Phạm Kim Khánh



tải về 0.58 Mb.
trang5/14
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích0.58 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14

Vài Tích Chuyện Liên Quan Đến Ái Dục
Viết Theo Những Quyển "Buddhist Legends" (Harward Oriental Series)


Chuyện Con Cá Vàng

Giáo lý sau đây được Đức Bổn Sư truyền dạy khi Ngài ngự tại Jetavanna Vihàra (Tịnh Xá Kỳ Viên).

Chuyện rằng vào một thời xa xôi trong quá khứ, hai anh em trong một gia đình nọ xuất gia với các vị đệ tử của Đức Phật Kassapa (Ca Diếp). Ông anh tên Sodhana và người em là Kapila. Cả hai đều thi hành đầy đủ bổn phận đối với thầy tế độ. Một hôm, hai vị bạch hỏi thầy, "Kính Bạch Ngài, trong giáo lý nầy có tất cả bao nhiêu gánh nặng (tức bao nhiêu pháp tu tập), và được giải thích là có hai, "pháp học và pháp hành". Pháp học là công trình chuyên học về giáo lý và giới luật, và pháp hành là thực hành thiền tập. Sư Sodhana, người anh, chọn pháp hành. Sau năm năm thọ huấn với thầy, Ngài vào rừng sâu tận lực kiên trì tinh tấn hành thiền và sau cùng chứng đắc Đạo Quả A-La-Hán.

Người em, Sư Kapila, nghĩ mình còn trẻ, chọn pháp học với ý định về lúc niên cao tuổi lớn sẽ thực hành thiền tập. Ngài chuyên cần tu học và thuộc nằm lòng Tam Tạng Pháp Bảo. Nhờ học sâu hiểu rộng kinh điển, Ngài giải thích rành rẽ Giáo Pháp và thâu nạp đông đảo đệ tử và thiện tín. Tuy nhiên, đam mê trong chất say của danh vọng mà sức học uyên thâm của Ngài đã tạo, Ngài đâm ra tự cao ngã mạn. Lắm khi có vị nào nói điều gì mặc dầu đúng, Ngài cũng ỷ mình giỏi, bác bỏ và cho là sai. Nhiều lần chư sư huynh đệ khuyên nhủ, "Nầy Sư Huynh, không nên làm như thế" và nhắc nhở Ngài giữ gìn giới luật trong sạch. Nhưng Ngài trả lời, "Sư cũng giống như bàn tay nắm lại, trống rỗng, không có gì hết, biết gì mà nói." Đại Đức Sodhana nghe được lời tường thuật và hay biết tác phong bất nhã của em cũng trở về khuyên lơn, "Nầy Sư Đệ, người tu hành như Sư phải có tác phong xứng đáng và một đời sống đạo đức trong sạch". Nhưng Sư Kapila cũng không quan tâm đến lời anh. Ngày nọ, trong khi chư Tăng tụ họp ở chánh điện để hành lễ Pàtimokkha (lễ tuyên đọc Giới Bổn), Đại Đức Kapila hiên ngang lên ngồi trên pháp tọa tay cầm quạt, đọc lên những câu hỏi vị nào có gì sám hối, như thường lệ. Nhưng chư tăng nghĩ rằng Sư Kapila không có tác phong đạo đức trong sạch thì sám hối có ích gì. Vì lẽ ấy ai nấy ngồi im. Sau cùng Sư Kapila tuyên bố, "Nầy chư Huynh, không có Giáo Pháp, không có Giới Luật, vậy chư Huynh có nghe đọc Pàtimokkha (Giới Bổn) hay không thì cũng vậy, không có gì khác." Do những hành động tương tợ, Đại Đức Kapila đã làm hại rất nhiều những lời dạy của Đức Phật Kassapa và gây trở ngại không ít cho công cuộc truyền bá Giáo Pháp. Do nhân bất thiện đã gieo ấy sau khi viên tịch, Đại Đức Kapila tái sanh vào khổ cảnh và đến thời Đức Phật Gotama, làm cá trong dòng sông Aciravati.

Một hôm có người chài lưới bắt được một con cá đẹp lạ thường, màu vàng óng ánh trông như một khối vàng sáng rực. Ngư ông dâng cá đến vua để được lãnh thưởng. Vua nghĩ rằng Đức Bổn Sư sẽ biết lý lịch con cá, và đem cá đến chùa để bạch hỏi Đức Thế Tôn vì lý do nào cá được có màu vàng tươi đẹp lạ thường như vậy. Khi cá vừa mở miệng ra thì mùi tanh hôi bay tỏa, thúi cùng khắp ngôi tịnh xá.

Đức Thế Tôn dạy: 

-- Tâu Đại Vương, vào thời kỳ mà giáo lý do Ngài Kassapa truyền dạy được hoằng khai trên thế gian thì cá nầy là một vì sư tên Kapila, có sức học kinh điển uyên thâm và thâu nạp đông đảo thiện tín. Nhưng vì đắm say theo danh lợi, nhà sư Kapila có nhiều hành động khinh người và lời nói bất nhã, khinh miệt những ai không theo sư, do đó làm trở ngại cuộc hoằng dương Giáo Pháp của Đức Phật Kassapa, tạo nhiều nghiệp bất thiện. Vì lẽ ấy, sau khi viên tịch, Sư Kapila tái sanh vào khổ cảnh và khi dứt nghiệp ở khổ cảnh, tái sanh làm cá nầy. Nhờ lâu ngày có học và giảng dạy Giáo Pháp nên Kapila tái sanh làm con cá có màu vàng tươi đẹp. Nhưng do nghiệp ngã mạn, mạ lỵ chư Tăng và gây trở ngại cuộc hoằng pháp, cá có hơi thở hôi thúi như vậy. Vào lúc ấy, khi thấy trạng thái tâm của đông đảo chư tăng và thiện tín hiện diện đã được chuẩn bị đầy đủ, sẵn sàng để lãnh hội Giáo Pháp, Đức Thế Tôn mở lời:

"Một đời sống thanh cao, đạo đức và thánh thiện


Đó là châu ngọc quý báu nhất trên đời."

Rồi Ngài giảng dạy trọn vẹn bài kinh mà sau nầy được ghi chép dưới tựa đề Kapila Sutta, nằm trong bộ Sutta Nipàta của Tạng Kinh, Sutta Pitàka. 

Khi chấm dứt, Ngài đọc những câu kệ ngôn sau đây:

"Bên trong con người dể duôi, ái dục tăng trưởng nhanh chóng như loại dây leo. Nó nhảy chuyền từ kiếp nầy sang kiếp khác như loài khỉ tìm trái cây trong rừng." (câu 334)

"Trên thế gian nầy, sầu muộn của người bị khát vọng khắng khít và đê hèn ấy tràn ngập, sẽ sinh sôi nảy nở tựa hồ như cỏ birana được tưới nước đầy đủ." (câu 335)

"Những sầu muộn sẽ lăn tròn, tách rời người đã khắc phục ái dục khó trị và đê hèn ấy như giọt nước rời lá sen." (câu 336)

"Như vậy, Như Lai khuyên dạy: may mắn thay cho các con, tất cả các con đang tụ họp tại đây! Hãy đào xới ái dục tận gốc rễ như người ta đào lấy rễ ngọt ngào của cỏ birani. Chớ để Ma Vương mãi mãi đè bẹp các con như trận lụt làm rạp đám lát." (câu 337)

Chuyện Con Heo Nái

Giáo lý nầy do Đức Bổn Sư tuyền dạy khi Ngài lưu ngự tại VeÄuvana Vihàra (Trúc Lâm Tịnh Xá).

Chuyện thuật rằng ngày kia, trên đường đi vào thành Ràjagaha (Vương Xá) trì bình, khi nhìn thấy một con heo nái, Đức Phật mĩm cười.[4] Đức Ànanda nhìn thấy vừng hào quang phát tủa ra từ miệng Đức Phật liền bạch hỏi, "Bạch Hóa Đức Thế Tôn, vì lý do nào Ngài mĩm cười?" Đức Phật trả lời, "nầy Ónanda, hãy nhìn con heo nái kia." -- "Bạch Ngài con thấy."

"Trong thời kỳ của Đức Phật Kakusandha, heo nái kia là con gà mái thường sống quanh quẩn trong chùa. Hằng ngày gà tìm thức ăn bên ngoài chánh điện, trong khi một vài vị sư tu thiền đọc lên những bài kinh về thiền Minh Sát. Chỉ nhờ nghe những âm thanh mà không hiểu ý nghĩa của lời kinh, sau khi chết gà tái sanh vào hoàng cung làm công chúa có tên là Ubbari. Ngày nọ Công Chúa Ubbari nhìn thấy một đống vòi. Ngay lúc ấy bà liền tập trung tư tưởng, chú tâm niệm vào đống vòi và chứng đắc Sơ Thiền. Trong phần còn lại của kiếp ấy bà sống trong Sơ Thiền, và do đó, sau khi qua đời, tái sanh vào cảnh trời. Lúc tuổi thọ ở cảnh trời chấm dứt vì nghiệp lực tốt được tích trữ đã hết, nghiệp bất thiện đã gieo trong những tiền kiếp xa xưa giờ đây trổ sanh, bà tái sanh trở lại làm con heo nái."

Khi nghe Đức Phật thuật lại lý lịch heo nái như vậy chư tăng, do Ngài Ànanda hướng dẫn theo trì bình với Đức Phật lấy làm xúc động, nhận thức rằng cho đến khi thành đạt Đạo Quả Tu Đà Huờn, cuộc đi thênh thang trong vòng luân hồi quả thật là bấp bênh, bất ổn định. 

Nhân cơ hội nầy Đức Phật truyền dạy:

"Như cái cây mà rễ còn vững chắc và không bị động đến mặc dầu bị chặt ngã, vẫn còn đâm chồi nở tược, cùng thế ấy, bao giờ lòng ái dục tiềm ẩn chưa bị tận diệt, sầu muộn ấy còn phát sanh trở đi trở lại triền miên." (câu 338)

"Bên trong kẻ nào ba mươi sáu dòng ái dục [5] tuôn chảy mạnh mẽ đến tâm hỷ lạc, [6] tham ái cuồn cuộn lôi cuốn kẻ si mê ấy đi như một luồng thác lũ." (câu 339)

"Luồng ái dục tràn ngập khắp nơi. Loài dây leo ái dục đâm chồi [7] và bám vững. Đã thấy loài dây leo đâm chồi, hãy dùng trí tuệ bứng tận gốc rễ." (câu 340) 

"Giữa chúng sanh, hỷ lạc phát khởi, cuộn chảy đến ngũ trần, và những chúng sanh ấy say mê chìm đắm trong ái dục. Thiên về dục lạc, chúng đi tìm dục lạc. Đúng vậy, người như thế đi đến sanh và diệt." (câu 341)

"Kẻ bị bao trùm trong ái dục kinh hoàng như thỏ nằm trong rọ. Bị thằng thúc và trói buộc [8] siết chặt, kẻ ấy chịu đau khổ triền miên, trở đi, trở lại." (câu 342)

"Kẻ bị bao trùm trong ái dục kinh hoàng như thỏ nằm trong rọ. Vậy, thầy tỳ khưu có ý nguyện thành đạt trạng thái không dục vọng (Niết Bàn) phải xa lìa ái dục." (câu 343)

Kinh sách ghi rằng sau kiếp tái sanh làm heo nái bà tái sanh trở đi trở lại mười ba kiếp, và vào thời Đức Mahà Tissa bà xuất gia. Sau khi nghe Đức Mahà Tissa giảng kinh Mahà Satipatthàna (Đại Niệm Xứ) bà chứng đắc Đạo Quả Tu Đà Huờn và về sau, khi nghe kinh Asivipassa Sutta tại chùa Kallaka Mahà Vihàra, bà thành đạt Đạo Quả A-La-Hán. Trong ngày nhập Đại Niết Bàn, theo lời yêu cầu của đông đảo chư tăng, ni, bà thuật lại những kiếp sau cùng của bà và chấm dứt bằng lời khuyên nhủ. "Mỗi người hãy kiên trì tinh tấn tu tập để thành đạt mục tiêu cứu cánh."



Vị Sư Huờn Tục

Giáo lý nầy được Đức Bổn Sư truyền dạy khi Ngài lưu ngự tạiVeÄuvana Vihàra (Trúc Lâm Tịnh Xá).

Chuyện thuật rằng có vị sư kia đã từng xuất gia với Ngài Kassapa, và chứng đắc Tứ Thiền. Ngày kia đến nhà người cậu làm nghề thợ bạc, sư thấy nhiều món đồ đẹp, phát tâm ham muốn nên không tiếp tục đời sống xuất gia nữa mà huờn tục. Nhưng lúc trở về đời sống tại gia cư sĩ ông lại biếng nhác nên không có công ăn việc làm. Do đó ông kết hợp với bạn xấu, đi trộm cắp, cướp giựt của người, và một hôm nọ bị bắt.

Lính trói tay dẫn đi khắp đường phố, dừng lại ở mỗi ngã tư đường để dùng roi đánh đập ông, và sau cùng đến pháp trường để hành quyết. Đức Kassapa trì bình đi ngang qua thấy vậy xin cho ông được tháo dây trói buộc, rồi bảo ông hãy nhớ lại đề mục hành thiền mà trước kia đã giúp ông đắc Tứ Thiền, và tận lực chuyên niệm. Ông nghe lời, làm theo lời nhắc nhở của thầy, và nhập trở lại vào Tứ Thiền. Khi đến giờ hành quyết, lính đem sắt nướng đỏ chỉa vào người ông từ bốn phía, và gươm đao giáo mác tứ bề sẵn sàng đâm chém. Nhưng tội nhân vẫn bình thản như thường, không tỏ ra vẻ gì rung động hay lo sợ. Hằng trăm lính bao quanh, hung hăng tay cầm khí giới, nhưng tên cướp vẫn ung dung tự tại. Bao nhiêu người hiện diện lấy làm kinh ngạc. Lính hoản cuộc hành quyết để tâu lại tự sự cho vua. Vua truyền lệnh tha bổng tội nhân. Trong lúc ấy có người bạch lại với Đức Thế Tôn. Ngài liền hiện đến ngay trước mặt ông sư huờn tục và thuyết giảng Giáo Pháp, xong đọc câu:

"Người không còn ham muốn đời sống tại gia, tìm thỏa thích trong cảnh rừng hoang vắng vẻ và, mặc dầu thoát ra khỏi ham muốn đời sống tại gia, vẫn chạy trở về chính cái nhà ấy. Hãy đến đây, nhìn xem con người ấy! đã thoát ly còn chạy trở vào vòng trói buộc." (câu 344)

Lúc bấy giờ, mặc dầu đang lâm nguy, ông sư huờn tục chăm chú nghe Giáo Pháp và hướng tâm niệm về ba đặc tướng vô thường, khổ, vô ngã của đời sống, đắc Quả Tu-Đà-Huờn. Trong khi thọ hưởng phỉ lạc của Đạo Quả ông bay bổng lên không trung, đảnh lễ Đức Bổn Sư và, giữa đám đông gồm cả vua, ông chứng ngộ Đạo Quả A-La-Hán.



Dây Trói Buộc

Giáo lý nầy do Đức Bổn Sư truyền dạy khi Ngài ngự tại Jetavana Vihàra (Kỳ Viên Tịnh Xá).

Chuyện rằng vào thuở ấy những người phạm tội ác như cướp của giết người hay phá khuấy cư dân, thì bị dẫn đến Vua xứ Kosala. Vua truyền lệnh dùng dây thừng, dây gai, để xích trói các tội nhân ấy. 

Vào lúc bấy giờ có ba mươi vị sư từ thôn quê đến hầu Phật, vào đảnh lễ Ngài xong, các sư xin kiếu về tịnh thất. Qua ngày hôm sau các vị ấy vào thành Sàvatthi (Xá Vệ) trì bình, đi ngang qua khám đường và thấy các tù nhân. Lúc trở về chùa vào buổi chiều, các vị sư đến hầu Phật và bạch hỏi Ngài, "Bạch Hóa Đức Thế Tôn, hôm nay, trong khi đi trì bình, chúng con đi qua khám đường và thấy các tù nhân. Những người nầy bị trói bằng dây thừng, dây gai và xích lại chặt chẽ. Trông hình như họ đang chịu đau khổ vô cùng. Họ không thể phá vỡ gông cùm để thoát thân. Bạch Hóa Đức Thế Tôn, có chăng những trói buộc chặt chẽ hơn?" 

Đức Phật giải thích: 

"Nầy chư tỳ khưu, các dây trói buộc ấy thật không chặt chẽ lắm đâu, nếu so với trói buộc của những đam mê xấu xa đê tiện, trói buộc của ái dục, trói buộc của tâm luyến ái, bám níu vào tài sản, sự nghiệp, con cái, vợ, chồng. Đó là dây trói buộc cả trăm lần, hơn nữa, cả ngàn lần chặt chẽ và vững chắc hơn các loại dây mà các con thấy. Tuy nhiên, dầu các trói buộc ấy có chặt chẽ đến đâu, bậc thiện trí vẫn có đủ khả năng để phá vỡ, và Ngài dạy: 

"Dây làm bằng sắt, gỗ, hay gai, ràng buộc không bền chặt. Bậc thiện trí dạy như thế. Tâm luyến ái, bám níu vào kim cương, đồ trang sức, vợ, con, là trói buộc bền chắc hơn nhiều." (câu 345)

"Trói buộc ấy thật bền chắc, bậc thiện trí dạy như vậy. Nó trì xuống, tuy mềm mỏng, nhưng rất khó tháo gỡ. Chính loại dây ấy, bậc thiện trí cũng cắt lìa và, từ bỏ thế gian, không luyến ái, từ khước mọi dục lạc." (câu 346)


 

Chú thích:

[3] Xem Hành Khổ, Phần I

[4] Sách Compendium of Philosophy ghi nhận rằng kinh sách Phật Giáo phân biệt sáu hạng cười: 1. sita, là nụ cười tế nhị, chỉ biểu hiện niềm vui trên gương mặt; 2. hasita, nụ cười nhếch môi vừa để lộ chót răng; 3. vihasita, cười khẻ, tạo nên một tiếng động nhỏ; 4. upahasita, cười đến nhúc nhích đầu, vai, và tay; apahasita, cười hỷ hạ đến ra nước mắt; 6. atihasita, cười ngã nghiêng ngã ngữa, từ đầu đến chân đều di động. Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác mĩm cười với bốn loại tâm Hành Đẹp (sobhana kiriya citta) hợp với trí tuệ và cảm giác hạnh phúc. (Trích dịch từ quyển A Manual of Abhidhamma, tác giả Nàrada Mahà Thera)

[5] Ba mươi sáu loại ái dục -- xem bài viết nầy, từ trang 41. Có sáu loại ái dục liên quan đến sáu căn là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, và sáu loại liên quan đến sáu trần, là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, tính chung tất cả là mười hai. Nếu tính luôn ba loại được kể trong bài viết, trang 41, thì có ba mươi sáu. Và nếu tính luôn ái dục trong ba thời, quá khứ, hiện tại, và tương lai thì có tất cả là một trăm lẻ tám (108).

[6] Tư tưởng hỷ lạc -- xuyên qua lục căn.

[7] Dây leo ... đâm chồi, từ lục căn và bám vững, dính mắc theo lục trần.

[8] Thằng thúc và trói buộc -- có năm thằng thúc, hay chướng ngại tinh thần (nivarana) là tham dục, oán ghét, hôn trầm dã dượi, phóng dật lo âu, và hoài nghi. Có năm loại trói buộc (sanga) là tham ái, sân hận, si mê, ngã mạn và tà kiến.
 

III

1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương