Phạm Kim Khánh



tải về 0.58 Mb.
trang13/14
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích0.58 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

Chánh Định


Chánh Định là chi cuối cùng của Bát Chánh Đạo. Định là tập trung, gom tâm vào một điểm duy nhất và hoàn toàn không hay biết gì khác ngoài đề mục. 

Theo sách Visuddhi Magga (Thanh Tịnh Đạo), của Ngài Buddhagosa, Chánh Định là tập trung chân chánh và đồng đều tâm vương và các tâm sở đồng phát sanh vào một đối tượng duy nhất. Như vậy, tâm định là trạng thái tinh thần khi các thành phần của tâm được đặt trên một đối tượng duy nhất một cách đồng đều và chân chánh, không giao động và không phân tán. Cũng theo sách nầy, đặc tánh của tâm định là không xê dịch ra khỏi đối tượng; tác dụng của tâm định là loại trừ phóng tâm; tâm định biểu hiện bằng trạng thái không lay chuyển; và nhân kế cận nhất tạo duyên sanh định là phỉ.

Tâm ta vốn chứa đựng ít nhiều bợn nhơ. Nếu để nó trôi chảy theo dòng diễn tiến tự nhiên mà không có sự cố gắng nào để khắc phục, kiểm soát và chuyển hướng nó, cái tâm -- dưới sự chi phối của tham ái, sân hận, và si mê -- sẽ lôi cuốn chúng ta vào những hoàn cảnh khó khăn rất phiền phức và ô nhiễm bởi vì, "Tâm dẫn đầu tất cả những hành động. Tâm là chủ. Tâm tạo tác tất cả hành động biểu hiện bằng thân, khẩu, ý."

Theo Ngài Nyanaponika, điều trọng yếu là ta phải:

1) Hiểu biết cái tâm. Tâm rất gần với ta, nhưng được chúng ta biết rất ít.

2) Uốn nắn cái tâm. Tâm rất buông lung, nặng nề, khó dạy, nhưng ta có thể rèn luyện cho nó thuần thục, mềm dẽo, dễ uốn nắn.

3) Giải phóng cái tâm. Tâm bị đeo níu quấn quít, bị trói chặt vào đủ loại phiền não, nhưng ta có thể giải phóng cho nó trở nên tự do, tại nơi đây và trong hiện tại.

1. Hiểu biết cái tâm.

Bản chất tự nhiên của tâm là luôn luôn di động, phóng đầu nầy, nhảy đầu kia, không ngừng nghỉ.

Vào thời Đức Phật có chàng thanh niên con nhà khá giả, đến nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp, và sau đó xin xuất gia với Ngài, được gọi là Tỳ Khưu Sangharakkhita. Một ít lâu, sau những ngày tháng tích cực chuyên cần hành thiền, Đức Sangharakkhita chứng đắc Đạo Quả A-La-Hán. 

Lúc ấy có người em gái của Ngài Đại Đức vừa hạ sanh được một trai và lấy tên Ngài đặt cho con mình là "Cháu của Sangharakkhita". Khi cháu lớn khôn, xin xuất gia với Sư Cậu. Vào mùa an cư kiết hạ, vị tỳ khưu cháu nhập Hạ trong một làng hẻo lánh. Sau khi ra Hạ, trong một buổi lễ Dâng Y, Sư Cháu thọ nhận hai bộ y và phát tâm muốn dâng đến Sư Cậu một bộ. Từ làng, Sư về đến chùa trước khi Sư Cậu đi bát về nên lo quét dọn tịnh thất sạch sẽ, gánh nước đầy lu, sửa soạn tọa cụ ngay ngắn và chờ Sư Cậu. Khi thấy Đức Sư Cậu về, Sư liền đến đảnh lễ, rước bát, thỉnh ngồi, và lấy quạt, quạt cậu.

Khi làm xong bổn phận người đệ tử, Sư Cháu cầm bộ y trên hai tay, quỳ trước Sư Cậu, đảnh lễ và dâng lên. Nhưng Sư Cậu từ chối, bảo rằng, "Sư đã có một bộ y, và như vậy là đủ rồi, con hãy giữ lấy mà dùng." Sư Cháu hết lời kính xin Sư Cậu thọ nhận, nhưng Sư Cậu một mực từ chối vì Ngài nói rằng một bộ y đã đủ dùng rồi. Vị tỳ khưu Cháu lấy làm buồn, nghĩ rằng, "Ngoài đời Sư với mình có tình cậu cháu. Khi xuất gia lại thêm có nghĩa thầy trò, cùng tu chung một chùa. Nay mình có được bộ y, phát tâm chia xẻ quả phúc nầy đến Sư mà Ngài không nghĩ tình cậu cháu nghĩa thầy trò, nỡ đành từ chối như vậy thì mình còn ở lại chùa làm gì? Hãy huờn tục, đi về nhà sống cho rồi." Và, trong khi cầm quạt quạt Sư Cậu, vị tỳ khưu Cháu tiếp tục suy tư: "Sống ngoài đời lúc nầy làm ăn cũng khó khăn lắm chớ không phải dễ đâu! Nếu ta huờn tục thì về nhà sẽ làm sao sinh sống đây?"

Rồi Sư nghĩ tiếp: "Mình có hai bộ y, dâng lên Sư Cậu một bộ mà Sư không nhận, vậy mình có dư bộ y ấy. Khi về nhà mình sẽ bán bộ y, lấy tiền mua một con dê cái. Giống dê nó đẻ nhiều lắm, không bao lâu con dê cái của mình sẽ đẻ con. Chờ khi con nó lớn, mình bán luôn cả mẹ và con, ắt có được một số vốn để làm ăn. Chừng đó có công ăn việc làm, đời sống thoải mái, mình sẽ cưới vợ. Vợ mình sẽ đẻ con, và mình sẽ lấy tên Sư Cậu đặt tên cho con mình. Ngày nọ mình để con trên một cái xe đẩy, rồi cùng vợ đẩy con đến chùa, đảnh lễ Sư Cậu. Đi một đổi xa, mình bảo vợ đem con lại cho mình bồng vì mình muốn bồng con. Vợ mình trả lời, "Tại sao anh bồng nó làm gì, hãy đẩy xe đi, để tôi bồng con." Vừa lúc ấy, vợ mình bồng xóc con lên. Nhưng vì sức yếu, loanh quanh một hồi làm té đứa nhỏ ngay trước bánh xe, và xe cán thằng nhỏ. Lúc ấy mình giận quá, la vợ, "Thấy chưa? Sức đã yếu mà còn dành bồng con để nó té, bị xe cán. Chết tôi rồi!" Tức quá, sẵn cây gậy cầm trên tay, mình đập mạnh gậy trên lưng vợ".

Đang lúc đứng quạt Sư Cậu, nghĩ đến đó Sư Cháu cầm quạt đập mạnh vào đầu Cậu. Sư Cậu bị đập đau, liền quán xét xem tại sao Cháu lại đập trên đầu mình, và tức thì thấy rõ từng chi tiết những gì xảy diễn trong ý nghĩ của Cháu. Sư liền nói, "Nầy con, con không đập gậy trên lưng người đàn bà thì thôi, cớ sao lại đập quạt trên đầu Sư? Sư có làm gì đâu."

Đến đây Tỳ Khưu Cháu giựt mình tự nghĩ, "Chết rồi! Hình như Sư Cậu đã biết rõ những gì phát sanh trong tâm mình. Vậy thì làm sao mình có thể còn ở lại đây tu được nữa. Nghĩ vậy Sư ném cây quạt, bỏ chạy. Nhưng bị người trong chùa bắt giữ lại. Đến trước Sư Cậu, thuật lại tự sự, Sư Cậu mở lời khuyên dạy: "Nầy con, hãy lại đây. Chớ nên lo sợ. Tâm là vậy. Nó phóng đi rất nhanh, rất xa, và đi cùng khắp. Ta phải cố gắng tháo gỡ cho nó các loại dây trói buộc của tham ái, sân hận, và si mê."

Tâm là vậy. "Cá bị vớt lên khỏi nước và vứt trên đất khô, vùng vẩy như thế nào thì tâm chao động cũng dường thế ấy." 

Trong guồng máy phức tạp của con người, cái tâm quả thật vô cùng quan trọng. Con người trong sạch do tâm, mà nhơ bẩn cũng do tâm. Chính tâm tạo thiên đàng, cũng chính tâm tạo địa ngục. Tâm nâng cao, đưa con người lên, cũng chính tâm hạ thấp, đưa con người xuống. Và cũng như nước có chiều hướng tự nhiên là từ trên cao trôi chảy xuống thấp, tâm con người, nếu không kiểm soát, cũng tự nhiên có khuynh hướng xuôi chiều về ác pháp. 

Lời khuyên dạy của Đức Bổn Sư là: 

"Hãy gắp rút làm việc thiện. Hãy chế ngự điều ác trong tâm vì tâm của người buông lung, dể duôi bê trể trong việc tạo thiện nghiệp sẽ ưa thích làm việc ác." (Kinh Pháp Cú, câu 116)

Tâm ô nhiễm sẽ thỏa thích trong ác pháp. Lời dạy nầy khuyên nên vận dụng mọi nỗ lực để theo dõi, hay biết, tìm hiểu và thanh lọc tâm mỗi khi nó ve vãn gần điều ác.

2. Uốn nắn cái tâm

Hành thiền là thanh lọc tâm, là kiểm soát, rèn luyện, trau giồi và phát triển, uốn nắn tâm.

Phương pháp luyện tâm cũng giống như đường lối tập thú, luyện tập bò chẳng hạn. Bò nghé vừa lớn lên, muốn rèn luyện cho nó đủ thuần thục để kéo xe hay kéo cày, trước tiên người ta thả nó nhập đàn: sáng theo bầy đi ăn, tối lùa trở về chuồng. Khi nó quen sống chung với những con khác trong khuôn khổ tập thể, người ta bắt đầu xỏ mũi, tức xỏ sợi dây xuyên qua lỗ mũi rồi choàng vòng lên sừng. Trên sợi dây, mỗi bên có thắt một lỗ nhỏ. Sau đó, người ta cột hai sợi dây dàm, mỗi sợi vào một lỗ của dây mũi. Đầu kia của sợi dây dàm thì quấn vào một cột trụ trồng vững dưới đất.

Hằng ngày người ta dùng dây dàm để điều khiển bò. Tập như vậy cho đến khi có thể gát cái ách lên cỗ nó và sai khiến nó làm theo ý mình. Bò chỉ có thể hữu dụng khi đã được rèn luyện tinh thục. Chừng đó có thể dùng nó để kéo xe, kéo cày, hay làm bất luận công việc nào khác.

Trong phương pháp luyện tâm, tinh nghiêm trì giới, tự khép mình vào nếp sống giới đức, cũng như thả bò nhập bầy, sáng theo đàn đi ăn, chiều trở về chuồng. Nếu để bò nghé sống buông lung hoang dại, có thể nó sẽ phá khuấy mùa màng hay làm hư hại cây cối, vườn tược của người khác. Cùng thế ấy, con người buông lung, không giới đức, có thể bị ba nghiệp -- thân, khẩu, ý -- hoang dại của mình gây tổn hại cho người khác và cho mình, rất nguy hiểm. Tinh tấn chuyên niệm cũng giống như xỏ mũi bò và cột dây dàm vào trụ. Người hành thiền dùng sợi dây "niệm" (sati) để điều khiển tâm mình, không để nó phóng túng buông lung, chạy nhảy một cách hoang dại, mà giữ nó lại và sai khiến, đặt nó vào đối tượng (đề mục, hay công án) nào mà mình muốn.

Trạng thái luôn luôn khuấy động và phóng dật mà tâm đã quen thuộc từ vô lượng kiếp bây giờ đã được điều phục, lắng dịu và an trụ. Cũng như bò đã đựợc rèn luyện thuần thục để kéo xe hay kéo cày, tâm đã sẵn sàng nhu thuận để hành thiền -- Vắng Lặng hay Minh Sát. 

Nếu hành giả không bắt đầu công phu hành thiền của mình bằng pháp chú niệm, làm cho tâm an trụ và nhu thuận, thì không khác nào người chủ bò thiếu kinh nghiệm, gát ách con bò hoang dại chưa hề bao giờ được huấn luyện. Khi bắt nó kéo xe hay kéo cày ắt nó chạy loạn, không thể kềm giữ được. Đàng khác, người đã chú tâm an trụ có thể dễ dàng nhập định và đắc các tầng Thiền, hoặc khai thông tuệ Minh Sát và tiến đến các Thánh Đạo và Thánh Quả.

Năm pháp Triền Cái.

Trong khi chuyên cần chú niệm, người hành thiền có thể gặp nhiều trở ngại, nhưng đặc biệt có năm, ngăn chận công phu gom tâm và cản ngăn con đường giải thoát, được gọi là Chướng Ngại Tinh Thần, hay Triền Cái (Nivarana). "Ni + var" là gây trở ngại, ngăn chận, cái gì gây chướng ngại cho tiến bộ tinh thần.

Năm chướng ngại tinh thần là: Tham dục, oán ghét, hôn trầm dã dượi, phóng dật lo âu, và hoài nghi.

a. Tham dục (kàmacchanda) là ham muốn duyên theo nhục dục, luyến ái ngũ trần -- sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Một người ở mức độ trung bình thường có khuynh hướng chạy theo những ham muốn có tánh cách huyền ảo phù du của thân, nếu không đủ khả năng để kiểm soát và khắc phục ắt sẽ bị sa đọa, chìm đắm trong dục vọng.

b. Oán ghét (vyàpàda) là bất mãn, bất toại nguyện. Những gì ưa thích dẫn đến luyến ái. Những gì trái ngược với sở thích của mình thì đưa đến ghét bỏ, giận hờn, thù hận, không bằng lòng, bất toại nguyện v.v... Luyến ái và ghét bỏ, tham và sân, là hai ngọn lửa to lớn thiêu đốt thế gian. Chính hai loại tâm nầy, được vô minh hỗ trợ, đã gây tất cả những điều bất hạnh trong đời. 

c. Hôn trầm dã dượi, là một cặp hai yếu tố dính liền nhau, do đặc tính chung của nó là trạng thái uể oải. Hôn trầm (thina) là trạng thái uể oải của tâm vương. Dã dượi (middha) là trạng thái uể oải của tâm sở. Một trạng thái tâm nhuể nhoại như chất nhựa dẻo của một loại gỗ, hay một miếng bơ cứng, khó trét ra. Nên ghi nhận, đây chỉ là trạng thái tâm, chớ không phải là tình trạng mệt mỏi, lười biếng cử động tay chân. Một vị A-La-Hán, đã tận diệt mọi triền cái, đôi khi vẫn còn cảm nghe cơ thể mệt mỏi. Đối nghịch với hôn trầm là kiên trì tinh tấn.

d. Phóng dật lo âu. Phóng dật (uddhacca) là trạng thái bất ổn của tâm luôn luôn chao động, không yên. Đó là tâm trạng liên quan đến tất cả những loại tâm bất thiện. Thông thường, khi hành động bất thiện thì tâm không yên mà luôn luôn chao động. Lo âu (kukkucca) là tâm trạng lo lắng, hối tiếc một hành động bất thiện đã làm, hoặc một hành động thiện đã bị bỏ lãng không làm, hay làm không hoàn bị. Đúng theo tinh thần Phật Giáo, chính sự ăn năn hối tiếc một hành động xấu đã làm, không ngăn cản được hậu quả không tốt của nó. Hối tiếc tốt đẹp nhất là quyết tâm không lặp lại hành động bất thiện ấy nữa.

e. Hoài nghi (vicikicchà. Do hai căn, "vi" là không chứa đựng + cikiccha là trí tuệ) là tâm bất định. Hoài nghi ở đây không phải là ý muốn tìm hiểu -- điều mà Phật Giáo luôn luôn khuyến khích nên làm -- mà là tâm trạng lưng chừng, không quyết định. Hoài nghi ở đây cũng không phải là thiếu niềm tin nơi Phật, Pháp, Tăng, vì một người không phải Phật tử, không có niềm tin nơi Tam Bảo, vẫn có thể khắc phục vicikicchà (hoài nghi) và đắc Thiền (Jhàna). Hoài nghi là một chướng ngại tinh thần vì nó là tâm trạng lỏng lẻo, không nhất quyết về điều đáng làm.

Năm triền cái kể trên là những chướng ngại tinh thần làm phân tán sự chú tâm và lu mờ sự bén nhạy của trạng thái thức tỉnh. Một cái tâm mà bị các trở lực tệ hại ấy ngăn chận ắt không thể thành công tập trung vào đề mục nào có bản chất trong sạch. Nếu không có Chánh Tinh Tấn, hay nỗ lực chân chánh, không thể điều phục năm chướng ngại nầy.

Năm Chi Thiền. 

Trong lúc ngồi thiền, chuyên chú gia công như vậy, thì từ đáy sâu của luồng nghiệp năm triền cái có thể phát hiện dưới hình thức ý nghĩ, hình ảnh, hoặc cảm xúc, như ý muốn thiên về tham dục, hay cảm nghe bực tức, buồn phiền, dã dượi lười biếng, chao động không yên, hay hoài nghi. Hành giả phải hết sức khéo léo, nhẹ nhàng nhưng nhất quyết, kiên trì tinh tấn, gia công đem tâm về đề mục, đồng thời phát triển năm yếu tố tinh thần gọi là chi thiền (jhànanga), có thể tạm thời khắc phục các triền cái.

Những yếu tố nầy vẫn hiện hữu lúc bình thường, nhưng khi hành thiền, nó trở nên dũng mãnh, linh động, và có khả năng chuyển tâm đến trạng thái định.

Năm chi thiền ấy là: Tầm, sát, phỉ, lạc, trụ.

a. Tầm (vitakka = "vi"+ căn "takk). Phạn ngữ nầy thường được dùng trong ý nghĩa suy tư. Nơi đây là yếu tố hướng những tâm sở đồng phát sanh về đối tượng. Theo Bản Chú Giải, ông quan đại thần hướng dẫn một nông dân quê mùa vào hoàng cung yết kiến vua như thế nào thì, cùng thế ấy, chi thiền "tầm" hướng dẫn tâm đến đề mục.

Bình thường tầm là một tâm sở không có tánh cách đạo đức, tức không thiện cũng không bất thiện. Khi liên hợp với tâm thiện (kusala citta) thì nó là thiện, và khi liên hợp với tâm bất thiện (akusala citta) nó là bất thiện.

Chi thiền "tầm" tạm thời khắc phục triền cái hôn trầm dã dượi.

b. Sát, cũng được gọi là "tứ" (vicàra= "vi" + căn "car") là di động, hay di chuyển bất định. "Sát", hay "tứ", là quan sát hay dò xét, có nghĩa là liên tục áp đặt tâm trên đối tượng. 

Theo Bản Chú Giải, "sát" là cái gì di động quanh quẩn đối tượng và có đặc tánh dò xét. "Tầm" giống như con ong bay hướng về hoa. "sát"như ong bay quanh quẩn vo vo trên cái hoa. Hai chi thiền "tầm" và "sát" liên quan với nhau rất mật thiết.

Chi thiền "sát" tạm thời khắc phục triền cái hoài nghi.

c. Phỉ, piti, xuất nguyên từ căn "pi", là thích thú, hoan hỷ. "Phỉ" không phải là một loại thọ (vedana) như thọ lạc (sukha). Một cách chính xác, "phỉ" là tâm sở đến trước, và trong khi xuất hiện, báo hiệu rằng sắp có thọ lạc. Có năm loại phỉ là: cái vui làm rùn mình, rởn óc, hay nổi da gà; cái vui thoáng qua mau lẹ như trời chớp; cái vui tràn ngập như sóng biển trườn lên bãi; cái vui thanh thoát đem lại hành giả cảm giác nhẹ nhàng như bông gòn lững lờ bay theo chiều gió; và cái vui thấm nhuần toàn thể châu thân như bong bóng được thổi phồng hay trận lụt tràn ngập cả ao vũng.

Chi thiền "phỉ" tạm thời khắc phục triền cái oán ghét, bất mãn, bất toại nguyện,

d. Lạc (sukha), là cảm giác an lạc, hạnh phúc. Đặc tánh của "lạc" là thỏa thích hưởng thụ điều gì mình mong muốn.

Khách lữ hành mệt mỏi đi trong sa mạc, thấy xa xa có cụm cây và ao nước. Trạng thái vui mừng cảm nhận triển vọng tốt đẹp trước khi thọ hưởng là "phỉ". Khi đến tận ao nước, trạng thái thỏa thích tắm rửa và uống nước là "lạc".

Ta nên phân biệt trạng thái thích thú tinh thần (sukha) nầy với khoái lạc vật chất. Đây là trạng thái thích thú không liên quan đến thú vui vật chất mà trái lại, là hậu quả dĩ nhiên của sự từ bỏ thú vui vật chất. Hạnh phúc Niết Bàn càng tế nhị và sâu xa, cao thượng hơn nhiều hạnh phúc của Thiền (Jhàna). Hạnh phúc Niết Bàn không còn là một loại cảm giác (thọ) nữa mà là sự giải thoát trọn vẹn ra khỏi mọi hình thức đau khổ, giống như trạng thái thoải mái dễ chịu của một người tàn phế được hoàn toàn phục hồi trở lại và mạnh khỏe như thường.

Chi thiền "lạc" tạm thời khắc phục triền cái phóng dật lo âu.

e. Trụ (ekaggata = Eka + agga + ta), đúng theo ngữ nguyên, là sự an trụ tâm vào một điểm duy nhất, hay nhất điểm tâm. Hành giả chuyên chú gom tâm vào đề mục cho đến khi tâm hoàn toàn vững chắc an trụ vào đó, bao nhiêu tư tưởng khác đều bị gạc bỏ ra ngoài.

Chi thiền "trụ" tạm thời khắc phục triền cái tham dục.

3. Giải phóng cái tâm

Để kiểm soát, uón nắn, và giải phóng cái tâm, trong Phật Giáo có hai loại thiền.

Theo một lối thiền, hành giả gom tâm vào một điểm và cột chặt tâm lâu dài vào điểm duy nhất ấy để phát triển trang thái vắng lặng, an lạc. Danh từ Pàli gọi thiền nầy là samatha bhàvanà, có nghĩa phương pháp trau giồi tâm nhằm làm cho nó trở nên vắng lặng. Ta gọi là thiền chỉ, thiền định, hay thiền vắng lặng.

Lối thiền kia là vipassanà, thiền minh sát -- cũng gọi là thiền quán, hay thiền tuệ. Hành giả hướng tâm định soi vào đời sống, nhằm chứng ngộ thực tướng của vạn pháp. Ngài Piyadassi giải thích như sau:

"Danh từ vipassanà ("vi" + "passanà"), trong một biến thể, có nghĩa là "thấy một cách khác thường", thấy khác với lối thấy thông thường, do hai thành phần "passanà" là thấy và "vi" hàm ý đặc biệt, khác lạ hơn thông thường. Như vậy, vipassanà là thấy sáng tỏ, thấy vượt ra ngoài cái gì thông thường mình thấy, là minh tuệ. Đây không phải là nhìn thoáng qua, không phải chỉ nhìn trên bề mặt, nhìn ở mặt ngoài mà nhìn sâu vào bên trong "Thực Tại" của đời sống. Chính nhờ cái nhìn sâu sắc dựa trên nền tảng tâm hoàn toàn vắng lặng ấy mà hành giả tẩy sạch mọi bợn nhơ, mọi ô nhiễm ngủ ngầm, để thành đạt mục tiêu cuối cùng, Niết Bàn. Thiền minh sát (vipassanà bhàvanà) là loại thiền mà chính Đức Phật đã tìm ra, đã thực hành, đã thành công, và đã ban truyền. Trước kia chưa từng có, và ngoài Phật Giáo không có."

Thiền Vắng Lặng. 

Thí dụ như hành giả lấy hơi-thở-vô-thở-ra làm đề mục, gom trụ tâm vào điểm mà luồng hơi thở-vô-thở-ra chạm đến -- có thể là chót mũi, hoặc phía trên môi trên, tùy theo người. Khi hành như thế, ít lâu hành giả có thể hình dung rõ ràng cảm giác xúc chạm của luồng gió vào nơi đụng. Đó là aggaha nimitta, ấn tượng hình dung. Không để gián đoạn, hành giả cố gom tâm vào cái hình ảnh phát hiện trong tâm ấy một cách liên tục đến khi phát triển ấn tượng khái niệm (patibhàga nimitta). Sự khác biệt giữa ấn tượng hình dung (aggaha nimitta) và ấn tượng khái niệm (patibhàga nimitta) là trong ấn tượng khái niệm hình ảnh phát sanh do tri giác, được thanh lọc trong sạch, sáng sủa như mặt trăng không bị mây che, còn trong ấn tượng hình dung, hình ảnh mù mờ như mặt trăng nhìn xuyên qua một lớp mây.

Trong lúc chuyên chú gom tâm vào khái niệm trừu tượng như vậy năm pháp triền cái tạm thời được khắc phục, hành giả đạt đến mức độ gọi là cận định (upàcàra samàdhi).

Vẫn tiếp tục gia công, vào một lúc nào, hành giả có thể nhập định (appanà samàdhi, định trọn vẹn, hay toàn định), và đắc Thiền (Jhàna), thọ hưởng trạng thái an tĩnh và vắng lặng của tâm an trụ. Hai trạng thái, cận định và định, chỉ khác nhau ở năng lực của các chi thiền. Lúc cận định vẫn có đầy đủ năm chi thiền, nhưng năng lực của các chi thiền chưa được vững chắc, giống như em bé tập đi, khập khiễng bước vài bước rồi té xuống. Đứng dậy đi nữa, rồi té xuống nữa. Khi nhập định thì giống như người lớn, mạnh khỏe, đi đứng ngay thẳng vững vàng. Năm chi thiền -- tầm, sát, phỉ, lạc, trụ -- đồng thời phát sanh mạnh mẽ bao gồm cái được gọi là Thiền (Jhàna), và năm pháp triền cái tạm thời được chế ngự.

Hành giả tiếp tục gia công và phát triển Nhị Thiền. Đến đây hai chi thiền đầu tiên, tức tầm và sát, bị loại đi. Hành giả đã quen thuộc, không còn phải qua hai giai đoạn tầm và sát, mà thẳng vào phỉ, lạc, rồi đến trụ. Đến Tam Thiền, chi thiền "phỉ" bị loại. Và cuối cùng đến Tứ Thiền, luôn cả "lạc" cũng không còn mà chỉ có "xả" (upekkhà) và "trụ". Chi thiền "xả" có tầm quan trọng đặc biệt về mặt đạo đức và tâm lý. Đây không phải là thọ xả, tức thọ vô ký, cảm giác không-vui-không-buồn. Chi thiền "xả" là trạng thái tâm bình thản giữa những hoàn cảnh thăng trầm của đời sống, phải do một ý chí mạnh mẽ phát triển. Nhận định rằng chi thiền "lạc" vẫn còn thô kịch, hành giả loại trừ luôn chi thiền ấy như đã loại trừ ba chi thiền trước để trau giồi, phát triển chi thiền "xả", chứng đắc Tứ Thiền, tầng cao nhất của Thiền Sắc Giới.

Đã thành tựu tất cả bốn tầng Thiền của Thiền Sắc Giới, hành giả chuyên chú gia công trau giồi Thiền Vô Sắc Giới. Trong phần chú giải quyển Abhidhammatha Sangaha, Vi Diệu Pháp Toát Yếu, Ngài Nàrada viết như sau: 

"Vị hành giả đã có phát triển Thiền Sắc Giới (Rupa Jhàna) và bây giờ muốn trau giồi Thiền Vô Sắc, bắt đầu gom tâm vào ấn tượng khái niệm (patibhàga nimitta). Khi chuyên chú gom tâm như vậy một ít lâu hành giả thấy một đớm sáng nhỏ, yếu, giống như con đơm đớm, phát ra từ đối tượng. Hành giả ước nguyện rằng ánh sáng nhỏ nầy sẽ lớn dần lên cho đến độ bao trùm toàn thể không gian. Đến đây hành giả không còn thấy gì khác ngoài ánh sáng nầy, cùng khắp mọi nơi. Không gian đầy ánh sáng nầy không có thiệt, không thật sự hiện hữu, không phải là một thực tại, mà chỉ là một khái niệm. Gom tâm vào đối tượng nầy, hành giả niệm "akàsa ananto", không gian vô tận vô biên, cho đến khi phát triển Sơ Thiền Vô Sắc, tầng Thiền Vô Sắc đầu tiên, Không Vô Biên Xứ, cảnh giới không gian vô biên.

"Lấy Sơ Thiền làm đề mục, hành giả tiếp tục gom tâm vào đó và niệm "vinnanam annantam" , thức vô tận vô biên, cho đến lúc phát sanh Nhị Thiền Vô Sắc, Thức Vô Biên Xứ, cảnh giới thức vô biên.

"Để phát triển Tam Thiền Vô Sắc, Vô Sở Hữu Xứ, hành giả lấy tâm Sơ Thiền Vô Sắc làm đề mục và niệm "natthi kinci", không có gì hết.

"Tứ Thiền Vô Sắc được phát triển bằng cách lấy Tam Thiền Vô Sắc làm đề mục. Tam Thiền Vô Sắc nầy vi tế đến độ ta không thể quả quyết rằng có tâm hay không có tâm. Khi chăm chú ít lâu vào Tam Thiền, hành giả phát triển Tứ Thiền, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng.

"Bốn tầng Thiền Sắc Giới khác nhau do các chi thiền. Bốn tầng Thiền Vô Sắc Giới thì khác nhau do đề mục gom tâm. Sơ Thiền và Tam Thiền Vô Sắc có hai khái niệm (pannati). Đó là khái niệm về tánh cách vô biên của không gian và khái niệm về hư vô. Tâm Nhị Thiền lấy tâm Sơ Thiền làm đề mục. Tâm Tứ Thiền lấy tâm Tam Thiền làm đề mục."

Hành giả đã tiến đến tuyệt đỉnh của thiền Vắng Lặng. Tuy nhiên, đến tầng vắng lặng cao siêu cùng tột nầy hành giả vẫn còn chưa trọn vẹn phát triển đủ ánh sáng trí tuệ để đánh tan đêm tối vô minh ngủ ngầm trong luồng nghiệp. Vô minh và ái dục giống như hai con thú dữ, hành giả chỉ nhốt trong chuồng mà không tiêu diệt. Ngày nào sút chuồng nó sẽ còn là tai hại lớn lao. Vì lẽ ấy hành giả chưa tuyệt đối châu toàn, chưa thoát ra khỏi vòng sanh tử tử sanh trong Tam Giới (Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới), chưa hoàn toàn giải thoát.

Trước ngày Bồ Tát Gotama Thành Đạo, chỉ có thiền Vắng Lặng (samatha bhàvana). Hai vị đạo sư lỗi lạc thời bấy giờ, thầy của Bồ Tát, là những vị đắc Thiền cao nhất, lúc ấy chưa ai đạt đến. Các Ngài đã tiến đến mức cùng tột của thiền Vắng Lặng là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng. Chắc chắn đây là mức rất cao của tâm định khi hành giả tạm thời trọn vẹn đè nén, khắc phục năm triền cái. Các chi thiền "phỉ" và "lạc" phát sanh, đưa đến trạng thái tâm tuyệt đối vắng lặng và an lạc. Nhưng Bồ Tát không thỏa mãn với những thành quả ấy. Đã kiểm soát và khắc phục tâm, tạm thời làm chủ mình, nhưng Ngài nhận định rằng bấy nhiêu đó chưa đủ. Thú dữ vẫn còn đó. Phải tận diệt mọi nhiễm ô và mọi hoặc lậu mới dứt hậu hoạn. Mục tiêu cứu cánh của Ngài chỉ là chứng ngộ Chân Lý Cùng Tột, thấy sự vật đúng như sự vật là vậy, tức chứng ngộ ba đặc tướng của các pháp hữu vi: vô thường, khổ, vô ngã. Chính nhờ trí tuệ trực giác nầy mà Bồ Tát đập vỡ tung cái vỏ Vô Minh dày cứng đã bao phủ Ngài từ vô lượng kiếp để vượt đến Thực Tại, chứng ngộ tận tường và trọn vẹn Bốn Chân Lý Thâm Diệu "trước kia chưa từng được nghe."


1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương