Như mọi quốc gia trên thế giới, bhxh việt Nam trong những năm qua được xem là một trong những chính sách rất lớn của Nhà nước, luôn được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước



tải về 492.42 Kb.
trang3/5
Chuyển đổi dữ liệu06.07.2016
Kích492.42 Kb.
1   2   3   4   5

II. GIAI ĐOẠN TỪ 1/10/1995 - ĐẾN NAY


1. Các căn cứ pháp lý

Trong tiến trình cải cách kinh tế - xã hội thì các chế độ, chính sách BHXH trước đây không còn phù hợp nữa. Nó đã và đang được đổi mới cho phù hợp với tình hình thực tế, thể hiện:

- Ngày 15/6/1996, Bộ Luật lao động được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 5, có hiệu lực từ 1/1/1995 trong đó có chương IX về BHXH đã chính thức ghi nhận sự đóng góp của ba bên vào quỹ BHXH. Để cụ thể hoá các quy định của Bộ Luật lao động, Chính phủ đã có các Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 và số 45/CP ngày 15/7/1995 ban hành Điều lệ BHXH áp dụng đối với công chức, công nhân viên chức Nhà nước và mọi người lao động theo loại hình BHXH bắt buộc và Điều lệ BHXH đối với sỹ quan quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhân dân nhằm đảm bảo đời sống vật chất, góp phần ổn định cuộc sống cho những người và gia đình tham gia BHXH.

- Để đưa những nội dung của Bộ Luật lao động và các Nghị định nêu trên vào triển khai thực hiện trong thực tế, ngày 16/2/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP về việc thành lập tổ chức BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động - Thương binh & Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam với chức năng, nhiệm vụ chính là: tổ chức thu BHXH; giải quyết chế độ, chính sách BHXH; chi trả cho đối tượng hưởng BHXH; đầu tư, bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH. Nhưng trên thực tế do phải tiếp nhận bàn giao tổ chức và nhân sự từ hai ngành nên trong phạm vi toàn quốc, BHXH chính thức đi vào hoạt động từ 1/10/1995.

- Sau hơn 7 tháng ban hành Nghị định 19/CP, ngày 26/9/1995 Thủ tướng Chính phủ lại ra Quyết định số 606/QĐ/TTg về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam. Tiếp đến là Quyết định số 20/1998/QĐ-TTg ngày 26/1/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam.

- Cũng với mục đích giúp cho hoạt động của ngành BHXH tiến hành được thuận lợi, ngày 24/7/1995 Bộ Tài chính đã ra Thông tư số 58/TC/HCSN “Hướng dẫn tạm thời về quản lý thu - chi BHXH thuộc hệ thống BHXH’’. Cho đến ngày 30/12/1996, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam lại có Quyết định số 177/BHXH về việc ban hành quy định về quản lý thu BHXH thuộc hệ thống BHXH Việt Nam.



Trên đây là một số văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh công tác quản lý BHXH nói chung, quỹ BHXH và công tác thu nộp BHXH nói riêng. Nó được thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau đây:

2. Những nội dung cơ bản về BHXH và quỹ BHXH

2.1. Đối tượng tham gia BHXH

Theo Điều II - Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người sử dụng lao động và người lao động (kể cả người được cử đi học, đi thực tập, điều dưỡng, công tác ở trong, ngoài nước vẫn thuộc danh sách trả lương hoặc tiền công của cơ quan và đơn vị) làm việc trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức sau đây:

- Các doanh nghiệp Nhà nước

- Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên.

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp.

- Các doanh nghiệp, tổ chức dịch vụ thuộc lực lượng vũ trang.

- Các tổ chức kinh tế, dịch vụ thuộc cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan đảng, đoàn thể.

- Các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế đặt tại Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

- Các đơn vị sự nghiệp gắn thu bù chi, đơn vị sự nghiệp hưởng nguồn thu bằng viện trợ nước ngoài (kể cả viện trợ của tổ chức phi chính phủ) để trả lương cho công nhân viên chức trong đơn vị.

- Các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan đảng, đoàn thể, hội quần chúng, dân cử từ trung ương đến cấp huyện (sau này được mở rộng ra đối với cấp xã, phường, thị trấn theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 09/1998/ NĐ - CP ngày 23/1/1998).

- Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) và Ban Cơ yếu Chính phủ (chi tiết, cụ thể xem thêm Điều 3, Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 45/ CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ).

Cùng với đối tượng tham gia BHXH được mở rộng hơn so với trước đây, thì loại hình tham gia BHXH cũng được thống nhất: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Vấn đề này bước đầu đã tạo ra sự bình đẳng giữa những người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Với đối tượng đã được quy định như ở trên, hiện nay cả nước ta đã có khoảng 10% lực lượng lao động tham gia BHXH.



2.2. Nguồn hình thành quỹ BHXH

Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây:

- Đóng góp của các đối tượng tham gia BHXH theo quy định trên.

- Ngân sách Nhà nước chuyển sang gồm:

+ Tiền để chi trả cho các đối tượng đang hưởng các chế độ BHXH trước ngày Điều lệ BHXH có hiệu lực (1/1/1995).

+ Tiền đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động sau ngày ban hành Điều lệ BHXH.

+ Đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng các chế độ BHXH.

- Tiền lãi, tiền sinh lời từ việc thực hiện phương án bảo toàn và phát triển quỹ BHXH.

- Thu từ nguồn tài trợ, viện trợ quốc tế, trong nước.

- Giá trị tài sản của BHXH được đánh giá theo quy định của Chính phủ.

- Thu khác.

2.3. Quản lý thu nộp BHXH

2.3.1. Căn cứ để quản lý thu nộp BHXH

Để quản lý và thực hiện việc thu nộp BHXH phải căn cứ vào bảng thanh toán lương (hoặc sổ lĩnh lương) cuả đơn vị sử dụng lao động, trong đó có danh sách lao động, mức lương và các khoản phụ cấp trả cho người lao động trong tháng (trừ lao động hợp đồng phụ việc, lao động hợp đồng ngắn hạn).



2.3.2. Mức thu và nguồn kinh phí để trích nộp BHXH

a. Mức thu nộp BHXH

Mức thu nộp BHXH là 20% tổng quỹ lương hàng tháng, trong đó:

- Cơ quan, đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH.

- Người lao động (người tham gia BHXH) đóng bằng 5% tiền lương hàng tháng.



b. Tiền lương và quỹ tiền lương hàng tháng làm căn cứ trích nộp BHXH

- Đối với khu vực hành chính sự nghiệp, tổ chức đảng, đoàn thể, hội quần chúng, dân cử và lực lượng vũ trang thì quỹ tiền lương làm căn cứ trích nộp BHXH gồm: Tiền lương chính theo ngạch, bậc, theo cấp hàm, chức vụ do bầu cử và các khoản phụ cấp chức vụ, khu vực, đắt đổ, thâm niên, phụ cấp thâm niên tái cử, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) theo quy định tại Nghị định số 35/NQ-UBTVQHK9 ngày 17/5/1993 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 9; Quyết định số 09/QĐ-TW ngày 17/5/19993 của Ban Bí thư; Nghị định số 25/CP ngày 17/5/1993 của Chính phủ; Quyết định số 574/TTg ngày 25/11/1993 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 05/CP ngày 26/1/1994 của Chính phủ.

- Đối với khu vực sản xuất kinh doanh gồm: Các doanh nghiệp quy định tại điểm 1, 2, 3, 4, 5 mục 2.1 - đối tượng tham gia BHXH nêu ở trên thì tổng quỹ lương làm căn cứ trích nộp BHXH là tổng tiền lương tháng của những người tham gia BHXH gồm: Tiền lương cấp bậc, chức vụ, hợp đồng, hệ số chênh lệch bảo lưu và các khoản trợ cấp chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp đắt đỏ... (nếu có) theo đúng Nghị định số 26/CP ngày 25/3/1993 và Nghị định số 05/CP ngày 26/1/1994 của Chính phủ.

Các doanh nghiệp nếu đã ký hợp đồng lao động thì trích nộp BHXH tính trên tổng quỹ tiền lương theo hợp đồng đã ký kết.

- Đối với các đơn vị quy định tại điểm 6, 7 mục 2.1 - đối tượng tham gia nêu ở trên thì tổng quỹ lương để làm căn cứ trích nộp BHXH là quỹ lương hợp đồng.

c. Nguồn trích nộp và hạch toán kế toán

- Khoản đóng góp BHXH bằng 15% quỹ tiền lương thuộc trách nhiệm đóng góp của cơ quan, đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động:

+ Đối với đơn vị hưởng lương từ nguồn Ngân sách Nhà nước cấp, tính trong dự toán kinh phí hàng quỹ, năm và hạch toán vào mục 68: chi BHXH theo chương, loại, khoản và hạng tương ứng.

+ Đối với đơn vị sản xuất kinh doanh - dịch vụ thì tính vào chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ và hạch toán vào mục "trích bảo hiểm xã hội".

+ Đối với các đơn vị gắn thu bù chi, đơn vị hưởng nguồn viện trợ của nước ngoài thì trích từ nguồn thu, nguồn viện trợ để nộp BHXH và hạch toán vào chi phí quản lý.

- Khoản đóng BHXH của người lao động: Cơ quan, đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động trích từ tiền lương hàng tháng của từng người, nộp vào quỹ BHXH cùng một lúc với 15% đóng góp của cơ quan, đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động.



2.3.3. Phân cấp quản lý thu nộp BHXH

Giám đốc BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là BHXH tỉnh) có trách nhiệm tổ chức thực hiện và chỉ đạo BHXH huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là BHXH huyện) thu BHXH của tất cả các đơn vị, tổ chức, cơ quan của Trung ương và địa phương (sau đây gọi chung là đơn vị) có tài khoản và trụ sở đóng trên địa bàn của tỉnh theo phân cấp quản lý như sau:

- BHXH tỉnh thu BHXH của các đơn vị có trụ sở và tài khoản tại tỉnh, bao gồm:

+ Các đơn vị thuộc Trung ương quản lý đóng trên địa bàn tỉnh (riêng lực lượng vũ trang hưởng BHXH theo Nghị định số 45/CP có hướng dẫn ở văn bản khác).

+ Các đơn vị do tỉnh trực tiếp quản lý.

+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

+ Các đơn vị, tổ chức quốc tế có trên địa bàn tỉnh, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

+ Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng 50 lao động trở lên.

Trường hợp BHXH các huyện thuộc tỉnh không đủ điều kiện để thực hiện nhiệm vụ thu BHXH của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh dưới 50 lao động hoặc các đơn vị Trung ương, đơn vị thuộc tỉnh có số lao động không nhiều thì Giám đốc BHXH tỉnh quyết định việc phân cấp thu đối với từng đơn vị cụ thể cho BHXH huyện.

- BHXH huyện thu BHXH của các đơn vị có trụ sở và tài khoản tại huyện, bao gồm:

+ Các đơn vị thuộc cấp huyện trực tiếp quản lý.

+ Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sử dụng từ 10 lao động đến 50 lao động.

+ Các đơn vị khác do BHXH tỉnh giao nhiệm vụ thu theo quyết định phân cấp thu.

Trường hợp BHXH tỉnh mở rộng đối tượng thu BHXH tự nguyện đối với doanh nghiệp sử dụng lao động dưới 10 lao động phải báo cáo BHXH Việt Nam để trình Hội đồng quản lý xem xét quyết định.

- Đối với một số đơn vị có các đơn vị trực thuộc đóng trụ sở và hoạt động ở địa bàn thuộc nhiều tỉnh muốn nộp BHXH cho các đơn vị trực thuộc BHXH tỉnh nơi đóng trụ sở chính thì phải có sự thống nhất của BHXH các nơi có liên quan (nơi có trụ sở các đơn vị trực thuộc đóng) và được BHXH Việt Nam chấp thuận.

2.3.4. Lập kế hoạch thu nộp BHXH

a. Đối với các đơn vị sử dụng lao động:

- Hàng tháng, căn cứ vào số biên chế và kế hoạch quỹ tiền lương của đơn vị mình lập kế hoạch nộp BHXH trong quý và đăng ký ngày nộp tiền từng tháng gửi cho cơ quan BHXH vào ngày 20 của tháng cuối quý trước.



b. Đối với cơ quan BHXH tỉnh, huyện:

- Hàng tháng, BHXH huyện tổng hợp kế hoạch thu BHXH của các đơn vị do mình chịu trách nhiệm tổ chức thu và ghi sổ BHXH gửi cho BHXH tỉnh vào ngày 25 của tháng cuối quý trước.

- Hàng quý, BHXH tỉnh tổng hợp kế hoạch thu BHXH của các đơn vị do BHXH tỉnh trực tiếp thu BHXH. Tổng hợp kế hoạch thu BHXH trên địa bàn toàn tỉnh, nộp cho BHXH Việt Nam vào ngày 30 của tháng cuối quý trước. Riêng kế hoạch thu BHXH của cả năm do BHXH tỉnh lập bao gồm tất cả các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh và tổng hợp theo địa bàn.

2.3.5. Tổ chức thu BHXH và ghi sổ BHXH cho người lao động

- Hàng tháng, căn cứ vào kế hoạch nộp tiền BHXH do các đơn vị sử dụng lao động đã đăng ký, BHXH tỉnh, huyện đôn đốc và tổ chức thu BHXH bằng 20% quỹ lương (đơn vị sử dụng lao động đóng 15% so với tổng quỹ lương, người lao động đóng 5% tiền lương tháng) vào ngày của kỳ lương đầu tiên trong tháng.

- Tháng cuối quý, đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm lập danh sách nộp BHXH của người lao động thuộc đơn vị mình, tính đủ số tiền phải nộp BHXH theo lương của người lao động trong quý gửi cho cơ quan BHXH 2 bản.

- Cán bộ phụ trách thu thuộc cơ quan BHXH có trách nhiêm kiểm tra tiền lương, mức đóng góp của từng người lao động và tổng số tiền phải nộp BHXH của toàn bộ đơn vị sử dụng lao động. Cuối mỗi quý cùng với đơn vị sử dụng lao động đối chiếu với số đã nộp với số phải nộp BHXH, lập bản xác nhận về việc nộp BHXH trong quý. Nếu có chênh lệch giữa số đã nộp và số phải nộp thì phải nộp tiếp vào tháng đầu của quý sau (nếu có chênh lệch thiếu) hoặc coi như đã nộp trước cho tháng đầu của quý sau (nếu có chênh lệch thừa). Sau đó, cán bộ phụ trách thu tiến hành ghi sổ BHXH cho từng người lao động và xác nhận vào 2 bản danh sách đóng BHXH của đơn vi sử dụng lao động, trả lại cho đơn vị sử dụng lao động 1 bản, 1 bản lưu tại cơ quan BHXH.

- Trường hợp chậm nộp BHXH hàng tháng thì số tiền nộp chậm sẽ phải nộp phạt theo lãi suất tiền gửi ngắn hạn của Ngân hàng tại thời điểm truy nộp là 0,7% tháng.

- Người lao động và đơn vị sử dụng lao động cố tình không nộp BHXH theo đúng thời hạn và đủ mức theo quy định, thì cơ quan BHXH thuộc hệ thống BHXH Việt Nam có quyền từ chối việc chi trả các chế độ BHXH của tất cả người lao động thuộc đơn vị đó; đồng thời báo cáo lên cơ quan BHXH cấp trên và thông báo cho các cơ quan hữu quan để có biện pháp giải quyết.

- Bộ phận Kế toán - Tài chính thuộc BHXH các tỉnh, các huyện thực hiện chuyển tiền thu BHXH lên BHXH cấp trên đúng thời hạn theo quy định tại công văn số 193 CV/LN ngày 9/9/1995 của liên ngành BHXH Việt Nam và Kho bạc Nhà nước Trung ương.

- Chế độ báo cáo thu BHXH:

+ Đình kỳ 10 ngày 1 lần vào các ngày 5, 15 hàng tháng, cơ quan BHXH các huyện báo cáo về tình hình thu BHXH gửi về BHXH tỉnh.

Đình kỳ 10 ngày 1 lần vào các ngày 7, 17 hàng tháng, BHXH tỉnh tổng hợp số thu BHXH trên địa bàn báo cáo gửi về BHXH Việt Nam.

+ Chậm nhất là ngày 28 hàng thàng, BHXH các huyện tổng hợp, lập báo cáo về số thu BHXH trong tháng được xác định từ ngày 26 của tháng trước đến ngày 25 của tháng báo cáo, có xác nhận của cơ quan Kho bạc Nhà nước nơi mở tài khoản gửi về cho BHXH tỉnh.

Cơ quan BHXH tỉnh, tổng hợp số thu trên toàn địa bàn trong tháng được xác nhận từ ngày 29 của tháng trước đến ngày 28 của tháng báo cáo có xác nhận của Kho bạc Nhà nước nơi mở tài khoản, gửi về cho BHXH Việt Nam chậm nhất là ngày 30 hàng tháng.

Riêng tháng 12 hàng năm số liệu được xác định đến hết ngày 31/12.

+ Chậm nhất là ngày 5 tháng 1 năm sau BHXH huyện phải nộp báo cáo cho BHXH tỉnh về số thu BHXH năm trước có xác nhận của cơ quan Kho bạc Nhà nước huỵện. BHXH tỉnh tổng hợp báo cáo số thu BHXH trên toàn địa bàn trong năm có xác nhận của cơ quan Kho bạc Nhà nước tỉnh gửi cho BHXH Việt Nam chậm nhất là ngày 10/1 năm sau.



3. Tình hình thu nộp BHXH

3.1. Công tác thu nộp BHXH

Đây là nhiệm vụ được xác định là điều kiện tiên quyết cho việc hình thành và tăng trưởng quỹ BHXH. Vì vậy ngay từ khi mới thành lập, trên cơ sở những văn bản hướng dẫn hoạt động BHXH và danh sách các đơn vị sử dụng lao động nhận bàn giao từ cơ quan Lao động – Thương binh & xã hội, Tài chính, Liên đoàn Lao động. BHXH các tỉnh, thành phố đã đã tập trung nắm tình hình hoạt động và sử dụng lao động của các đơn vị có trong danh sách được bàn giao, cũng như các đơn vị ngoài danh sách bàn giao nhưng trong diện phải tham gia BHXH theo quy định của pháp luật. Nhờ có sự cố gắng trên, toàn ngành BHXH Việt Nam đã đạt được những thành tích nhất định, khẳng định được vị trí của mình, khẳng định được sự tồn tại và phát triển thông qua các hoạt động của ngành. Đó là số thu BHXH ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước. Thể hiện:

3.1.1. Tình hình đóng BHXH của các đơn vị sử dụng lao động

Theo quy định tại Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 và Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ, các cơ quan đơn vị doanh nghiệp thuộc diện đóng bắt buộc phải đóng BHXH bằng 15% tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH. Từ quý IV/1995 đến năm 2000, tổng số tiền đóng BHXH là 14.765.691 triệu đồng, số liệu cụ thể các năm như sau:

- Quý IV/1995 : 296.250 triệu đồng.

- Năm 1996 : 1.927.300 triệu đồng.

- Năm 1997 : 2.584.208 triệu đồng.

- Năm 1998 : 2.906.967 triệu đồng.

- Năm 1999 : 3.139.541 triệu đồng.

- Năm 2000 : 3.911.425 triệu đồng.

3.1.2. Tình hình đóng BHXH của người lao động

Từ khi BHXH Việt Nam chính thức hoạt động(tháng 10/1995) đến nay, tổng số tiền mà cơ quan BHXH đã thu được từ người lao động là 4.921.896 triệu đồng, trong đó:



- Quý IV/1995 : 98.750 triệu đồng.

- Năm 1996 : 642.433 triệu đồng.

- Năm 1997 : 861.403 triệu đồng.

- Năm 1998 : 968.989 triệu đồng.

- Năm 1999 : 1.046.513 triệu đồng.

- Năm 2000 : 1.303.808 triều đồng.



3.1.3. Nguồn đóng và hỗ trợ thêm từ Ngân sách Nhà nước

Trong thời gian từ tháng 10/1995 đến hết tháng 12/2000, tổng số tiền hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng nghỉ chế độ BHXH có thời gian tham gia BHXH từ năm 1995 trở về trước là 26.966.679 triệu đồng, cụ thể như sau:



  • Quý IV/1995 : 1.112.030 triệu đồng.

- Năm 1996 : 4.387.903 triệu đồng.

- Năm 1997 : 5.163.093 triệu đồng.

- Năm 1998 : 5.128.425 triệu đồng.

- Năm 1999 : 5.025.620 triệu đồng.

- Năm 2000 : 6.159.608 triệu đồng.


Bảng 6: TÌNH HÌNH THU NỘP BHXH DO BHXH VIỆT NAM QUẢN LÝ TỪ QUÝ IV/1995 ĐẾN NĂM 2000

STT


Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Quý

IV/95


1996


1997


1998



1999


2000

1

Số đơn vị SDLĐ

Đơn vị

18.566

30.789

34.815

49.628

59.176

61.577

2

Số LĐ tham gia BHXH

- % so với năm trước



Nghìn người

%

2.276
-

2.821
-

3.162
112,1

3.355
106,1

3.579
106,7

3.843
107,4

3

Số thu BHXH

- % so với năm trước



Tỷ đồng

%

395,0

-


2.569,7

-


3.445,6

134,1


3.876,0

112,5


4.186,0

108,0


5.215,2

124,6


4

Tỷ lệ thu so với chi

%

34,2

54,4

59,9

65,9

70,2

70,5

5

Chênh lệch thu - chi BHXH

Tỷ đồng

353,0

2.186,5

2.852,1

3.124,4

3.245,6

3.974,7

(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam)

Qua bảng 6 cho ta thấy, kết quả nổi bật trong công tác thu nộp BHXH từ 1/10/1995 đến năm 2000 là số lao động tham gia và số thu BHXH mỗi năm một tăng lên, năm sau cao hơn năm trước. Phân tích các chỉ tiêu cho ta thấy như sau:

- Chỉ tiêu số 1 và 2 là: nếu cuối năm 1995 cả nước có 2,2 triệu lao động tham gia BHXH thì đến năm 2000 con số này đã lên tới 3,8 triệu lao động, tăng 1,6 triệu lao động (chưa kể mỗi năm có khoảng 15 vạn người nghỉ việc) và bằng khoảng 10% lực lượng lao động xã hội. Điều đó cho thấy, việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH đến các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có từ 10 lao động trở lên cùng với chính sách thu BHXH phù hợp nên số các đơn vị sử dụng lao động lẫn người lao động tham gia BHXH đã ngày một tăng. Tuy nhiên, con số 10% lực lượng lao động tham gia BHXH so với các nước còn ở mức rất thấp, ví dụ: Malaysia : 90%, Mỹ : 95%... cùng với đó là tốc độ gia tăng số lao động tham gia BHXH hàng năm còn chậm và ở mức thấp nhưng có xu hướng tăng lên từ 6,1% năm 1998 lên 7,4% năm 2000. Qua tham khảo số liệu cho thấy, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân ngoài quốc doanh có tốc độ tăng cao nhất, cụ thể là: năm 1995 có 30.063 người, năm 1996 có 56.280 người, năm 1997 có 84.058 người, năm 1998 có 122.685 người, năm 1999 có 125.279 người và năm 2000 có 206.890 người, bình quân tăng 47,1%/năm. Tiếp đến là tốc độ tăng của lao động làm việc trong các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn vốn đầu tư nước ngoài: năm 1995 có 78.791 người, năm 1996 có 125.889 người, năm 1997 có 214.596 người, năm 1998 có 242.108 người, năm 1999 có 361.522 người và năm 2000 có 369.857 người, bình quân tăng 36,2%/năm.

- Bên cạnh sự tăng lên về số lao động tham gia BHXH thì cũng chính nhờ chính sách thu BHXH phù hợp với điều kiện thu nhập và tiền lương của người lao động còn thấp mà số thu BHXH ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước được thể hiện rõ nét ở chỉ tiêu số 3. Thông qua chỉ tiêu này ta thấy, nếu năm 1996 số thu đạt 2569,7 tỷ đồng thì sau 5 năm, năm 2000 số thu đã lên tới 5215,2 tỷ đồng, tăng 103% so với năm 1996. Nếu so với năm 1994 là năm trước khi bước vào thời kỳ cải cách chính thức hệ thống BHXH ở nước ta thì các năm 1999 và năm 2000 đều có số thu tăng gấp hơn 10 lần. Tuy vậy, tỷ lệ tăng thu BHXH năm sau so với năm trước giảm dần từ 34,1% năm 1997 xuống còn 8% năm 1999 nhưng nhanh chóng được khắc phục bằng tỷ lệ tăng thu 24,6% năm 2000 so với năm 1999. Sự sụt giảm tốc độ tăng thu BHXH giai đoạn 1997 - 1999 phải chăng là do tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực. Mặc dù vậy, thu BHXH hàng năm vẫn đạt vượt mức kế hoạch, điển hình là năm 1997 thu đạt vượt mức 24,4 % kế hoạch đặt ra. Điều đó thể hiện sự nỗ lực vượt bậc của các cán bộ, công chức ngành BHXH, sự quan tâm chỉ đạo sâu sát và kịp thời của BHXH Việt Nam và các cấp uỷ Đảng, Chính quyền từ Trung ương đến địa phương. Cũng nhờ vậy mà tình hình công nợ tuy có phát sinh nhưng ngày càng giảm, đã rút ngắn số ngày chiếm dụng tiền BHXH phải nộp của các đơn vị sử dụng lao động từ 73 ngày năm 1995 (ứng với 20,1% số nợ so với tổng số phải thu) xuống còn 38 ngày năm 2000 (ứng với 10,4% số nợ so với tổng số phải thu theo số liệu báo cáo nhanh của BHXH Việt Nam). Mục tiêu trong những năm tới là phải phấn đấu tiếp tục làm giảm số chiếm dụng này xuống mức thấp hơn nữa.

- Chỉ tiêu số 4 đã khẳng định rõ hơn những kết quả đạt được trong công tác thu nộp BHXH thời gian qua, đó là tỷ lệ thu BHXH từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động so với tổng chi ngày càng tăng từ 34,2% của quý IV/1995 lên 70,5% năm 2000. Điều đó nói lên rằng, công tác thu nộp BHXH đã góp phần quan trọng vào việc hình thành được quỹ BHXH tập trung, hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước, làm giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước trong việc chi trả các chế độ BHXH đồng thời tạo điều kiền cho cơ quan BHXH Việt Nam chủ động trong việc số tiền tạm thời nhàn rỗi chưa được sử dụng trong quỹ BHXH vào đầu tư tăng trưởng quỹ. Số tiền này được hình thành từ khoản chênh lệch thu - chi quỹ BHXH hàng năm thể hiện ở chỉ tiêu số 5 và được phản ảnh rõ nét trong đồ thị dưới đây:
1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương