đó là bước đầu có tánh cách quyết định cho toàn thể tiến trình phát triển tinh thần.

Ngài Ledi Sayadaw, một vị cao tăng người Miến Điện, phân Chánh Kiến làm ba giai đoạn. Chánh Kiến là:

1) Sự hiểu biết chân chánh rằng ta là sở hữu chủ của của cái nghiệp mà ta đã tạo.

2) Sự hiểu biết chân chánh về thiện và bất thiện nghiệp, về hậu quả của nghiệp đã tạo, về sự hiện hữu của những cảnh giới ngoài cảnh người, về sự hiện hữu của những năng lực siêu phàm.

3) Sự hiểu biết về Tứ Diệu Đế.

1. Hiểu biết chân chánh rằng ta là sở hữu chủ của cái nghiệp mà ta đã tạo.

Đức Phật dạy: 

"Tất cả chúng sanh là sở hữu chủ của cái nghiệp của mình, là thừa kế của cái nghiệp của mình, sanh ra do cái nghiệp của mình, ẩn náu trong, và nâng đỡ bởi, cái nghiệp của mình. Bất luận nghiệp nào mà ta đã tạo, dầu thiện hay bất thiện, thì ta sẽ là thừa kế (lãnh trọn hậu quả) của nó."

Trong đời sống, ta có thể cần cù làm lụng, kiệm cần dành để, và tạo nên nhà cửa, sự nghiệp, vòng vàng, trang sức v.v... Ta cũng có thể thừa hưởng những vật trên do ông bà, cha mẹ, truyền lại. Ta gọi đó là "của mình", hay nói mình là sở hữu chủ của những vật đó. Tuy nhiên, dầu ta có cố bám chắc và tận lực gìn giữ đến đâu, nó vẫn ở với ta một cách tạm thời. Bao nhiêu yếu tố như hỏa hoạn, bão lụt, trộm cướp, kẻ thù nghịch, chiến tranh v.v... và cuối cùng, cái chết phải đến, luôn luôn sẵn sàng để tước đoạt quyền làm chủ của ta. Chỉ có một điều -- nghiệp thiện hay bất thiện mà ta đã tạo -- sẽ không bao giờ rời ta, dầu ở trong kiếp sống nầy hay trong nhiều kiếp tương lai. Không có kẻ thù nghịch hay trộm cướp nào tranh đoạt, không có chiến tranh hay thiên tai nào tiêu hủy được cái nghiệp của ta. Do vậy Đức Phật dạy rằng, "Tất cả chúng sanh là sở hữu chủ của cái nghiệp của mình." Vì cái nghiệp mà ta đã tạo theo dính liền với ta, ta sẽ thừa hưởng hậu quả của nó như phần gia sản, sẽ tái sanh vào trạng thái nào cũng do nó, nó là những người họ hàng quyến thuộc không bao giờ rời ta. Ta sẽ ẩn náu an toàn trong thiện nghiệp và nhờ thiện nghiệp nâng đỡ. Vậy ta phải chăm sóc, giữ gìn cái nghiệp cho được luôn luôn tốt đẹp, phải biết thương, biết bảo tồn thiện nghiệp hơn là thương yêu và bảo tồn chính mạng sống của ta. Ta phải biết sợ, biết lánh xa bất thiện nghiệp hơn là ta sợ và lánh xa cái chết của ta. Thế thường, ta muốn sống, và sợ chết. Để bảo tồn sự sống và ngăn chận cái chết, lắm khi ta hành động bất chánh và do đó, tạo những nghiệp bất thiện vô cùng tai hại mà trong nhiều kiếp sống chính ta sẽ phải gánh chịu hậu quả. Nên nhớ rằng chết ở đây là tái sanh, sống ở một nơi khác, và khi rời bỏ cảnh giới hiện tại ta cũng lìa bỏ tất cả, chỉ mang theo cái nghiệp mà ta đã tạo. Trong quyển "The Buddha and His Teachings" Ngài Đại Đức Nàrada viết: 

"Tài sản sự nghiệp mà ta trìu mến bao nhiêu, thân bằng quyến thuộc mà ta yêu quý bao nhiêu, sẽ không đi theo ta. Chắc chắn như vậy. Cho đến cái thân nầy mà ta gọi là "của ta" cũng vậy. Từ cát bụi nó đến, nó sẽ trở về với cát bụi. Danh vọng ảo huyền, vinh quang trống rỗng, tất cả đều tiêu tan theo mây, theo gió. Chúng ta đến đây một thân, một mình. Vẫn một thân một mình, chúng ta sẽ phiêu bạt trong cơn bão táp, giữa đại dương của vòng luân hồi, trôi giạt đó đây theo cái nghiệp ..."

2. Hiểu biết chân chánh về thiện nghiệp và bất thiện nghiệp, về hậu quả của nghiệp đã tạo, về sự hiện hữu của những cảnh giới ngoài cảnh người, về sự hiện hữu của những năng lực siêu phàm.

Nghiệp là gì và tạo nghiệp bằng cách nào? Nghiệp là hành động có tác ý. Tạo nghiệp bằng ba đường lối là tư tưởng, lời nói và việc làm. Tất cả những hành động có tác ý, thực hiện bằng thân, khẩu, ý, dầu thiện hay bất thiện, đều tạo nghiệp. Những hành động không cố ý, không có chủ tâm, nghĩa là không có tác ý (cetanà), mặc dầu là đã biểu hiện ra ngoài bằng lời nói hay việc làm, đều không tạo nghiệp. Hành động thiện tạo thiện nghiệp và đưa đến hậu quả là hạnh phúc, tinh thần hay vật chất. Hành động bất thiện đưa đến quả đau khổ, vật chất hay tinh thần.

Ba hành động bằng thân tạo nghiệp bất thiện là: sát sanh, trộm cắp, và tà dâm.

Bốn hành động bằng lời nói tạo nghiệp bất thiện là: nói dối, nói đâm thọc, nói thô lỗ cộc cằn, nói nhảm nhí.

Ba hành động bằng ý tạo bất thiện nghiệp là: tư tưởng tham lam, sân hận, và tà kiến.

Những hành động đối nghịch với mười điều trên, được biểu hiện qua ba đường lối thân, khẩu, ý, dầu nhằm mục đích tạo dựng tài sản, để sinh sống, hay để vun bồi kiến thức, đều được coi là thiện nghiệp.

Người có Chánh Kiến hiểu biết chân chánh rằng những hành động như bố thí vật thực cho thú, cho đến người cư sĩ, hay dâng cúng đến chư tăng, nếu làm với tâm từ, sẽ đem lại hậu quả tốt đẹp trong kiếp sống nầy và nhiều kiếp khác. Dầu cúng dường đông đảo chư tăng với nhiều lễ vật quý giá, hay bằng một món quà nhỏ mọn, nếu làm với tình thương, với tâm từ, vì lòng tốt muốn giúp người, vì lòng thành thật muốn đem phúc lợi đến người, hành động ấy sẽ đem lợi ích cho người làm. Cùng thế ấy, những hành động như giữ Bát Quan trong những ngày giới, hằng ngày trong sạch giữ gìn năm giới, hành thiền, quy y Tam Bảo v.v... đều là thiện nghiệp.

Hiểu rằng mọi hành động thiện hay bất thiện đều tạo quả; hiểu rằng phụng dưỡng cha mẹ , làm cho cha mẹ được hữu phúc, là tạo thiện nghiệp và sẽ được phước báu về sau; hiểu rằng thật sự có những chúng sanh hóa sanh, đột nhiên được sanh ra, bỗng nhiên xuất hiện mà không phải trải qua hình thức thai bào; hiểu rằng có cảnh giới nầy, mà cũng có những cảnh giới khác ... những hiểu biết như vậy là chân chánh. Người có Chánh Kiến cũng hiểu biết rằng trong thế gian có những bậc cao minh có khả năng siêu phàm như các bậc Thánh Tu-Đà-Huờn, Tư-Đà-Hàm, A-La-Hán.

3. Hiểu biết chân chánh về Tứ Diệu Đế.

Đến mức cùng tột, Chánh Kiến là hiểu biết chân chánh về Bốn Chân Lý Thâm Diệu trong thế gian (Tứ Diệu Đế): Khổ, nguyên nhân sanh khổ, chấm dứt đau khổ, và con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ.

Chánh Kiến ở mức sơ khởi là hiểu biết đúng con đường. Như người kia lạc lối, bỡ ngỡ trước nhiều ngã đường vì không biết chọn ngã nào, may thay chợt nhận ra tấm bảng chỉ đàng bên cạnh một con đường mòn xưa cũ. Bảng chỉ đàng là Giáo Pháp của Đức Phật, khách lữ hành thênh thang lạc bước là phần đông chúng ta, những người sơ cơ. Đường mòn là con đường cũ xa xưa mà chư Phật và chư vị A-La-Hán đã trải qua. Giai đoạn đầu tiên của Chánh Kiến là nhận ra Con Đường, tức hiểu biết chân chánh đưa hành giả đến hành động trong sạch, tạo thiện nghiệp để thọ hưởng những trạng thái nhàn lạc trong vòng luân hồi. Rồi từ đó, đặt chân lên Con Đường, và tiến dần đến mức cùng tột là chứng ngộ thực tướng của vạn pháp. 

Cũng có người đã lãnh hội đầy đủ luật nhân quả, mà vẫn còn hạn chế ước vọng của mình trong những thành tựu của thế gian. Những người nầy có những hành động đạo đức thanh cao để tích trữ phước báu và thọ hưởng khoái lạc, danh vọng, quyền thế v.v... trần gian, trong cảnh người hoặc những cảnh trời nhàn lạc. Tuy nhiên, trong sự hiểu biết bằng lý trí -- Chánh Kiến ở tầm mức tại thế -- không có gì để đưa con người vượt khỏi định luật nghiệp báo, thoát ra khỏi vòng tạo nhân và gặt quả. Để giải thoát hoàn toàn ra khỏi vòng sanh tử luân hồi, cần phải có sự hiểu biết sâu sắc, nhận chân thực tướng của vạn pháp, Chánh Kiến siêu thế.

Chánh Kiến cao siêu có khả năng đưa đến giải thoát là thấu đạt Tứ Diệu Đế. Đức Phật dạy:

"Bây giờ, Chánh Kiến là gì? Đó là hiểu biết đau khổ, hiểu biết nguyên nhân sanh đau khổ, hiểu biết sự chấm dứt đau khổ, và hiểu biết con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ." (Digha Nikàya, Trường A-Hàm, bài kinh số 22)

Bát Chánh Đạo bắt đầu với một khái niệm về Tứ Diệu Đế, chỉ hiểu biết mù mờ xuyên qua lý trí, rồi tiến dần đến tuyệt đỉnh là trực giác chứng nghiệm, thấu triệt những chân lý cao siêu thâm diệu ấy và trở nên hoàn toàn giác ngộ. Như vậy có thể nói rằng hiểu biết Tứ Diệu Đế là bước đầu mà cũng là mục tiêu tối hậu của con đường thoát khổ.

Chánh Kiến về Tứ Diệu Đế phát triển qua hai giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên được gọi là Chánh Kiến phù hợp với chân lý (saccanulomika sammàditthi. Sammàditthi là chánh kiến. Sacca là chân lý. Anuloma là thuận chiều với, đúng với, phù hợp với). Giai đoạn thứ nhì là chánh kiến thâm sâu vào chân lý, thấm nhuần chân lý (saccapativeda sammàditthi. Pativeda là đi sâu vào, tiến thâm sâu vào bên trong). Chánh Kiến phù hợp với chân lý là hiểu biết rõ ràng ý nghĩa của bốn chân lý cao siêu thâm diệu của đời sống (Tứ Diệu Đế). Sự hiểu biết nầy phát sanh do nhờ học hỏi và nghiên cứu những chân lý ấy (văn tuệ). Sau đó, nhờ suy tư sâu vào mà ánh sáng của kinh nghiệm rạng chói dần dần đến lúc vững chắc tin tưởng như vậy (tư tuệ).

Tuy nhiên, đến mức độ nầy hành giả cũng chưa hoàn toàn thấm nhuần chân lý. Sự hiểu biết của hành giả đến lúc bấy giờ chưa tuyệt đối là hoàn bị, vì đó chỉ là một quan niệm rõ ràng, thay vì là tri giác. Muốn tiến đến mức độ thật sự chứng nghiệm phải trải qua thời gian tu tập, thực hành pháp môn hành thiền (tu tuệ). Trước tiên, an trụ tâm vững chắc, và sau đó, trau giồi và phát triển tuệ Minh Sát (vipassanà nàna).

Tuệ Minh Sát phát sanh do công trình quán chiếu và sáng suốt suy niệm về ngũ uẩn, những yếu tố của kiếp sinh tồn, nhằm phân biện rõ ràng những đặc điểm của nó. Đến mức tuyệt đỉnh của công trình suy niệm nầy hành giả tách rời cái nhìn của mình ra khỏi những hiện tượng hữu lậu của ngũ uẩn và nhắm vào trạng thái vô lậu, Niết Bàn. Lúc bấy giờ, nhờ tuệ Minh Sát đã trở nên sắc bén thâm sâu, hành giả có thể thành tựu mục tiêu, chứng ngộ Niết Bàn. ái dục chấm dứt. Trí tuệ bừng sáng và hành giả rõ ràng thấy rằng ái dục thật sự là nguyên nhân của mọi hình thức đau khổ và Bát Chánh Đạo thật sự là con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ. Như vậy, Chánh Kiến thấm nhuần Tứ Diệu Đế phát sanh vào giai đoạn cuối cùng của con đường chớ không phải vào lúc sơ khởi.

Giai đoạn đầu tiên của người có Chánh Kiến là nhận ra Con Đường. Rồi từ đó, đặt chân lên Con Đường và nhờ Chánh Kiến soi đường chỉ lối, tiến dần đến mục tiêu cùng tột, chứng ngộ thực tướng của vạn pháp.


1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương