Như mọi quốc gia trên thế giới, bhxh việt Nam trong những năm qua được xem là một trong những chính sách rất lớn của Nhà nước, luôn được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước



tải về 492.42 Kb.
trang5/5
Chuyển đổi dữ liệu06.07.2016
Kích492.42 Kb.
1   2   3   4   5

3.7. Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động là một trong những mục tiêu hàng đầu, và đa dạng được các nhà quản lý quan tâm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý nghiệp vụ BHXH không chỉ có lợi ích giảm chi phí, mà còn giúp thống nhất cách nhìn của nhiều người, nhiều đơn vị, dưới cùng một tiêu chuẩn thống nhất. Tạo ra phong cách làm việc khoa học và hiệu quả, xây dựng các nguyên tắc bảo mật an toàn, có sự kiểm tra và tính toán khoa học khi lưu trữ, xây dựng được sự tin cậy đối với các đối tượng tham gia quan hệ BHXH... từ đó nâng cao chiến lược phục vụ. Để ngày càng ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin vào nghiệp vụ quản lý BHXH, cần quan tâm đến một số vấn đề sau:

- Coi trọng hơn nữa quan hệ giữa các yếu tố cần thống nhất trong nghiệp vụ thu - chi, kế toán, chế độ chính sách. Từ đó cùng với những đổi mới về kỹ thuật, công nghệ, xây dựng được hệ thống xử lý số liệu BHXH có chiến lược, hiệu quả. Muốn vậy, phải có sự phối hợp đồng bộ từ trung ương đến địa phương, giữa các cơ quan BHXH tỉnh, thành phố với nhau.

- Để có một mạng máy tính mạnh cho hệ thống BHXH, chúng ta phải mạnh dạn ứng dụng kỹ thuật hiện đại bằng việc quan tâm đầu tư trang bị máy móc, thiết bị hiện đại cho toàn hệ thống, đào tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu. Điều quan trọng và cần làm trước hết là xây dựng cho được hệ thống các tiêu chuẩn trong các nghiệp vụ BHXH. Chẳng hạn: chuẩn hoá các mã quản lý, danh mục các báo biểu, các chỉ tiêu thống kê và phương pháp tính.

- Ngoài ra, còn phải đầu tư cho các phần mềm đáp ứng nhu cầu tự động hoá có khả năng thích ứng với sự thay đổi về chế độ chính sách. Trong tương lai gần, hệ thống thông tin BHXH Việt Nam cần được nối mạng toàn ngành, rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển với các ngành nghề khác. Đồng thời thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, nâng cao chiến lược hoạt động BHXH, góp phần đưa ngành BHXH Việt Nam lên một tầm cao mới

3.8. Hợp tác trong nước và quốc tế về BHXH

Với đặc thù là hoạt động mang tính xã hội và nhân đạo nên việc hợp tác với các tổ chức trong nước và quốc tế là hoạt động hết sức cần thiết đối với cơ quan bảo hiểm xã hội. Trong điều kiện mới được thành lập của BHXH Việt Nam, cộng với sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước còn lớn cho quỹ BHXH, chính vì vậy cần tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế và đẩy mạnh hơn nữa hợp tác với các cơ quan, đoàn thể trong nước tạo điều kiện cho thực hiện các hoạt động BHXH tốt hơn. Đẩy mạnh hơn nữa quan hệ với các tổ chức BHXH, lao động quốc tế với mục đích trao đổi, đào tạo cán bộ, chuyên gia để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm về công tác BHXH.



KẾT LUẬN
Trong bối cảnh đất nước đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá như hiện nay thì vấn đề người lao động và các chế độ chính sách đối với người lao động ngày càng trở lên quan trọng bởi nó không chỉ có ý nghía về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội sâu sắc. Hơn thế nữa, sự mở ra của nhiều thành phần kinh tế đã và đang gây không ít khó khăn cho các nhà quản lý vĩ mô trong việc chăm lo cuộc sống và điều kiện làm việc của người lao động. Để có thể giải quyết tốt vấn đề này, trong những năm vừa quan Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quan tâm cho công tác BHXH. Từ đó giúp người lao động yên tâm hơn trong công tác.

Qua 5 năm từ khi chính thức đi vào hoạt động, những kết quả ban đầu mà BHXH Việt Nam đã làm được là rất đáng trân trọng, góp phần giúp chính phủ giải quyết tốt các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác BHXH cho người lao động. Trong thời gian hoạt động vừa qua, BHXH Việt Nam đã chứng tỏ vai trò quan trọng trong việc góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, tạo nguồn vốn khá lớn để đầu tư tăng trưởng và phát triển kinh tế. Ngoài ra, từ khi thực hiện cơ chế mới trong thu chi BHXH cũng đã tạo ra một thói quen và nhận thức mới tốt hơn, toàn diện hơn cho người lao động và người sử dụng lao động về BHXH.

BHXH Việt Nam luôn được sự quan tâm chỉ đạo của chính phủ và các cơ quan Nhà nước có liên quan nhưng vẫn không tránh khỏi những khó khăn và hạn chế. Những khó khăn trong công tác BHXH có nguyên nhân từ phía người lao động, người sử dụng lao động và cả nguyên nhân chủ quan từ phía BHXH Việt Nam. Đó là sự thiết hụt trong nhận thức của khá nhiều người lao động đặc biệt là trong các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, điều này dẫn đến nhiều thiếu hụt cho người lao động khi có rủi ro xảy ra. Bên cạnh đó, nhiều chủ doanh nghiệp không thực sự tuân thủ các quy định trong thực hiện nghĩa vụ về BHXH cho người lao động mà họ sử dụng vì vậy càng làm tăng khó khăn cho quỹ BHXH. Ngoài ra, các cơ chế và quy định cho đầu tư quỹ BHXH chưa thực sự thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho BHXH có thể thực hiện tốt nhiệm vụ bảo toàn và phát triển nguồn quỹ.

Tuy có những khó khăn và hạn chế như vậy trong công tác BHXH nhưng có thể khẳng định thuận lợi là cơ bản và nếu có sự hỗ trợ hơn nữa của Chính phủ, các bộ ngành và đặc biệt là sự nỗ lực của bản thân BHXH Việt Nam thì trong thời gian tới chúng ta tin tưởng các chính sách chế độ về BHXH cho người lao động sẽ được thực hiện tốt hơn đáp ứng lòng mong mỏi và trông đợi của hàng triệu người lao động Việt Nam sống trên mọi miền đất nước. Từ đó góp phần tích cực, tạo điều kiện tăng thu cho quỹ BHXH Việt Nam. Hơn thế nữa, việc làm tốt công tác BHXH cũng là sự khẳng định trong tương lai không xa chúng ta có thể bắt kịp các quốc gia khác trên thế giới không chỉ bằng thành tự kinh tế mà còn bằng những giá trị đạo đức trong bảo vệ và tôn trọng quyền lơị của người lao động, một trong những ưu việt của chế độ XHCN mà chúng ta đang quyết tâm xây dựng.

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Kinh tế bảo hiểm - trường Đại học Kinh tế Quốc dân, cảm ơn thầy giáo Nguyễn Văn Định - Tiến sĩ, chủ nhiệm Bộ môn Kinh tế bảo hiểm - trường Đại học Kinh tế Quốc dân và các cán bộ nhân viên Trung tâm thư viện - trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành đề án này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Bảo hiểm - trường Đại học Kinh tế Quốc dân

; NXB Thống kê - Hà Nội - 2000 -

2. Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm - trường Đại học Kinh tế Quốc dân; NXB Giáo dục - 1998

3. Giáo trình Thống kê bảo hiểm trường Đại học Kinh tế Quốc dân; NXB Thống kê - Hà Nội 1996 -

4. Sách Hỏi - Đáp về BHXH; NXB Lao động - xã hội - 1999

5. Hệ thống các văn bản pháp quy về BHXH - BHXH Việt Nam.

6. Tạp chí BHXH - số 1, 4 năm 1999 và các số năm 2000

MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN THỨ NHẤT 3

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH 3

I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN BHXH 3

1. Sự tồn tại khách quan của BHXH 3

4. Chức năng của BHXH 13

6. Những quan điểm cơ bản về BHXH 17

III. QUỸ BHXH 21

I. GIAI ĐOẠN TRƯỚC 1/10/1995 36

II. GIAI ĐOẠN TỪ 1/10/1995 - ĐẾN NAY 57






1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương