NIỀm vui yêu thưƠng (amoris laetitia)



trang14/17
Chuyển đổi dữ liệu28.07.2016
Kích1 Mb.
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   17

301. Để có một nhận hiểu thích đáng về khả năng và nhu cầu đối với sự phân định đặc biệt trong một số hoàn cảnh “bất thường”, có một điều luôn luôn phải lưu ý, nhằm phòng tránh bất cứ ai nghĩ rằng các đòi hỏi của Tin Mừng đang bị suy tổn cách nào đó. Giáo Hội có sẵn một kho tàng suy tư vững chắc liên quan đến những yếu tố và những hoàn cảnh giảm nhẹ. Vì thế người ta không còn có thể đơn giản nói rằng tất cả những ai ở trong bất cứ hoàn cảnh “bất thường” nào đó đều đang sống trong tình trạng tội nguy tử và bị tước mất ơn thánh hóa. Có nhiều điều liên quan ở đây, chứ không duy chỉ là tình trạng không biết luật. Một chủ thể có thể biết rõ luật ấy, nhưng gặp khó khăn lớn trong việc nhận hiểu “các giá trị cốt yếu của nó”,339 hoặc đương sự ở trong một hoàn cảnh cụ thể vốn không cho phép mình hành động cách nào khác hay quyết định cách nào khác mà không vướng thêm tội. Như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nói: “có thể tồn tại các yếu tố làm hạn chế khả năng đưa ra một quyết định”.340 Thánh Tôma Aquinô nhìn nhận rằng một người có thể sở đắc ân phúc và lòng bác ái, nhưng không thể thực thi một số nhân đức;341 nói cách khác, dù một người nào đó có thể sở đắc tất cả các nhân đức luân lý được ban cho, anh ta vẫn không cho thấy rõ ràng sự tồn tại của một nhân đức nào đó, bởi vì việc thực hành bên ngoài của nhân đức ấy gặp phải khó khăn: “Khi ta nói rằng một số vị thánh không có những nhân đức nào đó, thì đấy là vì các ngài gặp khó khăn trong việc thể hiện các nhân đức ấy, dù các ngài vẫn có thiên năng về tất cả các nhân đức”.342
302. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công giáo đề cập rõ ràng những yếu tố này: “trách nhiệm đối với một hành động có thể được giảm thiểu hay thậm chí được hủy bỏ do bởi ngu dốt, vô ý, bị cưỡng ép, sợ hãi, thói quen, những quyến luyến thái quá, và do các yếu tố tâm lý xã hội khác nữa”.343 Trong một đoạn khác, Sách Giáo Lý một lần nữa qui chiếu đến những trường hợp làm giảm nhẹ trách nhiệm luân lý, và đề cập khá dài về “sự thiếu trưởng thành tâm cảm, áp lực của thói quen thủ đắc, những tình trạng bấn loạn hay những yếu tố tâm lý xã hội khác làm giảm đi mức tội luân lý”.344 Do đó, một phán quyết tiêu cực về một hoàn cảnh khách quan không hề hàm ý một phán quyết về sự qui gán trách nhiệm hay mức tội của người liên hệ.345 Trên cơ sở những xác tín này, tôi cho là rất phù hợp điều mà nhiều Nghị Phụ Thượng Hội Đồng muốn khẳng định: “Trong một số tình huống, người ta thấy rất khó hành động khác đi. Do đó, trong khi thượng tôn một qui luật chung, cần phải nhận ra rằng trách nhiệm đối với một số hành động hay quyết định thì không giống nhau trong mọi trường hợp. Sự phân định mục vụ, trong khi lưu ý đến lương tâm được đào tạo thích đáng của người ta, cần phải xem xét những hoàn cảnh này. Ngay cả những hệ quả của các hành động cũng không nhất thiết giống nhau trong mọi trường hợp.”346
303. Nhận ra ảnh hưởng của những yếu tố cụ thể như thế, chúng ta có thể thêm rằng trong một số hoàn cảnh không thể hiện một cách khách quan nhận thức của chúng ta về hôn nhân, thì lương tâm của cá nhân cần phải được Giáo Hội xét đến nhiều hơn. Dĩ nhiên, phải cố gắng hết sức để thúc đẩy sự phát triển của một lương tâm sáng suốt, được đào tạo và được hướng dẫn bởi sự phân định nghiêm túc và có trách nhiệm của vị mục tử, và phải khích lệ một niềm tin mạnh mẽ hơn nữa vào ơn sủng của Thiên Chúa. Tuy nhiên lương tâm có nhiều việc hơn để làm, chứ không duy chỉ việc nhìn nhận rằng một hoàn cảnh cụ thể nào đó thì không phù hợp cách khách quan với các đòi hỏi của Tin Mừng. Nó cũng có thể chân thành và trung thực nhận ra điều gì bây giờ là sự đáp trả quảng đại nhất có thể dâng lên Thiên Chúa, và đi tới chỗ nhìn thấy – với một sự chắc chắn luân lý nào đó – rằng đấy là điều mà Thiên Chúa đang mời gọi giữa cơ man những giới hạn cụ thể của mình, trong khi vẫn còn bất cập so với lý tưởng khách quan. Dù sao đi nữa, chúng ta hãy nhớ rằng sự phân định này có tính năng động; nó phải luôn mở ra cho những chặng phát triển mới và hướng đến những quyết định mới vốn có thể giúp cho cái lý tưởng được hiện thực đầy đủ hơn.

CÁC QUI TẮC VÀ SỰ PHÂN ĐỊNH


304. Thật là bất cập việc duy chỉ xét xem các hành động của một cá nhân có phù hợp với một luật hay qui tắc chung hay không, bởi vì như vậy là chưa đủ để phân định và bảo đảm sự trung thành hoàn toàn đối với Thiên Chúa trong đời sống cụ thể của một con người. Tôi tha thiết kêu gọi rằng chúng ta phải luôn nhớ một giáo huấn của Thánh Tôma Aquinô và học biết cách vận dụng vào trong việc phân định mục vụ của mình: “Đành rằng cần phải có những nguyên tắc chung, nhưng khi chúng ta càng đi vào chi tiết, chúng ta càng thường xuyên gặp các khiếm khuyết… Trong lãnh vực hành động, chân lý hay sự đúng đắn về mặt thực hành thì không giống nhau khi áp dụng vào chi tiết, mà chỉ đúng cho các nguyên tắc chung thôi; và ở đâu có sự đúng đắn giống nhau trong chi tiết, thì nó cũng không được nhận biết như nhau đối với mọi người… Nguyên tắc sẽ được thấy là thất bại, khi chúng ta đi xa hơn vào chi tiết”.347 Quả đúng là các qui tắc chung cho thấy một sự thiện hảo mà người ta không bao giờ được xem thường hay thờ ơ, nhưng trong công thức diễn đạt của chúng, chúng không thể tuyệt đối dung nạp hết mọi hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời, chính vì lý do đó, phải nói rằng những gì thuộc về một sự phân định thực tế trong những trường hợp cụ thể thì không thể được nâng lên hàng qui tắc. Bởi điều đó sẽ không chỉ đưa tới một phán quyết nghiệt ngã, mà còn đe dọa chính các giá trị vốn phải được đặc biệt quan tâm giữ gìn.348
305. Vì thế, vị mục tử không thể nghĩ rằng mình chỉ cần đơn giản áp dụng các luật luân lý cho những người sống trong các hoàn cảnh “bất thường”, cơ hồ như các luật ấy là những viên đá để mình ném vào đời sống người ta. Điều đó cho thấy trái tim khép kín của kẻ quen ẩn nấp đằng sau các giáo huấn của Giáo Hội, “ngồi trên tòa Môsê và đôi khi phán xử với thái độ kẻ cả và thiển cận những trường hợp khó khăn và những gia đình bị thương tích”.349 Theo cùng chiều hướng này, Ủy Ban Thần Học Quốc Tế đã ghi nhận rằng “luật tự nhiên không thể được trình bày như một bộ qui tắc đã được thiết lập để tiên thiên áp vào chủ thể luân lý; đúng hơn, nó là một nguồn cảm hứng khách quan cho tiến trình đưa ra quyết định rất riêng tư của người ta”.350 Do bởi những tình trạng điều kiện hóa và những yếu tố giảm nhẹ, có thể rằng trong một tội khách quan nào đó – vốn có thể không được cảm thấy là tội hay hoàn toàn là tội, theo chủ quan – thì người ấy có thể sống trong ân sủng Thiên Chúa, có thể yêu thương và cũng có thể lớn lên trong đời sống ân sủng và bác ái, trong khi nhận sự trợ giúp của Giáo Hội cho mục đích này.351 Việc phân định phải giúp tìm ra những cách khả dĩ để đáp lại tiếng Chúa và để lớn lên ngay giữa các giới hạn. Khi suy nghĩ rằng mọi sự chỉ có thể hoặc trắng hoặc đen, chúng ta đôi khi đóng chặt con đường của ơn sủng và của sự triển nở, và cản trở những nẻo đường thánh hóa là những nẻo đường tôn vinh Thiên Chúa. Ta hãy nhớ rằng “một bước nhỏ, ở giữa những giới hạn to lớn của phận người, có thể làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn là một đời sống xem chừng nề nếp, nhưng êm ru đi qua ngày tháng mà không phải đương đầu với những khó khăn đáng kể nào”.352 Việc săn sóc mục vụ trong thực tế của các thừa tác viên và các cộng đoàn không được bỏ qua thực tại này.
306. Trong mọi hoàn cảnh, khi giúp đỡ những người gặp khó khăn trong việc sống trọn luật Chúa, phải giúp họ nghe rõ lời mời gọi theo đuổi con đường đức ái (via caritatis). Bác ái huynh đệ là luật thứ nhất của các Kitô hữu (x. Ga 15,12; Gal 5,14). Chúng ta không được quên những lời khẳng định mạnh mẽ của Thánh Kinh: “Hãy yêu thương nhau không ngừng, vì tình yêu che lấp muôn vàn tội lỗi” (1Pr 4,8); “Hãy đái tội lập công, bằng cách làm việc nghĩa, là tỏ lòng từ bi đối với người nghèo, để thời thịnh vượng … được kéo dài” (Đn 4,24); “Nước dập tắt lửa hồng, bố thí đền bù tội lỗi” (Hc 3,30). Đây cũng là điều Thánh Augustinô đã dạy: “Khi xảy ra hỏa hoạn, ta chạy đi tìm nước để dập lửa… thì cũng vậy, nếu ngọn lửa tội lỗi bùng lên từ đống rơm của mình và làm ta lo lắng, thì nếu gặp cơ hội để thực thi một hành động của lòng thương xót, chúng ta hãy vui mừng đón lấy, như thể đó là một nguồn nước giúp ta dập tắt ngọn lửa kia”.353
LÔ-GÍC CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

TRONG MỤC VỤ


307. Để tránh mọi sự hiểu lầm, tôi muốn chỉ ra rằng Giáo Hội không bao giờ có thể ngừng việc trình bày trọn vẹn lý tưởng của hôn nhân, tức kế hoạch của Thiên Chúa trong tất cả tầm vóc cao cả của nó: “Những người trẻ đã lãnh Phép Rửa cần được thúc đẩy để hiểu rằng Bí tích Hôn phối có thể làm phong phú những viễn tượng tình yêu của họ, và rằng họ có thể được nâng đỡ nhờ ân sủng của Đức Kitô trong bí tích ấy và nhờ khả năng tham dự đầy đủ vào đời sống Giáo Hội”.354 Thái độ thờ ơ, chủ trương tương đối thuộc bất cứ loại nào, hay một sự ấm ớ trong việc diễn đạt lý tưởng ấy, tất cả đều cho thấy sự thiếu trung thành đối với Tin Mừng, đồng thời cũng cho thấy sự thiếu tình yêu của Giáo Hội đối với chính những người trẻ. Việc bày tỏ cảm thông đối với những hoàn cảnh ngoại lệ không bao giờ làm nhạt mờ ánh sáng của lý tưởng trọn vẹn hơn, cũng không cắt xén bớt những gì Chúa Giêsu truyền cho con người. Ngày nay, nỗ lực mục vụ để củng cố hôn nhân và qua đó phòng tránh hôn nhân gãy đổ thì quan trọng hơn việc săn sóc mục vụ đối với những trường hợp thất bại.
308. Đồng thời, từ ý thức của chúng ta về tầm quan trọng của những trường hợp giảm nhẹ - thuộc tâm lý học, lịch sử, và thậm chí sinh vật học – ta thấy rằng “trong khi không làm suy giảm lý tưởng theo Tin Mừng, vẫn có nhu cầu phải đồng hành trong lòng thương xót và kiên nhẫn đối với những giai đoạn trưởng thành của con người như chúng tiếp tục diễn ra”, dành chỗ cho “lòng thương xót của Chúa, là động lực thúc đẩy chúng ta nỗ lực hết sức mình”.355 Tôi hiểu những ai thiên về một sự săn sóc mục vụ nghiêm khắc hơn và không có chỗ cho sự thiếu rạch ròi. Nhưng tôi chân thành tin rằng Đức Giêsu muốn một Giáo Hội lưu tâm tới những điều tốt lành mà Chúa Thánh Thần gieo vào giữa sự yếu hèn của con người, một Giáo Hội như người Mẹ - trong khi nói rõ giáo huấn khách quan của mình – “vẫn luôn luôn làm bất cứ gì tốt lành có thể, cho dù trên con đường ấy, đôi chân mình phải lấm lem bùn đất”.356 Các mục tử của Giáo Hội, trong khi nêu rõ cho người tín hữu lý tưởng trọn vẹn của Tin Mừng và của giáo huấn Giáo Hội, cũng phải giúp họ biết cảm thương người yếu đuối, tránh thái độ bức xúc, gay gắt vô lối hay những phán quyết bất nhẫn. Chính Tin Mừng yêu cầu chúng ta đừng xét đoán hay lên án (x. Mt 7,1; Lc 6,37). Đức Giêsu “mong chúng ta chấm dứt việc tìm kiếm những hang hốc ẩn náu cho cá nhân hay tập thể để được che chắn khỏi vùng nước xoáy của những nỗi bất hạnh con người, thay vào đó Người mong ta đi vào trong thực tế của đời sống dân chúng và nhận thức được sức mạnh của sự dịu hiền. Bất cứ khi nào chúng ta làm thế, đời sống của chúng ta sẽ trở nên xáo trộn một cách tuyệt vời”.357
309. Thật quí hóa việc những suy tư này diễn ra trong bối cảnh Năm Thánh Lòng Thương Xót, bởi vì cũng trong vô vàn hoàn cảnh đang tác động đến các gia đình, “Giáo Hội được trao nhiệm vụ loan báo lòng thương xót của Thiên Chúa, là trái tim sống động của Tin Mừng, lòng thương xót ấy – bằng cách riêng của nó – phải xuyên thấu vào lòng trí mỗi người. Tân Nương của Đức Kitô phải noi gương cung cách của Con Thiên Chúa, Đấng đi ra đến với mọi người không trừ ai”.358Giáo Hội biết rằng Đức Giêsu là mục tử của toàn thể một trăm con chiên ấy, không phải chỉ của chín mươi chín con. Người yêu thương tất cả chúng. Từ nhận thức này, ta thấy “dầu thơm của lòng thương xót có thể đạt tới mọi người, những người tin và cả những người ở xa, như một dấu cho thấy rằng Nước Thiên Chúa đang hiện diện giữa chúng ta”.359
310. Chúng ta không được quên rằng “thương xót không chỉ là việc của Chúa Cha; nó cũng trở thành tiêu chuẩn để nhận biết ai là con cái đích thực của Ngài. Nói tắt, chúng ta được mời gọi thi thố lòng thương xót bởi vì, trước hết, lòng thương xót đã được thi thố cho chúng ta”.360 Đây không phải là màu mè lãng mạn hay là một kiểu đáp trả nửa vời đối với tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu luôn kiếm tìm điều tốt nhất cho chúng ta, vì kỳ thực “lòng thương xót là chính nền tảng của đời sống Giáo Hội. Tất cả hoạt động mục vụ của Giáo Hội phải in dấu sự dịu hiền mà Giáo Hội diễn tả cho các tín hữu; không có gì trong lời rao giảng và trong chứng tá mà Giáo Hội nêu cho thế giới lại có thể thiếu lòng thương xót”.361 Quả thực là có những lúc “chúng ta hành động như những chủ nhân ông của ơn sủng hơn là như những người hỗ trợ nó. Nhưng Giáo Hội không phải là một trạm thu thuế; Giáo Hội là nhà của Chúa Cha, nơi có đủ chỗ cho mọi người, với tất cả những vấn đề của họ”.362
311. Việc giảng dạy thần học luân lý không được bỏ qua những lưu ý này, vì cho dù quả đúng là cần phải quan tâm đến tính toàn vẹn trong giáo huấn luân lý của Giáo Hội, nhưng vẫn luôn phải lưu tâm đặc biệt để nhấn mạnh và thúc đẩy các giá trị cao nhất và cốt yếu nhất của Tin Mừng,363 nhất là địa vị hàng đầu của đức ái xét như sự đáp trả trước quà tặng tình yêu hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa. Có những lúc chúng ta thấy khó dành chỗ cho tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa trong hoạt động mục vụ của chúng ta.364 Chúng ta đặt ra quá nhiều điều kiện cho lòng thương xót đến độ làm nó mất sạch ý nghĩa cụ thể và thực sự của nó. Đó là cách tệ hại nhất để làm suy yếu Tin Mừng. Chẳng hạn, quả thực là lòng thương xót không loại trừ công lý và sự thật, nhưng trước hết chúng ta phải nói rằng lòng thương xót là sự tròn đầy của công lý, và là cách thể hiện sáng ngời nhất sự thật của Thiên Chúa. Vì thế, luôn phải xem là “không thỏa đáng bất cứ quan niệm thần học nào rốt cục nghi ngờ sự toàn năng của Thiên Chúa và, nhất là, nghi ngờ lòng thương xót của Ngài”.365
312. Điều này cung ứng cho chúng ta một cái khung và bầu khí giúp ta tránh một nền đạo đức lạnh lùng quan liêu khi xử lý những vấn đề đặc biệt nhạy cảm. Thay vào đó, nó đặt ta trong bối cảnh của một sự phân định mục vụ đầy ắp tình yêu và lòng thương xót, nghĩa là ta luôn sẵn sàng để thông cảm, tha thứ, đồng hành, hy vọng, và nhất là để hội nhập. Tâm thế này cần phải lan tràn trong Giáo Hội và hướng dẫn chúng ta “mở lòng ra đón nhận những ai đang sống ở những bờ rìa xa nhất của xã hội”.366 Tôi khích lệ các tín hữu nào thấy mình đang ở trong những hoàn cảnh phức tạp hãy tin tưởng chia sẻ với các mục tử của mình, hay với những anh chị em giáo dân nhiệt tâm dấn thân cho Chúa. Có thể họ không luôn luôn gặp được một sự xác nhận đối với những ý nghĩ hay mong muốn của mình, nhưng chắc chắn họ sẽ nhận được ánh sáng nào đó giúp họ hiểu hơn hoàn cảnh của mình và khám phá ra một nẻo đường cho mình lớn lên. Tôi cũng khích lệ các mục tử của Giáo Hội lắng nghe những người ấy với sự nhạy bén và bình tĩnh, với niềm khao khát chân thành muốn hiểu cảnh ngộ và quan điểm của họ, để giúp họ sống đời mình tốt hơn và nhận ra chỗ dành cho mình trong Giáo Hội.


CHƯƠNG CHÍN:

LINH ĐẠO HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

313. Đức ái mang nhiều sắc thái khác nhau, tùy vào bậc sống mà chúng ta được mời gọi. Cách đây mấy thập niên, khi nói về việc tông đồ giáo dân, Công đồng Vatican II nhấn mạnh loại linh đạo phát sinh từ đời sống gia đình. Công đồng tuyên bố rằng linh đạo giáo dân “sẽ mang đặc tính riêng của nó do những hoàn cảnh của … đời sống hôn nhân và gia đình”,367 và rằng: “việc săn sóc các gia đình không nên xa lạ” với linh đạo ấy.368 Thiết tưởng cần mô tả ở đây một số đặc tính căn bản của linh đạo chuyên biệt này, như nó bộc lộ ra trong đời sống và trong các mối tương quan gia đình.
MỘT LINH ĐẠO HIỆP THÔNG SIÊU NHIÊN
314. Chúng ta vốn thường nói về cách mà Thiên Chúa cư ngụ trong lòng những ai sống trong ơn sủng của Ngài. Ngày nay ta có thể thêm rằng Chúa Ba Ngôi hiện diện trong đền thờ của mối hiệp thông vợ chồng. Cũng như Thiên Chúa ngự trong những lời tán tụng của dân Ngài (x. Tv 22,3), thì Ngài cũng ngự cách mật thiết trong tình yêu hôn nhân là tình yêu tôn vinh Ngài.
315. Chúa hiện diện trong những gia đình cụ thể và thực tế, với những lo toan, những cố gắng, những vui mừng và hy vọng hằng ngày của họ. Sống trong gia đình, chúng ta thấy khó giả vờ hay nói dối; chúng ta không thể ẩn nấp sau một mặt nạ. Nếu tính cách chân thực ấy được thúc đẩy bởi tình yêu, thì Chúa đang ngự trị ở đó, với niềm vui và bình an của Người. Linh đạo tình yêu gia đình được cấu thành từ hàng ngàn cử chỉ nhỏ bé nhưng rất thật. Trong cơ man những sự trao tặng và những gặp gỡ có sức đào sâu sự hiệp thông ấy, Thiên Chúa có chỗ ngự trị của Ngài. Sự quan tâm lẫn nhau “sẽ kết hợp yếu tố nhân loại và yếu tố thần linh”,369 vì nó được đong đầy tình yêu của Thiên Chúa. Cuối cùng, linh đạo hôn nhân là một linh đạo của mối dây ràng buộc, trong đó tình yêu Thiên Chúa cư ngụ.
316. Kinh nghiệm tích cực về sự hiệp thông gia đình sẽ là một nẻo đường đích thực cho việc thánh hóa hằng ngày và giúp lớn lên trong kinh nghiệm thần bí, một phương thế để kết hợp sâu xa hơn với Thiên Chúa. Những đòi hỏi của đời sống chung và của tình huynh đệ trong gia đình là một động lực để người ta không ngừng mở lòng ra thêm nữa, và nhờ đó gặp gỡ Chúa ngày càng trọn vẹn hơn. Lời Chúa nói với chúng ta rằng “ai ghét anh em mình thì ở trong bóng tối, và kẻ ấy bước đi trong bóng tối” (1Ga 2,11); người ấy “ở lại trong sự chết” (1Ga 3,14) và “không biết Thiên Chúa” (1Ga 4,8). Vị tiền nhiệm của tôi, Đức Bênêđictô XVI, đã chỉ ra rằng “việc ta nhắm mắt trước tha nhân cũng sẽ làm mắt ta mù đi trước Thiên Chúa”,370 và rằng, cuối cùng, tình yêu là ánh sáng duy nhất có thể “luôn luôn soi sáng lại cho một thế giới ở trong bóng đêm”.371 Chỉ cần chúng ta “yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở trong chúng ta và tình yêu của Ngài sẽ nên hoàn hảo nơi chúng ta” (1Ga 4,12). Vì “nhân vị gắn không rời với một chiều kích xã hội”,372 và “sự diễn tả căn bản và trước hết của chiều kích xã hội ấy của nhân vị là đôi vợ chồng và gia đình”,373 nên linh đạo trở nên cụ thể bằng xương bằng thịt trong mối hiệp thông gia đình. Vì thế, những ai có cảm hứng tâm linh sâu sắc không nên nghĩ rằng gia đình làm hạn chế sự lớn lên của mình trong sự sống của Thánh Thần, nhưng đúng hơn hãy xem đó như một nẻo đường mà Chúa đang dùng để dẫn mình tới những tầm cao của kinh nghiệm kết hợp thần bí.
SUM HỌP CẦU NGUYỆN

TRONG ÁNH SÁNG PHỤC SINH


317. Nếu một gia đình đặt Đức Kitô làm trung tâm, Người sẽ thống nhất và soi sáng toàn thể đời sống của gia đình ấy. Những thời khắc khổ đau và chông gai sẽ được kinh nghiệm trong sự kết hợp với thập giá Chúa, và sự gần gũi của Người sẽ giúp gia đình vượt qua những thời khắc ấy. Trong những giờ phút đen tối nhất của đời sống gia đình, việc kết hợp với Đức Giêsu bị bỏ rơi có thể giúp tránh sự đổ vỡ. Dần dần, “với ân sủng của Chúa Thánh Thần, [đôi vợ chồng] lớn lên trong sự thánh thiện xuyên qua đời sống hôn nhân, cũng như bằng việc tham dự vào mầu nhiệm thập giá Đức Kitô, là mầu nhiệm có sức chuyển hóa những khó khăn và đau khổ thành một hiến lễ tình yêu”.374 Hơn nữa, những khoảnh khắc của niềm vui, thư giãn, những dịp mừng, và ngay cả tình dục có thể được kinh nghiệm như một sự tham dự vào sự sống phục sinh viên mãn. Bằng những cử chỉ khác nhau trong đời sống hằng ngày, các đôi vợ chồng làm nên một “không gian được Thiên Chúa chiếu sáng, trong đó họ kinh nghiệm sự hiện diện giấu ẩn của Chúa phục sinh”.375
318. Việc cầu nguyện trong gia đình là một cách thức đặc biệt để diễn tả và củng cố đức tin ‘vượt qua’ ấy.376 Có thể tìm ra vài phút mỗi ngày để qui tụ với nhau trước Thiên Chúa hằng sống, kể với Ngài những lo lắng của chúng ta, xin Ngài nhìn đến những nhu cầu của gia đình, cầu nguyện cho một ai đó đang gặp khó khăn, xin Ngài trợ giúp ta diễn tả tình yêu, tạ ơn về hồng ân sự sống và về bao ơn lành khác, và cầu xin Đức Mẹ che chở chúng ta dưới tà áo Mẹ. Chỉ với một ít lời đơn sơ như thế, khoảnh khắc cầu nguyện này có thể đem lại điều tốt lành lớn lao cho gia đình chúng ta. Những diễn tả khác nhau của lòng đạo đức bình dân là một kho tàng linh đạo cho nhiều gia đình. Hành trình cầu nguyện chung của gia đình đạt tới đỉnh điểm nơi việc cùng nhau chia sẻ Thánh Thể, nhất là trong khung cảnh ngày lễ nghỉ Chúa Nhật. Đức Giêsu gõ cửa các gia đình, chia sẻ với họ bữa tiệc Thánh Thể (x. Kh 3,20). Ở đó, vợ chồng luôn luôn có thể ký kết lại giao ước Vượt Qua, là giao ước đã kết hợp họ, và là giao ước phải phản ảnh giao ước mà Thiên Chúa ký kết với nhân loại trên thập giá.377 Thánh Thể là bí tích của giao ước mới, ở đó công trình cứu chuộc của Đức Kitô được thực hiện (x. Lc 22,20). Mối liên kết chặt chẽ giữa đời sống hôn nhân và Thánh Thể, vì thế, trở nên càng rõ hơn.378 Vì lương thực Thánh Thể cung cấp cho đôi vợ chồng sức mạnh và động lực cần thiết để sống giao ước hôn nhân mỗi ngày như một “Giáo Hội tại gia”.379
MỘT LINH ĐẠO CỦA

TÌNH YÊU TỰ DO VÀ ĐỘC HỮU


319. Hôn nhân cũng là kinh nghiệm hoàn toàn thuộc về một người khác. Vợ chồng chấp nhận sự thách đố và khát vọng nâng đỡ nhau, sống cùng nhau cho đến răng long đầu bạc, và bằng cách này họ phản ảnh lòng trung thành của chính Thiên Chúa. Cái quyết định dứt khoát ấy, vốn định hình một lối sống, là một “đòi hỏi thâm sâu của giao ước tình yêu phu phụ”,380 vì “một người không thể quyết định yêu mãi mãi thì khó có thể yêu dù chỉ một ngày”.381 Đồng thời, sự trung thành như thế có thể chẳng có ý nghĩa gì về mặt thiêng liêng, nếu nó chỉ đơn thuần là vấn đề tuân giữ luật với thái độ cam chịu. Đúng hơn, đây là chuyện của trái tim, một trái tim chỉ có Thiên Chúa nhìn thấu (x. Mt 5,28). Mỗi sáng khi thức dậy, chúng ta xác nhận lại trước mặt Chúa quyết định trung thành của mình, dù cho điều gì sẽ xảy ra trong ngày đi nữa. Và tất cả chúng ta, mỗi tối trước khi ngủ, ta hy vọng sẽ thức dậy và tiếp tục chuyến phiêu lưu này, tín thác vào sự giúp đỡ của Chúa. Bằng cách này, giữa vợ chồng, người này đối với người kia sẽ như một dấu hiệu và khí cụ của sự gần gũi của Chúa, Đấng không bao giờ ruồng bỏ chúng ta: “Này đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
320. Sẽ đến một lúc mà tình yêu vợ chồng đạt tới đỉnh cao của sự tự do và trở thành nền móng cho một sự tự trị lành mạnh. Điều này xảy ra khi người này nhận ra rằng người kia không thuộc về riêng mình, mà có một chủ nhân quan trọng hơn nhiều, đó là Chúa. Không ai ngoài Thiên Chúa có thể chiếm được cái trung tâm sâu thẳm nhất và thầm kín nhất của người mình yêu; chỉ có Chúa mới là tâm điểm tối hậu của cuộc đời mỗi người. Đồng thời, nguyên tắc hiện thực tâm linh yêu cầu rằng người này đừng nghĩ người kia có thể hoàn toàn thỏa mãn các nhu cầu của mình. Hành trình tâm linh của mỗi người – như Dietrich Bonhoeffer đã diễn tả rất hay – cần giúp mình đạt được một sự “vỡ mộng” nào đó trong liên quan tới người kia,382 để ngừng kỳ vọng từ người kia một điều gì đó vốn thuộc riêng của tình yêu Thiên Chúa mà thôi. Điều này đòi hỏi một sự thanh lý nội tâm. Cái không gian mà mỗi người trong đôi vợ chồng dành riêng cho mối tương quan cá vị với Thiên Chúa không chỉ giúp chữa lành các tổn thương của đời sống chung, mà còn giúp cho họ tìm thấy trong tình yêu của Thiên Chúa nguồn ý nghĩa sâu xa nhất của đời sống mình. Mỗi ngày chúng ta phải cầu xin sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần để có thể đạt được sự tự do bên trong này.
MỘT LINH ĐẠO QUAN TÂM,

AN ỦI VÀ KHÍCH LỆ


321. “Các đôi vợ chồng Kitô hữu là những cộng tác viên của ân sủng và là những chứng nhân đức tin - cho nhau, cho con cái, và cho bà con họ hàng mình”.383 Thiên Chúa mời gọi họ trao tặng sự sống và chăm sóc sự sống. Do đó, gia đình “bao giờ cũng là ‘bệnh viện’ gần nhất”.384 Vì thế, chúng ta hãy quan tâm chăm sóc nhau, hướng dẫn và khích lệ nhau, và hãy kinh nghiệm điều này như một phần của linh đạo gia đình chúng ta. Đời sống làm vợ làm chồng là một sự tham dự hằng ngày vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa, và mỗi người – đối với người kia – là một sự gợi ý thường xuyên từ Chúa Thánh Thần. Tình yêu của Thiên Chúa được công bố “xuyên qua lời sống động và cụ thể nhờ đó hai người diễn tả tình yêu phu phụ của mình”.385 Vì thế hai người là sự phản ảnh cho nhau của tình yêu thần linh ấy, tình yêu có sức an ủi bằng một lời nói, một ánh nhìn, một bàn tay giúp đỡ, một vuốt ve, một ôm siết. Do đó, “ý muốn xây dựng một gia đình chính là quyết tâm trở thành một phần giấc mơ của Thiên Chúa, là chọn mơ với Ngài, là muốn xây dựng với Ngài, là tham gia với Ngài trong công cuộc xây dựng một thế giới mà ở đó không ai cảm thấy cô đơn”.386
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   17


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương