NIỀm vui yêu thưƠng (amoris laetitia)



trang6/17
Chuyển đổi dữ liệu28.07.2016
Kích1 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17

121. Hôn nhân là một dấu chỉ quí giá, vì “khi một người nam và một người nữ cử hành Bí tích Hôn Phối, thì quả nhiên Thiên Chúa được “phản chiếu” trong họ; Ngài ghi khắc trong họ những đặc nét của Ngài và dấu ấn tình yêu không thể xóa nhòa được của Ngài. Hôn nhân là biểu tượng của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta. Quả thật, Thiên Chúa cũng là hiệp thông: Ba Ngôi Vị – Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần – hằng sống trong mối hiệp nhất hoàn hảo. Và đây chính là mầu nhiệm hôn nhân: Thiên Chúa làm cho hai vợ chồng trở thành một hiện sinh độc nhất”.119 Điều này có những hệ quả cụ thể trong đời sống hằng ngày, vì những người vợ và chồng, “do bí tích, được ủy trao một sứ mạng riêng và đích thực, để bắt đầu từ những việc đơn giản thông thường của đời sống, họ có thể cho thấy cụ thể tình yêu mà Đức Kitô dành cho Hội Thánh và Người vẫn tiếp tục hiến mạng sống mình vì Hội Thánh”.120
122. Tuy nhiên chúng ta không được lẫn lộn các cấp độ khác nhau: không cần phải đặt lên vai hai con người đầy giới hạn cái gánh nặng sừng sững của việc phải trình bày cách hoàn hảo mối kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh, vì hôn nhân – xét như một dấu hiệu – là “một tiến trình năng động…, một tiến trình tiến tới dần dần với sự hội nhập ngày càng hơn các ân ban của Thiên Chúa”.121

Chia sẻ suốt đời
123. Sau tình yêu kết hợp chúng ta với Thiên Chúa, tình yêu phu phụ là “dạng thức cao cả nhất của tình bạn”.122 Đó là một sự kết hợp có bao hàm mọi đặc nét của một tình bạn tốt đẹp: sự quan tâm tới thiện ích của người kia, tính hỗ tương, sự mật thiết, sự ấm áp, sự ổn định và nét giống nhau phát xuất từ một đời sống chung. Hôn nhân gắn kết vào tất cả những điều này một tính độc quyền bất khả phân ly được diễn tả trong sự cam kết kiên trung chia sẻ và cùng nhau gầy dựng toàn thể đời sống. Chúng ta hãy thành thực và nhìn nhận những dấu hiệu ở đây. Những người yêu nhau không nhìn mối tương quan của mình như cái gì chỉ có tính tạm bợ. Những người kết hôn không kỳ vọng niềm vui thú của họ sẽ phai nhạt. Những người làm chứng cho cuộc cử hành một mối kết hợp đầy yêu thương, dù mong manh đến mấy, cũng tin tưởng rằng nó sẽ đứng vững qua thử thách của thời gian. Con cái không chỉ muốn cha mẹ chúng yêu nhau, mà còn trung thành và gắn bó với nhau. Những dấu hiệu này và những dấu tương tự khác cho thấy rằng chính trong bản chất của nó, tình yêu phu phụ có tính dứt khoát. Mối kết hợp bền vững được diễn tả bởi các lời đoan hứa kết hôn không chỉ là một thể thức hay một công thức có tính truyền thống; nó cắm rễ trong những khuynh hướng tự nhiên của nhân vị. Đối với những người tin, nó cũng là một giao ước trước mặt Thiên Chúa đòi người ta trung thành: “Chúa là chứng nhân giữa ngươi và người vợ của tuổi xuân ngươi. Ngươi đã phản bội nó, mà nó đã phối ngẫu với ngươi, là vợ thuộc giao ước của ngươi, … Ngươi đừng phản bội người vợ tuổi xuân xanh ngươi. Vì chưng Ta ghét việc ly dị - Chúa phán” (Ml 2,14-16).
124. Một tình yêu yếu nhược, không có khả năng chấp nhận hôn nhân như thách đố để đảm nhận và chiến đấu, để được sinh lại, được đổi mới và kiến tạo cho tới chết, thì không thể nâng đỡ nổi một cam kết có tầm lớn lao. Nó sẽ đầu hàng trước nền văn hóa tạm bợ không dung nạp được một tiến trình không ngừng trưởng thành. Nhưng “việc hứa yêu thương suốt đời sẽ là điều có thể, khi chúng ta nhận hiểu một kế hoạch to lớn hơn các ý tưởng và dự phóng của chính mình, một kế hoạch nâng đỡ chúng ta và làm chúng ta có thể hoàn toàn phó thác tương lai của mình cho người mình yêu thương”.123 Nếu tình yêu này phải vượt thắng mọi thử thách và giữ được sự trung thành trước mọi hoàn cảnh, thì nó cần ơn sủng để củng cố và nâng cao nó. Theo cách diễn tả của Thánh Robert Bellarmine, “sự kiện rằng một người nam kết hợp với một người nữ trong một mối ràng buộc bất khả phân ly, và rằng họ trung thành gắn kết với nhau bất chấp mọi khó khăn, ngay cả khi không còn hy vọng có con cái, chỉ có thể là dấu hiệu của một mầu nhiệm cao cả”.124
125. Hôn nhân có thể ví như một tình bạn được đánh dấu bởi đam mê, nhưng đó là đam mê luôn được dẫn dắt tới một sự kết hợp ngày càng ổn định và mãnh liệt hơn. Đấy bởi vì “hôn nhân không được thiết lập duy chỉ nhắm đến việc sinh sản con cái”, mà còn nhắm đến tình yêu thương nhau “được diễn tả cách xác đáng, để nó có thể tăng triển và chín muồi”.125 Tình bạn độc đáo này giữa một người nam và một người nữ chỉ đạt được tính bao hàm toàn thể trong mối kết hợp phu phụ. Chính vì nó bao hàm toàn thể, nên mối kết hợp này cũng có tính độc hữu, trung thành và mở ra sẵn sàng đón nhận sự sống mới. Nó chia sẻ mọi sự trong niềm kính trọng thường hằng dành cho nhau. Công đồng Vatican II làm âm vang điều này qua tuyên bố rằng “một tình yêu như thế, kết tụ tính nhân loại và tính thần linh, dẫn đưa các người phối ngẫu tới một sự tự hiến tự nguyện cho nhau, được kinh nghiệm trong cử chỉ âu yếm và trong hành động, và thấm đẫm toàn thể đời sống của họ”.126
Niềm vui và vẻ đẹp
126. Trong hôn nhân, niềm vui của tình yêu cần được vun xới. Khi sự tìm kiếm lạc thú trở thành điều ám ảnh người ta, nó sẽ giữ người ta trong tình trạng nô lệ và không cho phép họ kinh nghiệm những sự thỏa mãn khác. Niềm vui, đàng khác, tăng cường niềm hoan lạc của chúng ta và giúp chúng ta tìm thấy sự mãn nguyện trong bất cứ việc gì, ngay cả vào những giai đoạn của đời sống khi mà khoái lạc thể lý đã suy giảm. Thánh Tôma Aquinô nói rằng từ “niềm vui” qui chiếu đến một sự mở rộng của trái tim.127 Niềm vui hôn nhân có thể được kinh nghiệm ngay cả giữa những buồn phiền; nó liên quan đến việc chấp nhận rằng hôn nhân là một hỗn hợp đương nhiên của thưởng ngoạn và chiến đấu, của căng thẳng và nghỉ ngơi, đau đớn và xoa dịu, thỏa mãn và khát khao, phiền muộn và khoan khoái, nhưng luôn luôn ở trên nẻo đường của tình bạn, trong đó đôi bạn được thúc đẩy chăm sóc cho nhau: “Họ giúp đỡ và phục vụ nhau”.128
127. Lòng yêu thương trong tình bạn được gọi là “bác ái” khi nó nhận hiểu và trân trọng “giá trị lớn” của người kia.129 Vẻ đẹp – tức “giá trị lớn” ấy, khác với dáng vẻ thể lý hay tâm lý – giúp chúng ta có thể trân trọng tính thánh thiêng của một nhân vị, mà không cảm thấy nhu cầu chiếm hữu người ấy. Trong một xã hội tiêu thụ, cảm thức về cái đẹp bị làm cho nghèo kiệt đi, và do đó niềm vui cũng hời hợt. Mọi thứ có đó, kể cả con người, để cho người ta mua sắm, sở hữu hay tiêu xài. Sự âu yếm dịu dàng, đàng khác, là dấu hiệu của một tình yêu không nhuốm màu chiếm hữu ích kỷ. Nó giúp ta tiếp cận một con người với lòng kính trọng sâu xa và sự ý tứ tinh tế để không gây hại gì cho người ấy hoặc làm người ấy mất tự do. Yêu thương một người sẽ gắn liền với niềm vui chiêm ngắm và trân trọng vẻ đẹp và sự thánh thiêng tự nhiên của người ấy, những điều này thì lớn lao hơn các nhu cầu của tôi. Điều này giúp tôi có thể tìm kiếm thiện ích cho người ấy ngay cả khi người ấy không thể thuộc về tôi, hay khi họ không còn nét duyên dáng ở ngoại hình nữa, mà chỉ là gánh nặng và sự phiền toái. Vì “tình yêu mà nhờ đó người này làm vui lòng người kia tùy thuộc vào việc người ấy trao ban một cái gì đó hoàn toàn nhưng không”.130
128. Mỹ cảm của tình yêu được diễn tả trong “cái nhìn” quan chiêm người khác xét như là cứu cánh nơi chính họ, ngay cả dù họ yếu ớt, già nua hay có ngoại hình không hấp dẫn. Một cái nhìn trân trọng có tầm quan trọng rất lớn lao, còn thái độ miễn cưỡng thường gây tổn thương cho người ta. Biết bao điều mà đôi khi những người vợ, chồng hay con cái làm để kêu gọi sự quan tâm! Nhiều sự tổn thương và nhiều vấn đề xảy ra khi chúng ta không còn nhìn nhau. Điều này nằm đàng sau những lời than phiền và trách cứ mà chúng ta thường nghe trong các gia đình: “Chồng tôi không quan tâm tới tôi; anh ta làm như thể tôi không có mặt trên đời”. “Xin vui lòng nhìn em khi em nói chuyện với anh!” “Vợ tôi chẳng còn nhìn đến tôi, cô ấy chỉ quan tâm đến con cái thôi”. “Trong nhà này chẳng ai đoái hoài đến tôi; mọi người thậm chí không nhìn tôi, như thể tôi không tồn tại”. Tình yêu mở đôi mắt chúng ta và giúp chúng ta nhìn thấy, vượt quá mọi điều khác, giá trị cao quí của một con người.
129. Niềm vui của tình yêu biết chiêm ngắm này cần phải được vun xới. Vì chúng ta được dựng nên cho tình yêu, chúng ta biết rằng không có niềm vui nào lớn hơn niềm vui của việc san sẻ những điều tốt lành: “Hãy lấy, hãy cho, và hãy chăm sóc chính mình” (Hc 14,16). Niềm vui thâm sâu nhất trong đời sống trào dâng khi chúng ta có thể khơi lên niềm vui nơi người khác, như một cảm nếm trước thiên đàng. Chúng ta có thể nghĩ đến cảnh đáng yêu trong phim Bữa Tiệc của Babette, khi cô đầu bếp từ tâm nhận được cái ôm nồng nhiệt lòng biết ơn với lời khen ngợi: “Ôi, cô thắp lên niềm vui cho cả các thiên thần!” Thật là một niềm vui và niềm an ủi lớn lao khi ta đem lại niềm vui cho người khác, nhìn thấy họ hoan hỉ. Niềm vui này, là hoa trái của tình huynh đệ, không phải là niềm vui của kẻ tự phụ và vị kỷ, nhưng là niềm vui của người yêu thương biết vui mừng trước điều tốt lành của những người mình yêu, niềm vui của người tự nguyện trao ban cho họ và nhờ đó sinh hoa trái tốt lành.
130. Mặt khác, niềm vui cũng lớn lên xuyên qua khổ đau. Như Thánh Augustinô diễn tả, “hiểm nguy của chiến trận càng lớn thì niềm vui chiến thắng càng cao”.131 Sau khi cùng chịu khổ và cùng chiến đấu sát cánh nhau, những người vợ chồng có thể kinh nghiệm rằng đó là điều đáng giá, vì họ đạt được điều gì đó tốt lành, họ cùng nhau học được một điều gì đó, hoặc họ bắt đầu trân trọng những gì mình có. Ít có niềm vui nhân loại nào sâu xa và cảm kích bằng niềm vui được kinh nghiệm bởi hai người yêu nhau và cùng nhau đạt được một cái gì đó như kết quả của một cố gắng lớn lao của cả hai người.
Kết hôn vì tình yêu
131. Tôi muốn nói với những người trẻ rằng không có gì nguy hại khi tình yêu của họ tìm thấy sự diễn tả trong hôn nhân. Sự kết hợp của họ gặp thấy trong cơ chế này phương tiện để bảo đảm rằng tình yêu của họ sẽ thực sự bền vững và triển nở. Hẳn nhiên, tình yêu thì lớn hơn nhiều chứ không chỉ là một biểu lộ ưng thuận bên ngoài hay một khế ước, tuy nhiên quả thật là việc chọn trao cho hôn nhân một hình thức cụ thể trong xã hội bằng việc đưa ra một số lời cam kết cho thấy rằng nó quan trọng biết bao. Nó biểu hiện sự nghiêm túc của việc người này đồng hóa với người kia, và việc họ quyết định dứt khoát bỏ lại đằng sau mình xu hướng cá nhân chủ nghĩa của tuổi thanh niên để thuộc về nhau. Hôn nhân là một phương tiện để nói lên rằng chúng ta đã thực sự rời khỏi sự an toàn của ngôi nhà trong đó chúng ta đã lớn lên, để xây dựng những mối ràng buộc chặt chẽ khác và đảm nhận trách nhiệm mới đối với một người khác. Điều này có ý nghĩa hơn nhiều so với một sự liên kết đơn thuần tự phát nhắm đến sự thỏa mãn cho nhau, điều sẽ biến hôn nhân thành một công việc thuần túy riêng tư. Trong tư cách một cơ chế xã hội, hôn nhân bảo vệ và định hình cho một cam kết chung nhắm đến sự trưởng thành sâu xa hơn trong tình yêu và sự dấn thân cho nhau, vì lợi ích của xã hội xét như một toàn thể. Vì thế hôn nhân không phải là một trào lưu chóng lụi tàn; nó có tầm quan trọng bền vững. Yếu tính của nó rút ra từ bản tính con người và đặc tính xã hội của chúng ta. Nó liên quan tới một loạt những bổn phận phát sinh từ chính tình yêu, một tình yêu nghiêm túc và quảng đại đến mức sẵn sàng đương đầu với mọi nguy hiểm.
132. Việc chọn kết hôn theo cách này diễn tả một quyết định thực sự và dứt khoát muốn đi chung nẻo đường, cho dù bất cứ điều gì sẽ xảy ra. Do tính nghiêm túc của nó, sự cam kết công khai này của tình yêu không thể là kết quả của một quyết định bồng bột, nhưng nó cũng không thể bị trì hoãn vô hạn định. Việc dấn thân chính mình một cách độc hữu và dứt khoát cho một người khác luôn luôn bao hàm một nguy cơ và một sự dũng cảm đánh cuộc. Việc không sẵn lòng đưa ra một cam kết như vậy cho thấy tính cách ích kỷ, tính toán và nhỏ nhen. Nó không nhìn nhận quyền của một người khác và không giới thiệu người ấy cho xã hội như một con người đáng được yêu thương vô điều kiện. Nếu hai người thực sự yêu nhau, đương nhiên họ sẽ cho mọi người thấy như vậy. Khi tình yêu được diễn tả trước những người khác trong khế ước hôn nhân, với tất cả những cam kết công khai của nó, nó xác nhận rõ và bảo vệ sự ưng thuận mà hai người nói lên một cách tự do và dứt khoát với nhau. Lời ưng thuận này nhằm bảo rằng họ có thể luôn luôn tin tưởng nhau, và rằng họ sẽ không bao giờ bị bỏ rơi khi khó khăn xảy đến, hay khi những lôi cuốn mới hoặc những mối quan tâm ích kỷ chợt xuất hiện.
Một tình yêu tự biểu lộ và tăng trưởng
133. Lòng yêu thương của tình bạn hợp nhất mọi khía cạnh của đời sống hôn nhân và giúp các thành viên gia đình không ngừng lớn lên. Tình yêu này phải được diễn tả cách tự do và quảng đại bằng lời nói và hành động. Trong gia đình, “có ba từ rất cần được dùng. Tôi muốn lặp lại, ba từ đó là: ‘Làm ơn’, ‘Cám ơn’, và ‘Xin lỗi’. Những tiếng thật thiết yếu!”132 “Trong gia đình của mình, khi chúng ta không cường quyền và biết nói: ‘Xin cho phép…’; trong gia đình của mình, khi chúng ta không ích kỷ và có thể nói ‘Cám ơn!’; và trong gia đình của mình, khi ai đó nhận ra rằng mình đã làm điều gì đó sai trái và có thể nói ‘Xin lỗi!’, thì gia đình chúng ta sẽ kinh nghiệm được sự bình an và niềm vui”.133 Chúng ta đừng ngần ngại nói những tiếng ấy, nhưng hãy lặp đi lặp lại chúng, ngày này qua ngày khác. Vì “một số sự thinh lặng sẽ gây ngột ngạt, đôi khi ngay cả trong gia đình, giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các anh chị em”.134 Những lời phù hợp, nói lên vào những lúc phù hợp, sẽ bảo vệ và nuôi dưỡng tình yêu hằng ngày.
134. Tất cả những điều này xảy ra xuyên qua một tiến trình lớn lên. Hình thức rất đặc biệt của tình yêu, tức hôn nhân, được mời gọi để biểu hiện điều mà Thánh Tôma Aquinô nói về đức ái cách chung. Theo ngài, “đức ái, do chính bản chất của nó, không có giới hạn trong sự tăng trưởng, vì đó là một sự tham dự vào đức ái vô hạn là chính Chúa Thánh Thần… Về phần chủ thể, cũng không thể đặt giới hạn cho đức ái, vì khi đức ái tăng trưởng, thì khả năng tăng trưởng của nó càng nhiều hơn”.135 Thánh Phaolô cầu nguyện: “Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau ngày càng thêm đậm đà thắm thiết” (1Tx 3,12), và một lần nữa: “còn về tình huynh đệ… chúng tôi khuyên nhủ anh em hãy tiến tới ngày càng nhiều hơn nữa” (1Tx 4,9-10). Ngày càng nhiều hơn nữa! Tình yêu hôn nhân không được bảo vệ chủ yếu bằng việc trình bày tính bất khả phân ly của nó như một bổn phận, hay bằng việc lặp đi lặp lại giáo thuyết, nhưng bằng cách giúp cho nó lớn lên ngày càng mạnh mẽ hơn dưới sự thúc đẩy của ơn sủng. Một tình yêu không lớn lên được là một tình yêu đang lâm nguy. Sự lớn lên chỉ có thể xảy ra khi chúng ta đáp lại ơn sủng của Thiên Chúa xuyên qua các hành động yêu thương không ngừng, những hành động của lòng từ tâm trở nên ngày càng thường xuyên hơn, nồng nhiệt, quảng đại, dịu dàng và vui tươi hơn. Những người chồng và vợ “trở nên ý thức về sự hợp nhất của mình và kinh nghiệm nó cách sâu sắc hơn từ ngày này qua ngày khác”.136 Ân ban của tình yêu Thiên Chúa tuôn tràn trên đôi bạn cũng là một lời mời gọi không ngừng lớn lên trong ơn sủng.
135. Thật ngớ ngẩn việc mơ một tình yêu lý tưởng và hoàn hảo theo nghĩa nó không cần được tác động để lớn lên. Một ý niệm hão huyền về tình yêu trên thế gian quên rằng điều tốt nhất còn chưa xảy đến, quên rằng rượu càng để lâu năm càng ngon. Như các Giám mục Chi-lê đã chỉ ra, “mẫu gia đình hoàn hảo mà sự tuyên truyền bịp bợm của chủ nghĩa tiêu thụ đề ra thì không hề tồn tại. Trong những gia đình ấy, không có ai già đi, không có đau ốm, buồn phiền hay tang tóc… Sự tuyên truyền của chủ nghĩa tiêu thụ trình bày một ảo tưởng không liên quan gì với thực tế mà mỗi ngày những người đứng đầu các gia đình phải đối diện”.137 Sẽ lành mạnh hơn nhiều nếu ta nhìn nhận thực tế những giới hạn, những khiếm khuyết và những bất toàn của chúng ta, và đáp lại tiếng gọi lớn lên cùng với nhau, đưa tình yêu đến mức trưởng thành và củng cố mối kết hợp, cho dẫu điều gì xảy ra đi nữa.
Đối thoại
136. Đối thoại là điều thiết yếu để kinh nghiệm, bày tỏ và củng cố tình yêu trong đời sống hôn nhân và gia đình. Nhưng người ta chỉ có thể đạt được nó sau quá trình thực tập lâu dài và cam go. Người ta, nam và nữ, trẻ và già, giao tiếp một cách khác nhau. Họ nói ngôn ngữ khác nhau và hành động theo cách khác nhau. Cách chúng ta hỏi và trả lời, cung giọng của chúng ta, sự lựa chọn thời điểm của chúng ta, và nhiều yếu tố khác nữa sẽ ấn định chúng ta giao tiếp tốt mức nào. Chúng ta cần phát triển một số thái độ diễn tả tình yêu thương và thúc đẩy sự đối thoại đích thực.
137. Hãy dành thời gian, thời gian chất lượng. Điều này có nghĩa là sẵn sàng lắng nghe một cách kiên nhẫn và chú ý tới mọi điều mà người kia muốn nói. Nó đòi phải có kỷ luật bản thân để không lên tiếng khi chưa phải lúc. Thay vì đưa ra một ý kiến hay một lời khuyên, chúng ta cần bảo đảm rằng mình đã nghe mọi điều người kia muốn trình bày. Điều này giả thiết việc vun xới một sự thinh lặng nội tâm giúp ta lắng nghe người khác mà không bị chia trí do tư tưởng hay do cảm xúc. Đừng hấp tấp, hãy đặt qua một bên tất cả các nhu cầu và bận tâm riêng của bạn, và hãy dành chỗ để lắng nghe. Thường thì người bạn đời không cần một giải pháp cho vấn đề của người ấy, mà chỉ cần được nghe, người ấy cần cảm nhận rằng có người hiểu nỗi đau của mình, hiểu sự chán nản, nỗi sợ, cơn giận, những hy vọng và những ước mơ của mình. Biết bao lần chúng ta nghe những lời phàn nàn như: “Anh ấy không lắng nghe tôi.” “Ngay cả khi dường như anh có vẻ lắng nghe em, thì thực sự anh cũng đang làm một việc gì đó khác.” “Tôi nói với cô ấy và tôi cảm thấy như cô ấy không thể đợi tôi nói hết ý của mình.” “Khi tôi nói với cô ấy, cô ấy cố đánh trống lảng, hoặc cô ấy chỉ trả lời cộc lốc để chấm dứt cuộc trò chuyện”.
138. Hãy phát triển thói quen trao tầm quan trọng thực sự cho người kia. Điều này có nghĩa là biết trân trọng họ và nhìn nhận quyền tồn tại, quyền suy nghĩ theo cách riêng và quyền hạnh phúc của họ. Đừng bao giờ chế giễu những gì họ nói hay nghĩ, ngay cả khi bạn cần diễn tả quan điểm riêng của mình. Ai cũng có cái gì đó để đóng góp, bởi vì người ta có kinh nghiệm sống, họ nhìn sự vật từ một góc nhìn khác, và họ có những mối quan tâm, những khả năng và những tri thức riêng. Chúng ta phải nhận ra được sự thật của người kia, giá trị của những quan tâm sâu xa nhất của người ấy, và những gì mà người ấy đang muốn chuyển đạt, dù một cách bức xúc đến mấy đi nữa. Chúng ta phải đặt mình vào chỗ của người ấy, cố gắng nhìn vào trái tim của người ấy, nhận hiểu những bận tâm sâu xa nhất của người ấy, và lấy đó làm khởi điểm cho một cuộc đối thoại xa hơn.
139. Hãy cởi mở trong suy nghĩ. Đừng mắc kẹt trong những ý kiến và quan điểm giới hạn của mình, nhưng hãy sẵn sàng để thay đổi hay mở rộng chúng. Sự kết hợp của hai cách nghĩ khác nhau có thể dẫn đến một tổng hợp làm phong phú cả hai. Sự hợp nhất mà chúng ta tìm kiếm không phải là sự đồng nhất, nhưng là một sự “hợp nhất trong khác biệt”, hay “sự khác biệt được hòa giải”. Mối hiệp thông huynh đệ được làm cho phong phú bằng sự kính trọng và trân trọng những khác biệt trong một nhãn giới bao quát giúp thăng tiến thiện ích chung. Chúng ta cần giải phóng chính mình khỏi cái cảm nghĩ rằng tất cả chúng ta đều giống như nhau. Cũng cần tinh tế mức nào đó để phòng tránh sự xuất hiện của “nỗi bực tức” có thể ngáng trở tiến trình đối thoại. Chẳng hạn, nếu những cảm nghĩ gay gắt bắt đầu nổi lên, chúng phải được xử lý một cách thận trọng, nếu không chúng sẽ làm gián đoạn mạch đối thoại. Khả năng nói lên những gì mình nghĩ mà không gây khó chịu cho người khác là điều rất quan trọng. Cần phải lựa lời mà nói để không làm tổn thương người ta, nhất là khi thảo luận những vấn đề gay cấn. Việc nêu quan điểm của mình đừng bao giờ gắn với việc xả cơn giận và công kích người ta. Một giọng điệu cha chú chỉ gây tổn thương, nhạo báng, tố cáo và làm người ta bực bội. Nhiều sự bất đồng giữa vợ chồng thực sự không phải là những chuyện quan trọng. Phần lớn chúng là những chuyện vặt vãnh. Tuy nhiên, điều làm thay đổi bầu khí chính là cách nói hay thái độ của người nói.
140. Hãy bày tỏ tình cảm và sự quan tâm đối với người kia. Tình yêu có thể vượt qua cả những rào chắn tệ hại nhất. Khi chúng ta yêu thương một người, hay khi chúng ta cảm thấy mình được họ yêu thương, thì chúng ta có thể hiểu tốt hơn những gì mà họ cố gắng truyền đạt. Nỗi sợ đối với người kia như thể một “đối thủ cạnh tranh” là một dấu hiệu của yếu nhược và cần phải được vượt qua. Thật quan trọng việc đặt nền quan điểm của mình trên những lựa chọn, những niềm tin hay những giá trị vững chắc, chứ không đặt trên nhu cầu thắng một cuộc tranh cãi hay nhu cầu chứng minh rằng mình đúng.
141. Cuối cùng, chúng ta phải nhìn nhận rằng trong một cuộc đối thoại có ý nghĩa quan trọng nào đó, thì chúng ta phải có gì đó để nói. Điều này chỉ có thể là hoa trái của một sự phong phú nội tâm được nuôi dưỡng bằng việc đọc sách vở, suy tư cá nhân, cầu nguyện, và mở lòng ra với thế giới chung quanh mình. Nếu không, các cuộc trò chuyện sẽ trở nên chán ngán và tầm thường. Khi cả vợ lẫn chồng đều không đầu tư cho việc này, và chẳng có mấy sự tiếp xúc thật sự với những người khác, thì đời sống gia đình sẽ nặng nề và đối thoại sẽ rất nghèo nàn.
Tình yêu đam mê
142. Công đồng Vatican II dạy rằng tình yêu phu phụ “bao trùm thiện ích của toàn thể nhân vị; nó có thể làm cho những tình cảm của tinh thần và sự diễn tả thể lý của chúng nên phong phú với một phẩm giá độc đáo, và làm cho chúng nên cao quí xét như là những đặc nét và như sự biểu đạt của tình bạn chuyên biệt trong hôn nhân”.138 Vì thế, một tình yêu nếu thiếu khoái cảm hoặc sự say mê thì không đủ để làm biểu tượng cho sự kết hợp của trái tim con người với Thiên Chúa: “Tất cả các nhà thần bí đều khẳng định rằng tình yêu siêu nhiên và tình yêu thiên giới gặp thấy những biểu tượng của chúng trong tình yêu vợ chồng, hơn là trong tình bạn, trong lòng hiếu thảo hay trong nhiệt tâm dấn thân cho một chính nghĩa nào đó. Lý do được tìm thấy trong chính toàn thể tính của nó”.139 Vì vậy ta cũng nên đề cập đến những cảm xúc và dục tính trong hôn nhân.
Thế giới xúc cảm
143. Những khao khát, những tâm cảm, những cảm xúc, điều mà người xưa gọi là “những đam mê”, tất cả có một chỗ quan trọng trong đời sống hôn nhân. Chúng được đánh thức bất cứ khi nào “một người khác” trở nên hiện diện và thành một phần trong đời sống của mình. Đặc trưng của mọi hữu thể sống động, đó là vươn ra tới những hữu thể khác, và xu hướng này luôn luôn có những dấu hiệu tình cảm căn bản: hoan lạc hay đớn đau, vui hay buồn, âu yếm hay sợ hãi. Chúng đặt nền móng cho sinh hoạt tâm lý căn bản nhất. Con người sống trên trần gian này, và tất cả những gì họ làm và tìm kiếm đều mang đầy dấu vết đam mê.
144. Là con người thực sự, Đức Giêsu đã cho thấy cảm xúc của Người. Người bị tổn thương vì Giêrusalem tẩy chay Người (x. Mt 23,27) và điều đó khiến Người rơi lệ (x. Lc 19,41). Người cũng cảm động sâu xa trước những nỗi thống khổ của người khác (x. Mc 6,34). Người thổn thức trước nỗi tiếc thương của họ (x. Ga 11,33), và Người khóc trước cái chết của một người bạn (x. Ga 11,35). Những ví dụ này về sự nhạy cảm của Đức Giêsu cho thấy trái tim nhân loại của Người rộng mở biết bao đối với người khác.
145. Kinh nghiệm một cảm xúc thì tự nó không phải là một việc tốt hay xấu về mặt luân lý.140 Sự sôi trào lên của dục vọng hay của sự dị ứng không hề là tội lỗi và cũng chẳng đáng trách. Điều tốt hay xấu về mặt luân lý là điều mà chúng ta làm trên cơ sở của một đam mê nào đó, hay dưới ảnh hưởng của nó. Nhưng khi các đam mê được khuấy động hay tìm kiếm, và kết quả là chúng ta có những hành động xấu, thì sự dữ nằm ở trong cái quyết định kích động các đam mê và ở trong những hành động xấu mà ta thực hiện từ đó. Cũng vậy, sự việc tôi được lôi cuốn hướng tới một người nào đó thì không tự nó tốt. Nếu sự hấp dẫn của người ấy khiến tôi tìm cách thống trị người ấy, thì cảm xúc của tôi chỉ phục vụ cho sự ích kỷ của mình. Tin rằng mình tốt chỉ bởi vì “mình cảm thấy tốt”, đó là một ảo tưởng ghê gớm. Có những người cảm thấy mình có tình yêu vĩ đại chỉ vì họ có một nhu cầu to lớn về tình cảm, nhưng họ cho thấy không có khả năng thực hiện những nỗ lực cần thiết để đem lại hạnh phúc cho người khác. Họ chỉ loay hoay với những nhu cầu và những khao khát của riêng mình. Trong những trường hợp như thế, các cảm xúc làm người ta sao lãng các giá trị cao nhất và che đậy một thái độ vị kỷ vốn làm người ta không thể xây dựng một đời sống gia đình lành mạnh và hạnh phúc.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương