Ảnh hưỞng của levamisole lên một số chỉ tiêu miễn dịch và khả NĂng kháng bệnh ở CÁ tra



tải về 0.49 Mb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu01.06.2018
Kích0.49 Mb.
  1   2   3

Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ Tập …………..

ẢNH HƯỞNG CỦA LEVAMISOLE LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU MIỄN DỊCH VÀ KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH Ở CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)

Bùi Thị Bích Hằng*, Lê Văn Tèo, Trương Quỳnh Như

* Người chịu trách nhiệm về bài viết: Bùi Thị Bích Hằng (btbhang@ctu.edu.vn)

TÓM TẮT

Nghiên cứu thực hiện nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của việc bổ sung levamisole vào thức ăn lên sự đáp ứng miễn dịch tự nhiên của cá tra. Levamisole được bổ sung vào thức ăn cho cá tra ở nhiều nồng độ khác nhau (0, 50, 150, 300 và 450 mg/kg thức ăn) trong thời gian 4 tuần. Cá thí nghiệm được cảm nhiễm bằng phương pháp tiêm xoang bụng với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri ở tuần thứ 4 sau khi bổ sung levamisole. Các chỉ tiêu huyết học và miễn dịch được đánh giá ở tuần thứ 2 và thứ 4 của thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu ghi nhận: tổng bạch cầu, các loại bạch cầu bao gồm bạch cầu đơn nhân, bạch cầu trung tính ở nhóm bổ sung levamisole tăng cao hơn so với nghiệm thức đối chứng. Các chỉ tiêu miễn dịch, hoạt tính lysozyme và bổ thể tăng cao có ý nghĩa thống kê ở nghiệm thức bổ sung 300 mg/kg thức ăn so với các nghiệm thức còn lại sau 2 tuần bổ sung (p<0,05). Tuy nhiên, đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu của cá giảm nhẹ ở tuần thứ 4 sau khi bổ sung levamisole. Sau khi cảm nhiễm, tỉ lệ chết thấp nhất của cá được tìm thấy ở nghiệm thức bổ sung 300 mg/kg thức ăn, khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (p<0,05). Nghiên cứu cho thấy, bổ sung levamisole vào thức ăn cá tra với nồng độ 300 mg/kg thức ăn có thể làm gia tăng đáp ứng miễn dịch tự nhiên ở cá và bảo vệ cá tra kháng với vi khuẩn E. ictaluri.

Từ khóa: Cá tra, chất kích thích miễn dịch, levamisole, đáp ứng miễn dịch

ABSTRACT

This study is aimed to evaluate the effect of levamisole-enrich diets on the innate immune response of striped catfish (Pangasianodon hypophthalmus). Different concentrations of levamisole (0, 50, 150, 300 and 450 mg/kg) were incorporated with fish feed for a period of 4 weeks. Experimental fish were challenged intra-peritoneally with Edwardsiella ictaluri in the 4th week after feeding levamisole. Hematological and immunological parameters were determined in week 2 and 4. The results of experiment reveased that total leukocyte count, monocytes and neutrophils increased in levamisole supplemented groups compared to the control group. The immunological parameters, lysozyme and complement activity statistically increased at doses of 300 mg/kg of the levamisole supplemented diet after 2 weeks (p<0.05). However, the innate immune response of levamisole groups decreased slightly in the 4th week. The lowest mortality rate of post- challenge found in the group of 300mg/kg showed a statistically significant difference compared to the control group (p<0.05). This study reported that the administration of levamisole dietary treatment of 300 mg/kg feed could enhance the innate immune response and resistance to E. ictaluri in striped catfish.

Keywords: Striped catfish, immunostimulant, levamisole, immune response

Title: Effect of levamisole on parameters of immune response and bacterial resitance of striped catfish (Pangasianodon hypophthalmus)
  1. GIỚI THIỆU


Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là loài cá nuôi phổ biến và có thế mạnh xuất khẩu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong những năm gần đây, mật độ nuôi tăng cao nhằm thâm canh hóa và gia tăng lợi nhuận theo mục tiêu của người nuôi. Thực tế cho thấy, nuôi thâm canh cá tra ảnh hưởng rất lớn tới môi trường nuôi theo diễn biến xấu, dẫn đến cá dễ bị nhiễm bệnh và khó kiểm soát (Đặng Thị Hoàng Oanh và Nguyễn Trúc Phương, 2010). Các loại bệnh xuất hiện phổ biến trên cá tra như: bệnh gan thận mủ, xuất huyết, ký sinh trùng... (Dung et al., 2008). Để kiểm soát dịch bệnh, người nuôi thường sử dụng thuốc và hóa chất trong suốt quá trình nuôi cá. Theo Rico et al. (2013) 100% hộ nuôi cá tra ở ĐBSCL có sử dụng thuốc và hóa chất trong suốt quá trình nuôi. Việc sử dụng hóa chất và kháng sinh không đúng quy định gây tác động xấu đến môi trường, hệ sinh thái của thủy vực, hiện tượng kháng kháng sinh trong các loài vi khuẩn gây bệnh trên cá và tồn lưu dư lượng trong sản phẩm thủy sản ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng (Sarter et al., 2007; Dung et al., 2009). Người nuôi sử dụng thuốc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và tự pha trộn. Mặt khác, người nuôi biết rõ về danh mục các loại thuốc cấm nhưng một số người vẫn còn sử dụng mà chưa hiểu rõ về các nguy cơ của việc sử dụng thuốc, hóa chất trong phòng trị bệnh cá (Nguyễn Chính, 2005). Do vậy, tìm ra giải pháp phòng bệnh hữu hiệu cho cá, hạn chế tình trạng dùng thuốc và hóa chất để kiểm soát dịch bệnh trên cá là một việc cần thiết và cấp bách. Một vài giải pháp đã được đề xuất và nghiên cứu, trong đó sử dụng chất kích thích miễn dịch để phòng bệnh cho cá là biện pháp đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Levamisole là một trong những chất kích thích miễn dịch tiềm năng cho động vật trên cạn và cá (Renoux, 1980; Ayarun et al., 2006; Shahidi et al., 2011). Thí nghiệm bổ sung levamisole vào thức ăn cho cá làm gia tăng các chỉ tiêu miễn dịch không đặc hiệu như số lượng tế bào bạch cầu, hoạt tính lysozyme, hoạt tính bổ thể, hoạt tính chống oxy hóa, ... (Peng et al., 2006; Ispir et al., 2007). Ngoài ra, levamisole cũng được sử dụng như một chất bổ trợ khi tiêm vắc-xin cho cá hồi (Salmo salar L.) (Morrison et al., 2001). Bên cạnh đó, cá tra được tiêm levamisole (5 mg/kg cá) cũng cho thấy levamisole giúp kích thích gia tăng sự đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu của cá tra (Hang et al., 2013b). Tuy nhiên, hiện tại chưa có một nghiên cứu hay báo cáo về việc xác định hàm lượng levamisole bổ sung thông qua thức ăn để nâng cao đáp ứng miễn dịch, tăng cường khả năng kháng bệnh của cá tra tại Việt Nam. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu khả năng ảnh hưởng của levamisole lên hệ miễn dịch cá tra, đồng thời xác định liều lượng levamisole thích hợp trong phòng bệnh cho cá tra nuôi.
  1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    1. Thí nghiệm bổ sung levamisole


Cá tra giống khỏe có kích cỡ 15-20 g/con, được chuyển về phòng thí nghiệm Khoa Thủy sản và thuần hóa 2 tuần để thích nghi với điều kiện thí nghiệm. Trước khi bố trí thí nghiệm, cá được kiểm tra lâm sàng ngẫu nhiên về hình dạng, kí sinh trùng, vi khuẩn (5 cá).

Thí nghiệm bổ sung levamisole (99%, 196142, Sigma) được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức (0, 50, 150, 300 và 450 mg levamisole/kg thức ăn), lặp lại 3 lần. Cá được bố trí với số lượng 40 con/bể 250 ml, có hệ thống sục khí, được cho ăn 2 lần/ngày với khẩu phần 5% trọng lượng thân trong 4 tuần. Thu mẫu máu vào tuần thứ 2 và thứ 4 sau khi cá được cho ăn thức ăn có bổ sung levamisole. Mỗi lần thu 9 cá/nghiệm thức. Mẫu máu được sử dụng phân tích các chỉ tiêu huyết học, hoạt tính lysozyme và bổ thể.
    1. Thí nghiệm cảm nhiễm


Sau 4 tuần bổ sung levamisole, cá thí nghiệm được cảm nhiễm với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri. Vi khuẩn được nuôi tăng sinh trong môi trường Nutrient Broth, ly tâm ở 4000 vòng/phút trong 15 phút ở 4oC. Mật độ vi khuẩn được xác định bằng máy so màu quang phổ ở bước sóng là 610 nm. Sau đó pha loãng vi khuẩn đến mật độ 105 cfu/ml để tiến hành cảm nhiễm cho cá. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 10 nghiệm thức, trong đó, mỗi nghiệm thức của thí nghiệm bổ sung levamisole được chia thành 2 nghiệm thức nhỏ, một sử dụng làm đối chứng (tiêm 0,1 ml NaCl2) và một sử dụng để cảm nhiễm vi khuẩn (tiêm 0,1 ml E. ictaluri). Thí nghiệm bố trí 45 cá/nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần. Mỗi cá được tiêm 0,1 ml vi khuẩn (105 cfu/ml) (Hang et al., 2013a). Ghi nhận những biểu hiện, tỉ lệ chết của cá trong suốt 14 ngày sau khi cảm nhiễm. Dấu hiệu bệnh lý được ghi nhận, mẫu thận trước được trữ trong ethanol để tái định danh vi khuẩn. Sau 3 ngày gây cảm nhiễm thu 9 cá/nghiệm thức để phân tích các chỉ tiêu huyết học, hoạt tính lysozyme và bổ thể. Thí nghiệm được bố trí trong điều kiện có sục khí, không thay nước trong suốt quá trình thí nghiệm, cá được cho ăn thức ăn (0mg levamisol/kg thức ăn) theo nhu cầu.

Tỉ lệ chết (%) = (Tổng số cá chết / Tổng số cá thí nghiệm) x 100
    1. Phân tích các chỉ tiêu miễn dịch


Định lượng hồng cầu (Natt và Herrick, 1952), mật độ hồng cầu được xác định bằng buồng đếm Neubauer và tính theo công thức:

HC = C x 10 x 5 x 200 (tb/mm3) (C: Tổng số hồng cầu trong 5 vùng đếm)

Định lượng tổng bạch cầu và từng loại bạch cầu (Hrubec et al., 2000). Trải mẫu máu bằng cách nhỏ một giọt máu lên lame, sau đó dùng lamelle chạm vào giọt máu và đẩy lamelle ngược về phía trước. Mẫu máu sau khi khô được cố định trong methanol 1 phút. Để mẫu khô tự nhiên và nhuộm Wright & Giemsa. Tổng số lượng bạch cầu được tính theo công thức:

TBC (tb/mm3) = (Số BC trong 1.500 tế bào x R)/Số HC trong 1.500 tế bào

(TBC: mật độ tổng bạch cầu, BC: bạch cầu, R: mật độ hồng cầu, HC: hồng cầu)

Định lượng từng loại bạch cầu trong tổng số 200 tế bào bạch cầu. Tính mật độ từng loại bạch cầu theo công thức:

Mật độ loại bạch cầu (tb/mm3) = (Số lượng mỗi loại bạch cầu x TBC)/200

Xác định hoạt tính lysozyme (Ellis et al.,1990). Dựng đường chuẩn lysozyme với các nồng độ 0, 2, 4, 8 và 16 μg/mL. Cho 10 μL dung dịch từ các nồng độ pha loãng cho vào đĩa 96 giếng, tiếp theo cho 200 μL/giếng dịch huyền phù Micrococcus luteus (Sigma). Đối với mẫu huyết thanh của cá, cho 10 μL vào đĩa 96 giếng, thêm 200 μL/giếng vi khuẩn Micrococcus luteus. Hỗn hợp được ủ ở nhiệt độ 27oC và đo ở bước sóng 495 nm. Hoạt tính lysozyme được tính dựa vào đường chuẩn lysozyme.

Xác định hoạt tính bổ thể: Hoạt tính bổ thể được phân tích theo phương pháp của Sunyer và Tort (1995) dựa trên sự phân giải hồng cầu của bổ thể. Cho 10 µl hồng cầu cừu trộn đều với huyết thanh cá với nhiều nồng độ khác nhau (0,01; 0,005; 0,0025; 0,00125; 0,00062, 0), ủ 100 phút ở nhiệt độ 28oC. Tiếp tục ly tâm 2000 xg trong 10 phút ở nhiệt độ phòng. Đọc mẫu ở bước sóng 405 nm.
    1. Quy trình PCR phát hiện vi khuẩn


Vi khuẩn E.ictaluri được phát hiện theo phương pháp PCR được mô tả bởi Đặng Thị Hoàng Oanh và Nguyễn Trúc phương (2010).
    1. Xử lý số liệu


Các số liệu được nhập dữ liệu và xử lý bằng phần mềm Excel. Chương trình SPSS 13.0 được sử dụng phân tích ANOVA 1 nhân tố ở mức ý nghĩa p<0,05.
  1. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

    1. Kết quả chỉ tiêu huyết học


Tổng hồng cầu: Sau 2 tuần bổ sung levamisole, mật độ hồng cầu ở các nghiệm thức dao động từ 1,67 – 1,95 x 106 tb/mm3, có sự gia tăng mật độ hồng cầu ở các nghiệm thức bổ sung levamisole so với nghiệm thức đối chứng, trong đó tăng cao nhất ở nghiệm thức bổ sung 300 và 450 mg/kg, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Ở thời điểm 4 tuần sau khi bổ sung levamisole, mật độ hồng cầu ở các nghiệm thức bổ sung levamisole (1,72 – 1,90 x 106 tb/mm3) cao hơn nghiệm thức đối chứng (1,65 x 106 tb/mm3). Riêng nghiệm thức 5 (450 mg/kg), mật độ hồng cầu (1,67 x 106 tb/mm3) giảm so với tuần thứ 2 (1,95 x 106 tb/mm3) nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Sau 3 ngày cảm nhiễm với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri, mật độ hồng cầu của cá tăng nhẹ so với cá trước khi cảm nhiễm, trong đó cá ở nghiệm thức có bổ sung levamisole tăng cao hơn cá ở nghiệm thức đối chứng, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Kết quả mật độ hồng cầu của cá trong thí nghiệm cũng phù hợp theo kết quả của các nghiên cứu trước đây. Nguyễn Thị Thúy Liễu (2008) cho biết mật độ hồng cầu trên cá khỏe dao động từ 1,69 – 2,05 x 106 tb/mm3. Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của lipopolysaccharide lên đáp ứng miễn dịch cá tra cũng cho thấy mật độ hồng cầu cá có sự gia tăng so với đối chứng nhưng không khác biệt có ý nghĩa thống kê (Hang et al., 2013a). Tương tự, ở thí nghiệm bổ sung levamisole với nhiều mức khác nhau (0, 125, 250 và 500 mg/kg) vào thức ăn cho cá chép ăn trong 70 ngày. Kết quả cho thấy mật độ hồng cầu tăng cao ở các nghiệm thức cá chép được bổ sung levamisole, trong đó nghiệm thức (250mg/kg) tăng cao nhất và có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (Sajid et al., 2009).

Tổng bạch cầu:

Sau khi bổ sung levamisole, ở tuần thứ 2 tổng mật độ bạch cầu ở các nghiệm thức bổ sung đều tăng cao, các nghiệm thức bổ sung 150, 300 và 450 mg/kg cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (p<0,05). Trong đó, nghiệm thức NT4 (300 mg/kg) cho kết quả tổng bạch cầu tăng cao nhất (158,4 x103 tb/mm3) và khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng (112,9 x 103 tb/mm3) (p<0,05). Ở tuần thứ 4, nồng độ bạch cầu ở các nghiệm thức bổ sung levamisole (119,2 – 150,6 x 103 tb/mm3) vẫn cao hơn nghiệm thức đối chứng (116 x 103 tb/mm3), trong đó NT 150mg/kg (147,7 x 103 tb/mm3) và NT 300 mg/kg (150,6 x 103 tb/mm3) cho kết quả cao nhất và khác biệt so với các nghiệm thức còn lại (p<0,05). Tuy nhiên, nồng độ bạch cầu ở thời điểm này giảm nhẹ so với thời điểm 2 tuần bổ sung levamisole, ngoại trừ nghiệm thức đối chứng và NT 2 (50 mg/kg). Nghiệm thức 5 (450 mg/kg) cho kết quả tổng bạch cầu ở tuần 4 giảm nhiều nhất so với tuần thứ 2 (145,9 x 103 tb/mm3). Tương tự, tổng bạch cầu sau khi cảm nhiễm ở nghiệm thức bổ sung levamisole tăng hơn so với đối chứng, NT4 (300 mg/kg) tăng cao nhất và khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng, nghiệm thức 1 và 5 (Hình 1). Nghiên cứu ảnh hưởng của levamisole lên cá chép Ấn Độ (Labeo rohita) đã được báo cáo bởi Wijendra và Pathiratne (2007). Kết quả cho thấy tổng bạch cầu của nhóm cá được bổ sung levamisole (5g/kg cá) tăng cao gấp hai lần và có ý nghĩa thống kê với nhóm cá đối chứng. Một nghiên cứu khác đã chỉ ra, bổ sung levamisole cho cá chép trong thời gian dài (70 ngày) làm giảm mật độ tổng bạch cầu có ý nghĩa thống kê so với cá đối chứng (Sajid et al., 2009). Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu ảnh hưởng levamisole lên bạch cầu cá tra ở trên, tổng bạch cầu tăng sau 2 tuần bổ sung levamisole và giảm sau 4 tuần bổ sung. Ngoài ra, Sajid et al. (2009) cho biết nghiên cứu bổ sung levamisole trên cá chép ở các hàm lượng 125, 250 và 500 mg/kg thức ăn, sau đó cảm nhiễm với vi khuẩn Aeromonas hydrophila ở ngày 30 và 58 thì cho thấy tổng hồng cầu, tổng bạch cầu khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) ở nhóm bổ sung 250 mg levamisole/kg thức ăn.



Hình 1: Tổng bạch cầu cá tra sau 2, 4 tuần khi bổ sung levamisole và sau cảm nhiễm với E. ictaluri

Các loại bạch cầu

Sau 2 tuần bổ sung levamisole, bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính tăng cao ở các nghiệm thức được bổ sung levamisole (Bảng 1). Trong đó, NT3 (150 mg/kg) và NT4 (300 mg/kg) tăng cao nhất và khác biệt thống kê với các nghiệm thức còn lại (p<0,05). Nghiệm thức 5 (450 mg/kg) có mật độ bạch cầu đơn nhân thấp nhất (18,4 x 103 tb/mm3) trong các nghiệm thức được bổ sung levamisole và không khác biệt với nghiệm thức đối chứng. Tương tự, mật độ tế bào lympho và tiểu cầu cũng gia tăng ở các nghiệm thức được bổ sung levamisole, tuy nhiên không khác biệt thống kê so với nghiệm thức đối chứng. Sau 4 tuần bổ sung levamisole, mật độ bạch cầu đơn nhân, bạch cầu trung tính, tế bào lympho và tiểu cầu vẫn tăng cao ở các nghiệm thức có bổ sung levamisole. Tuy nhiên, chỉ có NT 4 (300 mg/kg) thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với đối chứng ở chỉ tiêu bạch cầu đơn nhân; NT 3 (150 mg/kg) thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa ở chỉ tiêu bạch cầu trung tính; tế bào lympho và tiểu cầu khác biệt không có ý nghĩa ở tất cả các nghiệm thức (p>0,05). Sau cảm nhiễm với vi khuẩn E.ictaluri, mật độ của 4 loại bạch cầu của tất cả các nghiệm thức tăng cao so với trước khi cảm nhiễm. Các loại bạch cầu đều gia tăng ở các nghiệm thức có bổ sung levamisole, trong đó NT 4 (300 mg/kg) tăng cao nhất và khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng.

Bảng 1: Mật độ bạch cầu đơn nhân, bạch cầu trung tính, lympho và tiểu cầu của cá tra ở tuần 2 và tuần 4 sau khi ăn thức ăn bổ sung levamisole (x103 tb/mm3)

Nghiệm thức

BC đơn nhân

BC trung tính

Lympho

Tiểu cầu

Sau 2 tuần bổ sung/ levamisole

NT 1 (ĐC)

15,9 ± 4,9a

60,6 ± 11,6a

29,8 ± 6,6a

6,4 ± 7,0a

NT 2 (50mg/kg)

22,8 ± 5,3ab

62,1 ± 8,5a

25,1 ± 8,7a

5,7 ± 4,7a

NT 3 (150mg/kg)

28,0 ± 4,8b

81,9 ± 13,1b

34,5 ± 12,2a

10,6 ± 8,3a

NT 4 (300mg/kg)

28,1 ± 5,9b

84,4 ± 7,0b

35,3 ± 11,8a

10,5 ± 11,9a

NT 5 (450mg/kg)

18,4 ± 2,5a

77,6 ± 15,3ab

32,9 ± 8,6a

12,0 ± 6,5a

Sau 4 tuần bổ sung levamisole

NT 1 (ĐC)

15,7 ± 7,5a

62,0 ± 11,8a

30,2 ± 8,1a

7,99 ± 4,6a

NT 2 (50mg/kg)

18,6 ± 2,8a

63,3 ± 19,9a

27,4 ± 9,3a

5,9 ± 4,0a

NT 3 (150mg/kg)

23,2 ± 11,4ab

86,9 ± 8,9b

32,9 ± 10,1a

10,8 ± 6,9a

NT 4 (300mg/kg)

27,7 ± 3,9b

70,0 ± 22,6ab

31,7 ± 6,1a

10,1 ± 8,1a

NT 5 (450mg/kg)

14,5 ± 5,5a

62,3 ± 21,3a

29,0 ± 4,2a

13,3 ± 13,1a

Sau cảm nhiễm với E.ictaluri

NT 1 (ĐC)

14,2 ± 4,4a

70 ± 45,1a

25,0 ± 10,1a

8,4 ± 5,5

NT 2 (50mg/kg)

19,5 ± 12,0ᵃᵇ

68,7 ± 20,5a

24,5 ± 5,8a

7,1 ± 5,3a

NT 3 (150mg/kg)

28,5 ± 7,6b

106,3 ± 56,4ᵃᵇ

45,8 ± 15,6b

14,7 ± 7,0ᵃᵇ

NT 4 (300mg/kg)

28,0 ± 6,1b

130,7 ± 55,5b

53,3 ± 13,5b

25,5 ± 23,0b

NT 5 (450mg/kg)

23,9 ± 10,2ᵃᵇ

61,7 ± 26,5a

25,6 ± 9,9a

13,0 ± 6,1ᵃᵇ

Kết quả trên bảng thể hiện giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. Các giá trị trên cùng một cột mang mẫu tự (a,b,c) giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Kết quả trên cũng phù hợp với nghiên cứu của Perera và Pathiratne (2008) khi bổ sung levamisole cho cá chép Ấn Độ ở 2 mức 1,25 và 2,5 mg/l trong khoảng thời gian 14, 21, 28, 42 và 56 ngày, cho kết quả bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính tăng có ý nghĩa thống kê và tăng cao nhất sau khi cho ăn 42 ngày. Mật độ tế bào lympho ở các nghiệm thức cho ăn levamisole tăng có ý nghĩa thống kê (p<0,05) ở hàm lượng 1,25 mg/l sau 42 và 56 ngày cho ăn. Shahidi et al. (2011) bổ sung levamisole cho cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella) ở các hàm lượng 3, 5 và 10 mg/l trong 18 và 35 ngày. Kết quả cho thấy bạch cầu trung tính của cá tăng có ý nghĩa ở nghiệm thức bổ sung 5 và 10 mg/l trong 18 ngày, bạch cầu đơn nhân tăng có ý nghĩa ở nghiệm thức bổ sung 3 mg/l trong cả 2 thời điểm 18 và 35 ngày, tế bào lympho tăng khi bổ sung 3 mg/l sau 35 ngày nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương