Nguồn gốc văn bản của kinh quán vô LƯỢng thọ kinh văn củ̉a tịnh đỘ TÔng nguyên Tác: Kōtatsu Fujitta Anh dịch: Kenneth K. Tanaka



tải về 174.86 Kb.
trang4/4
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích174.86 Kb.
1   2   3   4

Kết luận sơ bộ


Làm sao để chứng cứ nầy đối chiếu được với những gì hỗ trợ cho thuyết soạn tập ở Trung Á? Nếu việc kết tập kinh nầy ở Ấn Độ bị bác bỏ, thì thuyết nào trong hai thuyết đối nghịch trên được chấp nhận? Tôi cho rằng cả 2 thuyết đều có những điểm đáng chú ý nhưng không thể nào đưa ra dứt khoát một chứng cứ nào bằng cách chọn thuyết nầy bỏ thuyết kia. Cho đến nay tôi vẫn chọn một quan điểm thỏa hiệp, bằng cách chấp nhận từng phần của cả hai thuyết. Có nghĩa là, chỉ vì những yếu tố Trung Hoa được phát hiện trong kinh văn không có nghĩa là kinh được soạn ở Trung Hoa. Đơn giản nhất, tôi tin rằng cốt tuỷ của kinh Quán Vô Lượng Thọ là nhằm truyền đạt một hình thái của thiền định mà vào thời đó, được thực hành vài nơi vùng Trung Á, có khả năng là vùng Thổ-phồn. Khi dịch kinh nầy, ngài Cương-lương-da-xá đã đảm nhiệm việc khẩu dịch, do được ghi nhận, như đã lưu ý. Là Sa-môn Seng-han đảm nhiệm việc ghi chép[127] cho Cương-lương-da-xá. Trong tiến trình nầy, văn cảnh và ý tưởng mang màu sắc Trung Hoa, vì khá nhiều bản kinh tiếng Hán đã được tham khảo và vận dụng, bắt nguồn với kinh Vô lượng thọ. Chính những sự kiện nầy hỗ trợ cho thuyết kinh được soạn tập ở Trung Hoa. Một quan điểm chiết trung như thế có thể thiếu sự minh bạch, nhưng đó là quan điểm thích đáng nhất để chọn mà không cần nhiều chứng cứ thuyết phục. 

Tôi đã phác họa quan điểm của mình về những vấn đề chung quanh sự soạn tập kinh Quán Vô Lượng Thọ. Qua phác thảo nầy, điều rõ ràng là, trong khi giáo lý Tịnh độ xuất hiện trong kinh văn nầy có nguồn gốc ở Ấn Độ, nhưng nó đã trưng bày sự phát triển sâu rộng mà chỉ có thể diễn ra ở bên ngoài Ấn Độ, đó là ở Trung Hoa hoặc Trung Á. Do vậy, dù kinh Quán Vô Lượng Thọ chắc chắn là nguồn gốc quan trọng để nghiên cứu Tịnh độ tông Phật giáo, nhưng nó phải được xem như một xuất xứ hoàn toàn khác phả hệ với Đại bổn A-di-đà kinh (Larger Sukhāvatīvyūha-sūtra) và Tiểu bổn A-di-đà kinh (Smaller Sukhāvatīvyūha-sūtra)...


  
________________________________________

Ghi chú của tác giả (Kōtatsu Fujitta): 

Để có cái nhìn mới hơn về quan điểm của tôi trong đề tài nầy, quý độc giả có thể tham khảo thêm tác phẩm của tôi nhan đề Kanmuryōjukyū kōkyū (Kyoto: Shinshū Ōtaniha shūmushu shuppanbu, 1985).

Ghi chú của người dịch sang Anh ngữ (Kenneth K.Tanaka):

Bài viết nầy là dịch một chương trong một tác phẩm của Kōtatsu Fujitta nhan đề Nghiên cứu về Phật giáo Tịnh độ tông – j: Genshi Jōdo-shisō no kenkyū; e: A study of Early Pure Land Buddhism (Tokyo: Iwannami shoten, 1970), trang 116-136, với một vài bổ sung, sửa chữa của Gs. Kōtatsu Fujitta. Do thời gian hạn hẹp, phần dẫn nhập của người dịch chưa được chính tác giả xem xét. Người dịch xin chịu trách nhiệm về nội dung phần nầy.
• Trong phần chú thích nầy, những phần đánh số thứ tự 1,2,3... là của tác giả (Kōtatsu Fujitta); những phần đánh số thứ tự kèm theo dấu (*) 1*,2*,3*... là của người dịch Việt ngữ.

[1] T 365 12

[2]* Tùy 隋 Năm 589 (Kỷ Dậu) - 617 (Ðinh Sửu); Tống 宋 (960-1278); Bắc Tống 北宋 167 năm; Nam Tống 南宋 153 năm. 

[3] Ono Gemmyō, ed., Bussho kaiset-


su daijiten, vol. 2 (1932; reprint, Tokyo: Tokyo shoseki, 1975), p. 199c-d.
4 Kuan Wu-liang-sho fo ching shu– Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh sớ, T1753.37.

[5] Kuan Wu-liang-sho fo ching i-shu, T1749.37, và Kuan Wu-liang-sho fo ching shu, T1750.37. 

Giới học giả thường cho rằng tác phẩm sau là của Trí Khải, được thấy trong nhiều tác phẩm biên soạn sau nầy, giữa cuối thế kỷ thứ 7 và đầu thế kỷ thứ

8. Theo quan điểm của Satō, các môn đệ của tông Thiên thai cảm thấy cần phải có một luận giải về kinh nầy do bản kinh trên quá thông dụng. Và thực tế là các nhà chú giải kiệt xuất của các tông phái khác đều có luận giải riêng của họ. Xem tác phẩm của Satō Tetsuei, nhan đề Tendai daishi no kenkyū (Kyoto: Hyakken, 1961), 567-568, 594-597. Về chi tiết ảnh hưởng của tông Hoa nghiêm ở Phật giáo Triều Tiên, xem tác phẩm của Etani Ryūkai, nhan đề Jōdokyō no shin kenkyū (Tokyo: Sankibō busshorin, 1976), 55-61.


 [6]* 或有眾生作不善業五逆十惡,具諸不善.如此愚人以惡業故,應墮惡道,經歷多劫受苦無窮. (Hoặc hữu chúng sinh, tác bất thiện nghiệp, ngũ nghịch thập ác, cụ chư bất thiện. Như thử ngu nhân, dĩ ác nghiệp cố, ưng đọa ác đạo, kinh lịch đa kiếp, thọ khổ vô cùng). (Kinh QVLT, T365.12, trang. 345c15, 346a19). 

[7]* 韋提希 (s: Vaidehī; p: Vedehī). Người thuộc dòng tộc Tì-đề-ha 毗提呵族 (Videha), có nói bà thuộc dòng tộc Kiều-tát-la, thành Xá-vệ của vua Ba-tư-nặc.

[8] Có thể xem trong các tác phẩm Chūgoku Yōdokyo-shi (Kyoto: Hōzōkan, 1971), 74-77 của Nogami Shunjo. “Dialogue: Chinese Zen” của Sukanmoto Zenryū, Shibayama Zenkei, và Nishitani Keiji, The Eastern Buddhist, n.s.8, no.2 (October 1975):78; Buddhist in China của Kenneth Ch’en, (Princeton Univercity Press, 1972), 345-346. 

* Thường gọi là Bắc Chu Vũ Đế 北周武帝 (543-578), ban đầu vua kính trọng Phật pháp, nhưng tin sấm vĩ nên các Đạo sĩ thừa cơ hội đó dèm pha chê bai Phật giáo. Năm 557, xuống chiếu phá huỷ kinh tượng chùa Phật ở Bắc Tề, buộc hơn 300 vạn tăng ni hoàn tục. Sử gọi là pháp nạn Chu Vũ. 


[9] Chẳng hạn, sự sắp xếp được tìm thấy trong các luận giải của Huệ Viễn (Hui-yūan ; T 1749.37182a12-c22), Trí Tạng (Chi-tsang; T1753.37.244c13-245a15), Thiện Đạo (Shan-tao T1753.37.248b7-250a8), và một luận giải không rõ tác giả được gán cho Trí Khải (Chi-i T1750.37.193b28-c1).
[10]* Về điểm nầy, luận giải đề cập ở trên của Huệ Viễn đóng một vai trò quan trọng cho sự phát triển về sau. Xem tác phẩm của Kenneth Tanaka, The Daton of Chinese Pure Land Buddhist Doctrine Ching-ying Hui-yūan’s Commentary on the Visualization Sutra (Albani: State University of New York Press, 1990). 

[11] Xuất xứ dẫn đến kinh nầy là một câu chuyện nổi tiếng. Vua Tần-bà-sa-la (s: Bimbisāra) lo âu vì chưa có con kế tục vương vị, ông đến nhà tiên tri để đoán biết có người cao quý nào sẽ chết và đầu thai vào hoàng tộc. Nhưng vua Tần-bà-sa-la (s: Bimbisāra) không chờ đợi được, ông nhờ người giết, chẳng bao lâu sau Hoàng hậu Vi-đề-hi mang thai. Nhưng nhà tiên tri cũng báo trước rằng vương tử sắp ra đời sẽ ẩn chứa một mối hận đối với cha mẹ, và sẽ là kẻ thù địch của cha mình, nên vua cha quyết định ném vương tử mới sinh xuống lầu... (Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, bản Anh ngữ The Sutra of contemplation of Buddha of Immeasurable Life), (Kyoto: Ryūkoku Univesity, 1984).

[12]* 欲生彼國者。當修三福。一者孝養父母。奉事師長。慈心不殺。修十善業。二者受持三歸。具足眾戒。不犯威儀。三者發菩提心。深信因果。讀誦大乘。勸進行者。如此三事名為淨業 (Kinh QVLT).
[13]*當起想念。正坐西向諦觀於日。令心堅住。專想不移。見日欲沒狀如懸鼓。既見日已。閉目開目皆令明了。是為日想。名曰初觀 (Kinh QVLT).
[14]* Cửu phẩm: Thượng phẩm thượng sanh, Thượng phẩm trung sanh, Thượng phẩm hạ sanh; Trung phẩm thượng sanh, Trung phẩm trung sanh, Trung phẩm hạ sanh; Hạ phẩm thượng sanh, Hạ phẩm trung sanh, Hạ phẩm hạ sanh. 

[15] Xem Khai nguyên lục 5 (c: K’ai-yūan lu 5), T2145.55.523c.


[16]* Tức Chúng Kinh Mục Lục 眾經目錄 (7 quyển) Pháp Kinh 法經 cùng một số người khác soạn vào đời Tùy. T. 55, Tr. 115, Sh. 2146.
[17] *Yuan-chia (元嘉 Nguyên Gia; 424-453). 
[18] Pháp Kinh Lục, Fa-ching lu, T2146.55.116c.
[19] Xem các tác phẩm Lịch đại Tam bảo ký ; c: Li-tai san-pao chi 10, T 2034.49.92c; Jen-shou lu 1, T2147.55.152b; Nei-tien lu 4 & 5, T 2149.55.260a, 291b; Ching-tai lu 1, T 2148.55.184b; Ku-chin shih-ching t’u-chi 3, T 2151.55.361c; Ta-chou lu 3, T 2153.55.39c; K’ai-yūan lu 5 & 12, T 2154.55.523c, 595b; Chen-yūan lu 7, T 2156.55.820c
[20] * Tức Xuất Tam Tạng Ký Tập 出三藏記集 (15 quyển).Tăng Hựu 僧祐 soạn vào đời Lương. Đại Chính tân tu Đại tạng kinh. 55, Tr. 1, Số hiệu. 2145.
[21] * Tăng Hựu (僧祐 ; 445-518): sống vào đời Lương, thuộc Nam triều. Xuất gia rất sớm ở chùa Kiến Sơ. Sau khi thọ giới Tỳ-kheo, Sư theo thầy Pháp Dĩnh nghiên cứu Luật bộ. Sư thị tịch tại chùa Kiến Sơ năm 74 tuổi. Các tác phẩm của Sư gồm: Thập tụng luật nghĩa ký, 10 quyển; Hoằng Minh tập; Xuất tam tạng ký tập, Thích-ca Phả, Đạo tập Hư Không Tạng Vô tận Nhị Kinh ký. Thế Giới ký 5 quyển... Đệ tử có hơn 11.000 người gồm cả Tăng lẫn cư sĩ. 

[22] Ch’u-san-tsang chi-chi, T2145-.55.22a.

[23]* 慧皎 (497-554). Tăng sĩ đời Lương, người tỉnh Triết Giang, chùa Gia Tường 嘉祥寺

[24] Kao-seng Chuan, T 2059.50.343c.

[25] Nei-tien lu, T 2149.55.260a.

[26] * Đại Đường Nội Điển Lục 大唐內典錄 (10 quyển); Đạo Tuyên 道宣 soạn vào đời Đường; T.55, tr. 219 


[27] Ibid., 523c.

[28] * Học giả Phật giáo đời Tùy. Người Tứ Châu, Thành Đô. Năm sinh năm mất không rõ. Xuất gia từ nhỏ. Năm Kiến Đức thứ ba (574), Vũ Đế phế đạo Phật, ông bị bức bách phải hoàn tục. Sau đời Tùy hưng khởi, ông được giao việc phiên dịch kinh điển. Năm Khai Hoàng thứ IV (584), ông tham gia đạo tràng phiên dịch tại chùa Đại Hưng Thiền.


[29] Li-tai san-pao chi 15, T 2034.49.127c.
[30] Ch’u-san-tsang chi-chi, T 2145.- 55.21c.
[31] Xem bản dịch của Robert Shih, Kao-seng chuan, T 2059.50.343c. Biographies des moines éminents (Kao seng tchouan) de Houei-kiao (Louvain: Institut Orientaliste, 1968), 147-148. 
[32]* 元嘉 Năm 424 (Giáp Tý).
[33]* khẩu dịch (orally transmited). 
[34] Yao-wang Yao-shang kuan, T116- 1.20.
[35]* Bút dịch, nghĩa là ghi lại lời khẩu dịch của Cương-lương-da-xá (s: Kālayaśas 畺良耶舎) thành ngôn ngữ bản xứ, tức Hán văn.
[36] Xem tác phẩm của Fujita, Genshi Jōdo-shisō no kenkyū, trang. 62-96.
[37]* s: Dharmamitra (Đàm-ma-mật-đa 曇摩密多; 356-442). 
[38]* Tao-chou lu, Tức Đại Chu San Định Chúng Kinh Mục Lục 大周刊定眾經目錄, (15 quyển). Minh Thuyên明佺 và một số người khác cùng soạn vào đời Đường T 2153.55.389c.
[39]K’ai-yūan lu, T 2154.55.524b, 629c. 
[40]Ch’u-san-lsang chi chi, T 2145.55.115a-b.
[41] Kao-seng chuan, T2059.50.342c-344a.
[42] Ming-seng chuan ch’ao, zz1.2B.7.1.10.
[43]* 元嘉 Năm 424 (Giáp Tí).
[44] Chưa có tham khảo nào để xác định được Ch’an ching. Ch’an-fa yao (=Ch’an-pi yao-pa ching), T613,15; P’u hsien kuan (= kuan P’u hsien hsing-fa ching), T277,9; Hsū-k’ung-tsang kuan (=Kuan Hsū-k’ung- tsang p’u-sa ching), T409,13.
[45] Xem tác phẩm của Tsuboi Shun’ei, Jōdo sanbokyō gaisetsu (Tokyo: Ryūbunkan, 1956; rev,ed., 1981), 332.
[46] Li-tai san-pao chi, T2034.49.54b & 74a.
[47]* 智升 Cao tăng Trung Hoa, sống vào đời Đường, khoảng năm 730, Sư được thỉnh vào viện Đông Tháp chùa Sùng Phước để chuyên soạn tập mục lục kinh sách. Tác phẩm của Sư gồm: Khai nguyên Thích giáo lục, Tục Đại Đường Nội Diễn Lục, Tục dịch kinh cổ kim đồ ký, Tục Tập Cổ Kim Phật Đạo Luận hành, Tập Chư Kinh Lễ Sám Nghi. 
[48] Kai-yūan lu, T2154.55.484c & 509b.
[49] Xem tác phẩm của Mochizuki Shinkō, Jōdokyō no kigen oyobi hattatsu (Tokyo: kyōritususha, 1930; rpt. ed., Tokyo: Sankibō, 1977), 326; idem, Bukkyō kyōten seiritsushi-ron (Tokyo: hōzōkan, 1946; rpt.ed. 1978), 226.
[50]* 戒珠 (985-1077) Tăng sĩ đời Tống.
[51]* 宗曉 (1151-1214). Tác giả Lạc bang Văn Loại 樂邦文類, 5 quyển. Đại Chính tân tu Đại tạng kinh T.47. Lạc Bang di cảo 樂邦遺稿, 2 quyển. Tứ Minh tôn giả giáo hành lục 四明尊者教行錄, 7 quyển.
[52] Kao-seng chuan, T2059.50.395b-c
[53] Tachibana Zuichō, “Uiguru-yaku no Kanmuryōjukyō,” Niraku sōsho 1 (1912): 22-41.
[54] Haneda Tōru, “Nikaru sōsho dai-ichigō o yomu,” Gei-bun 3-10 (1912): 82-90; còn được tìm thấy trong Haneda hakushi shigaku ronbunshū, vol .2 (Kyoto: Tōyōshi-kenkyū-kai, kyōto-daigaku, 1958), 546-553.
[55] Gần đây Kudara đã tìm ra một bản hoàn chỉnh đầy đủ so với bản trước. Xem Kudara Kōgi, “Kanmuryōjukyō – uiguru-yaku danpen shutei,” Buk-kyō-gaku kenkyū 35 (1979): 33-56. 
[56] Ibid. As an example of transliteration of Chinise sound, it is shown that “biligamani” in Guir is a transliteration of Chinise “ P’I – leng chia-mo-ni” (Mathews nos. 5158, 3845, 590, 4541, 4654, respectively). and “quansi im” of “kuan-shih-yin” (Mathews nos. 3575, 5790, 7418, respectively).
[57] Một bản thảo của kinh Quán Vô Lượng Thọ trong tạng Uigur vừa được phát hiện trong Turfan Collection of the Academy of Sciences của nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Xem tác phẩm của Peter Zieme, “A New Fragment of the Uigur Guanwuliangshoujing,” Ryūkoku daigaku bukkyō bunka kenkyūsho kyō 20 (1982): 20-29.
[58] Hans Reichelt, Die soghdischen Handschriftenresle des Britischen Museum, I. Teil (Heidelberg: Carl Winters Universitatsbuchhandlung, 1928), S .33-56 (Der Dhyāyāna-Text). This costitutes an edition (an its German translation) of a sūtra found among the sogdian manuscripts in the Stein collection (O.R . 8212 (85) . Cf. A . Stein, Serindia, vol . 2 (Oxford: Clarendon, 1921; rpt. eḍ, Delhi: Motilal Banarsidass, 1980), 924.
[59] Ishihama Juntarō, “Sai’iki Kodaigo no butten”, in Sai’iki bunka kenkyūkai, cd., Sai’iki bunka kenkyū, vol. 4 (Kyoto: Hōzokan, 1961), 36.
[60] Fredrich Weller, “Bemerkunggen zum soghdishen Dhyāna-Texte,” Monumenta Serica (Journal of Oriental Studies of the Catholic University of Peking (1936-1937); 341-404; 3 (1938); 78-129.
[61]* Kuan fo san –mei hai ching. T 642-15 tức Phật Thuyết Quán Phật Tam Muội Hải kinh 佛說觀佛三昧海經, 10 quyển, Phật-đà-bạt-đà-la 佛陀跋陀羅 dịch đời Đông Tấn. Q. 15, Tr. 645, Sh. 643. 
[62] Kuan p’u-hsien p’u-sa hsing- fa ching T277-9.
[63] Kuan Hsū-k’ung-tsang p’u-sa hsing- fa ching T 409-13.
[64] Mi-le p’u-sa shang-sheng tou-shuai-t’ien ching T452-14.
[65] Ui Hakuju et aḷ, edṣ, Chibeto daizōkyō somokuroku, (Sendai: Tōhoku-daigaku,1934). No 199; Tai kasaki Jikidō, ed., Tōkyō-daigaku shozō sasaban Chibeto daizōkyō mokuroku (Tōkyō-Tōkyō-daigaku, Indo-tetsugaku Kenkyū-shitsu, 1965), no,200.
[66] Trí Tạng, trong chú giải Kuan Wu-liang-shiu ching i-shu, đã đề nghị một nhan đề kinh bằng tiếng Sanskrit, “Nếu chúng ta duy trì âm tiếng nước ngoài, đề kinh sẽ là ‘Fo-t’o p’an-che a-li-yeh a-mi-t’o hsiu-to-lo”. Tuy nhiên, điều nầy không được tán thành. Xem luận giải của Trí Tạng. T1752.37-233c. Trong Nanjo 198, nhan đề được ghi là “Buddhabhāṣitāmytayurbuddha-dhyāna (?)–sūtra”. 
[67] 觀 ; e: comtemplation. 
[68] Nguồn gốc bản dịch tiếng Tây Tạng của kinh Di-lặc quán là Hphags pa byan chub sems dpah byams pa dgah ldan gnam du skey ba blans pahi mdo (The Sacred Sūtra on Bodhisattva Maitreya’s Rebirth in the Tusita Heaven; sēṇ 47.)
Do nhan đề kinh không dịch chữ Quán (kuan), nên không giúp cho chúng tôi tra cứu nguồn gốc tiếng Sanskrit được. 
50. Ōhara Shōjitsu, “Kanmuryō- jukyō to jōdoron: kangyō chūgoku senjutsu ni taisuru ichi-gimon.” Ryūkoku daipaku ronshū 359 (1958): 1-14 Vansubandhu’s Trea-tise on the pure land is found in T 1524.26.
[69] Tác phẩm của Ōhara Shōjitsu, “Kanmuryōjukyō to jōdoron: kangyō chūgoku senjutsu ni taisuru ichi-gimon.” Ryūkoku daipaku ronshū 359 (1958): 1-14 Vansubandhu’s Treatise on the Pure Land có trong T 1524.26.
[70] Kasugai Shinya. “Kanmuryōjukyō ni okern shomondai,” Bukkyō bunka kenkyū 3 (1953); 41-42 Kaisugai Shinya and Tōdō Kyōshun, “jōdo kyōten no keisei,” in Miyamoto Shōson, ed., Bukkyoo no kanponshiun (Tokyo: Sanseidoo, 1956). 523-530.
[71] Nakamura Hajime, “Jōdo sanbukyō no kaisetsu,” Jōdo sanbukyō, vol.2, Iwanami Bunko (Tokyo: Iwanami shoten, 1964). 207.
[72] Ch’u-sa-tsang chi-chi 14, T2145.55.10a-b; Kao-seng chuan 3, T2059.50.342c.
[73] Ch’u-sa-tsang chi-chi 14, 106b-c; Kao-seng chuan 2,337a.
[74] Tác phẩm của Ogasawara Senshū, “Kōshōkoku no bokkyō kyōgaku,” trong Bukkyō Shigaku ronshū: Tsukamoto hakushi shōju kinen (Kyoto: Tsukamoto hakushi shōju kinen kai, 1961), 136-147.
[75]* Vu-điền 于闐, 于填; s: Ku-Stana. Vương quốc ở vùng Tây Vực thời cổ. Vị trí nước này hiện nay là xứ Khotan (Hòa-điền) thuộc miền Tây tỉnh Tân Cương, Trung Quốc.
[76]* Pháp quán thứ 9: 八萬四千相好自然當見。見無量壽佛者。即見十方無量諸佛。
得見無量諸佛故。諸佛現前受記。是為遍觀一切色想。名第九觀. Pháp quán thứ 10: 其餘身相眾好具足。如佛無異。唯頂上肉髻及無見頂相。不及世尊。是為觀觀世音菩薩真實色身想名第十觀 . Pháp quán thứ 11: 作此觀者。名為觀見大勢至菩薩。
是為觀大勢至色身相。 觀此菩薩者名第十一觀.
[77] Tác phẩm của Ono Genmyō, Kendara on bukkyō bijutsu (Tokyo: Heigo Shuppansha, 1923). 77-114; Takata Osamu, Butsuzō no kigen, (Tokyo: Iwanami shoten, 1967; rpt. ed. (1983), 241, 432.
[78] Kuan fo san-mei hai ching, T642.15.648a-657a.
[79] Ibid., 679b-681b
[80] Tác phẩm của Takata, Butsuzō no kigen, p. 432. Takata phát biểu về kinh Quán Tam muội hải (Samādhi Sea Sūtra), “Chắc chắn nhất là xem kinh nầy đã được soạn tập ở vùng Tây Bắc Ấn Độ sau một thời gian khá lâu.” Nói cách khác, ông đã chấp nhận thuyết soạn tập ở Ấn Độ. Vì những yếu tố thuần túy Trung Hoa, tuy vậy, chưa được phát hiện trong kinh nầy, do vậy cần có sự khảo sát quanh vấn đề soạn tập bản kinh. 
[81]* 佛身高六十萬億那由他恒河沙由旬.
[82] Xem tác phẩm của Nakamura, “Jōdo sanbukyō no kaisetsu” p. 206.
[83]* 其圓光中有五百化佛。如釋迦牟尼.
[84]* 若 欲 至 心 生 西 方 者. 先 當 觀 於 一 丈 六 像 在 池 水 上. 如 先 所 說. 無 量 壽 佛 身 量無邊.
 * Ba-mễ-an 巴米安; Bamian, xứ ở phía Đông Bắc nước Afghanistan, xưa kia là nước Ba-mễ dương 巴米羊).
[85]* 彼佛圓光如百億三千大千世界。於圓光中。有百萬億那由他恒河沙化佛.
[86]Higuchi Takayasu, “Amida sanzonbutsu no genryū,” bukkyō geijutsu 7 (1950): 112.
[87]* 次亦應觀觀世音菩薩 (10)... 次觀大勢至菩薩。此菩薩身量大小亦如觀世音 (11).
[88]* 觀世音菩薩及大勢至。於一切處身同。眾生但觀首相。知是觀世音。知是大勢至 (13)。
[89] Mizuno Seīchi, Chūgoku no bukkyō bijutsu (Tokyo): Heibonsha, 1968), 7ff., esp. 30,43-60, 66-67, 122-124.
[90]* 道安 (312 hoặc 314-385) Tăng sĩ học giả đời Đông Tấn.
[91] Kao-seng chuan 5, T 2059.50.352b. See Ui Hakuju, Shaku Dōan kenkyū (Tokyo: Iwanami shoten, 1956; ipt . ed .,1976), 30-33.
[92] Xem tác phẩm của Kumagai Norio, “Sai’iki no bijutsu,” trong Sai’iki bunka kenkyū-kai, ed... Sai’iki bunka kenkyū, vol . (Kyoto: Hōzōkan, 1962) 30ff, ép. 63; Ueno Teruo, “Sai’iki no chōsu,” ibid ., 213-238.
[93] 有憶想者必得成就。但想佛像得無量福 (13)
[94] Xem tác phẩm của Tsukinwa Kenryū, “Butten no shyjū,” in bungaku tetsugaku shigaku kai rengo, ed, Kenkyū, ronbunshū IV, kenkyū ronbun shoroku-shi vol. 3 (Tokyo: Nihon gakujutsu kaigi jimukyoku, 1953), 90-91.
[95] Toàn bản văn “Butten no shijū” của Tsukinowa bao gồm trong tác phẩm in sau khi ông qua đời Tsukinowa Kenryū, Butten no hihan-teki kenkyū (Kyoto: Hyakkaen, 1971), 3-17 volume, 3. Trong đó, Tsukinowa khẳng định rõ ràng thuyết soạn tập ở Trung Hoa bằng cách chỉ ra vô số sự mâu thuẫn và những dữ kiện thuộc ngoại đạo, và những ý tưởng vốn thuộc bản địa Trung Hoa có trong kinh Quán Vô Lượng Thọ.
[96] Suzuki Munetada, Kihon daijō: Jōdobukyō (Tokyo: Meiji Shoin, 1959; rpt. ed., Tokyo: Gannando, 1978), 103-109.
[97]是本法藏比丘願力所成 (Quán thứ 7). 亦說法藏比丘四十八大願 (Quán thứ 15) 如是至心令聲不絕。具足十念稱南無阿彌陀佛。稱佛名故。於念念中。除八十億劫生死之罪 (Quán thứ 16).
[98] Trong khi các đoạn kinh văn của kinh Quán Vô Lượng Thọ được dịch trong bảng đối chiếu nầy, thì các kinh khác chỉ ghi số hiệu (trong Taishō) và số trang để đối chiếu với các kinh khác vì nó tối nghĩa khi dịch sang Anh ngữ. Người đọc nên tự tham khảo thêm kinh văn. Số dòng được thêm vào mỗi cột để cung cấp thêm thông tin cho dễ tra cứu. (Ghi chú của người dịch sang Anh ngữ).
[99] Kagawa Takao, Shyōmyō shisō no kiesei,” Indogaku bukkyōgaku kenkyū. ̣(IBK). Có thể xem tác phẩm của Fujita, Genshi jōdo-shisō no kenkyū, 547.
[100] Nếu chúng ta chấp nhận Phật-đà-bạt-đà-la là người dịch Tam muội hải kinh (Samādhi Sea Sūtra), thì bản dịch có lẽ đã được giả định là dịch ở Lô Sơn năm 411 hoặc ở Kiến Khang năm 420-422. Xem Chú tam tạng dịch kinh. T2145.55.104a; Cao Tăng truyện 2 T.2059.50.335c. 
[101] Có rất nhiều đoạn trong Tam muội hải kinh (Samādhi Sea Sūtra) tương tự như trong kinh Quán Vô Lượng Thọ bên cạnh những đoạn được ghi trong bảng đối chiếu, những so sánh những đoạn tương đương không đưa ra ở đây. Xem tác phẩm của Shikī Shūjō, Kanbutsuzanmaikaikyō to Kanmyuryōjukyō, IBK 13.1 (1965): 227-230
[102] *其樓閣中有無量諸天。作天伎樂。又有樂器懸處虛空。如天寶幢不鼓自鳴 (Quán thứ 6)
[103]* Theo kinh Di-lặc thượng sanh Đâu-suất thiên, ở cung trời Đâu-suất có 5 vị Đại thần: Vị thứ nhất tên Bảo Tràng, có thể tự mình tuôn ra 7 báu rải khắp, mỗi mỗi châu báu lại hoá thành nhạc khí treo giữa hư không, không cần đánh mà tự kêu. (T 452.14.419b)
[104] Trong trường hợp nầy, bản dịch Di-lặc thượng sanh Đâu-suất thiên kinh được xem là đã có trước kinh Quán Vô Lượng Thọ, dù quan điểm nầy không cần thiết phải kết luận. Tuy nhiên, quan điểm nầy thành công khi tránh được những mâu thuẫn về mặt thời gian, vì có thể rằng bản kinh trước – Di-lặc thượng sanh Đâu-suất thiên kinh – được dịch ở một vùng nào đó ở Thổ-phồn vào khoảng năm 435 (dù cho rằng được dịch ở Kiến Khang năm 453) – một vài năm trước khi vua Đại Vũ đời Bắc Lương 453 đàn áp Phật giáo – trong khi kinh Quán Vô Lượng Thọ được xem là được dịch khoảng giữa năm 424-442. Tuy vậy, nếu Di-lặc Quán kinh được dịch năm 453, thì mối nghi ngờ mới nầy sẽ được đánh tan nếu xem Cương-lương-da-xá (s: Kālayaśas 畺良耶舎) là dịch giả.
[105] Quán Phật Tam muội hải kinh (Samādhi Sea Sūtra) T.643.15.678a, 688b-c, 694a-b. 
[106]Shih-chu-p’o-p’o-sha lun, T 1521.26.41b-42c.
[107] Quán Phật Tam Muội Hải kinh (Samādhi Sea Sūtra) T.643.15 666a (footnote). 69oa. 
[108] Chú Tam Tạng Dịch kinh T2145.55.38c.
[109] Quán Dược Vương Dược Thượng Bồ-tát kinh (Bhaiṣajyarāja Contem- plation Sūtra) T1161.20.664b-c, 666a
[110] Quán Phật Tam Muội Hải kinh (Samādhi Sea Sūtra) T.662c, 663a, 664-b-c.
[111] Quán Phổ Hiền Bồ-tát Hành Pháp kinh, T 227-9-389cff. Trong bản kinh “Fa-hua ching” và “ Miao fa-hua ching”.
[112] Quyết định tỳ-ni kinh T325-12.38c
[113] Quán Hư Không Tạng Bồ-tát kinh – Ākāśagarbha Comtemplation Sūtra T 409-13.677b.
[114] Quán Dược Vương Dược Thượng Bồ-tát kinh T 1161.20.664b. Bản kinh đề cập đến danh hiệu của 35 đức Phật cũng như các danh hiệu Phật khác, xin xem tác phẩm của Shioiri Ryōdō, “Chūgoku bukkyō ni okeru butsumyōkyō no seikaku to sono genryū,” Tōyōbunka kenkyyūsho kiyō 42 (1966): 221ff.
[115] Thiền bi yếu pháp kinh T.613.15.2.242ff.
[116] Saikano tán đồng quan điểm của Dharmamitra, trong khi Satō lại chọn quan điểm Cưu-ma-la-thập. Mizuno gần đây biểu lộ tán thành quan điểm của Satō. Xem tác phẩm của Sakaino Kōyō, Shina bukkyō seishi (Tokyo: Bukkyō Nenkansha, 1935; rpt.ed) Tokyo: Kokusho Kankōkai, 1972; 862; Satō Taishun, Kokuyaku issaikyō ; kyōshūbu, phát triển. (Tokyo: Daitō Shuppansha, 1928; rpt.cd,1980), 177; Mizuno Kōgen, “Zenshū seiritsu izen no zenjō shīsōshi josetsu…” Komazawa daigaku kenkyū kiyō 15(1957): 22.
[117] Mochizuki, Bukkyō kyōten seiritsushi-ron, p.227.
[118] T 474.14.538b. “Trực tâm” tương đương với nghĩa “chí thành tâm” trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, do luận giải của Sheng-chao về kinh Duy-ma-cật, giải thích: “Cưu-ma-la-thập nói: ‘Trực tâm’ nghĩa là ‘tâm chí thành’” . Xem Chú thích Duy-ma-cật kinh 1 T1775.38.335c. Có thể thấy trong kinh Quán Vô Lượng Thọ thuật ngữ “chí thành tâm” và “thâm tâm” nhưng không có “hồi hướng phát nguyện tâm.”
[119]* 於現身中得念佛三昧 (Quán thứ 8). 見此事者。即見十方一切諸佛。 以見諸佛故名念佛三昧. (Quán thứ 9) 歷事諸佛。於諸佛所修諸三昧 (Quán thứ 14).
[120]* 是心即是三十二相八十隨形好。是心作佛,是心是佛 (Quán thứ 8).
[121] Ban-chu Tam-muội kinh. T 417.13.899b, T 418.13.906a: “Tâm nầy thành Phật, Tâm nầy là Phật.” Đoạn kinh nầy tương đương bản tiếng Tây Tạng là; “sems kyis sans rgyas byed pa ste... sems ñid na yis sans rgyas te.” Xem tác phẩm của Paul.M. Harrision, ed., The Tibetan Text of the Pratyutpanna-buddha-sammukhāvasthita-samādhi-sūtra (Tokyo: The Reiyukai Library 1978), 37.
*Bát-chu Tam-muội kinh 般舟三昧經, còn gọi là Thập Phương Hiện Tại Tất Tại Tiền Lập Định kinh 十方現在佛悉在前立定經. Ngài Chi-lâu-ca-sấm 支婁迦讖 dịch vào đời Đông Tấn, triều vua Hán Linh Đế, niên hiệu Quang Hoà thứ hai (179)
[122]* 聞已信解發無上道心。經十小劫。具百法明門。得入初地。是名下品上生者。(Quán thứ 16)
[123] Shih-chu ching T 286.10. 503a
[124]* Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh 大方廣佛華嚴經, 60 quyển, Phật-đà-bạt-đà-la 佛馱跋陀羅 dịch vào đời Đông Tấn .T 278.9, 547b.
[125]* 命欲終時遇善知識。為讚大乘十二部經首題名字。以聞如是諸經名故。除却千劫極重惡業。(Quán thứ 16)
[126]* Những phát hiện mới đây đã nghiêng mạnh về thuyết soạn tập ở Trung Hoa. Nogami. Chẳng hạn, gợi ý rằng thuật ngữ “cửu phẩm” vãng sanh trong kinh Quán Vô Lượng Thọ có thể đã có mô dạng trong cách phân chia con người thành chín thành phần đề cập trong “Ku-chin-jen-pao” của Hán tộc, hoặc là cách “luật lệ dành cho chín hạng dân của triều đình” (cửu phẩm quan dân chi pháp) được thiết định trong thời Tào Ngụy (Ts'ao-wei; 220-265) nhằm mục đích khen thưởng quan lại. Từ khía cạnh khác, Yamada đã phân tích ý tưởng của thuật ngữ “Vô lượng thọ Phật–dịch nghĩa từ chữ Amita Buddha hoặc Amida Buddha” Căn cứ trên phân tích nầy, Yamada đã gợi ý rằng kinh Quán Vô Lượng Thọ là đúc kết từ ba bản kinh rời rạc trước đây:
1. Câu chuyện về A-xà-thế (s: Ajātaśatru 阿闍世).
2. Mười ba pháp quán đầu tiên (trong 16 pháp quán).
3. Ba pháp quán sau (từ 14-16) về chín phẩm vãng sanh.
Kết luận đã được thêm vào cho hình thức kinh nầy. Yamada khẳng định rằng 3 phần rời rạc trước đó y cứ phần lớn trong thuật ngữ “A-di-đà Phật” là chỉ dành riêng cho phần thứ nhất và phần thứ 3, trong khi ý tưởng “Vô lượng thọ Phật” hầu như tìm thấy trong toàn thể phần 2, là 13 pháp quán. Ngay cả trường hợp ngoại lệ, câu “A-di-đà Phật” trong phần 1 và xuất hiện 1 lần “Vô lượng thọ Phật” trong phần 3– không đặt ra vấn đề gì trong luận dr của Yamada, vì ông ta giải thích rằng đó như là một cố gắng từng phần để “suông sẻ” bản dịch từ phần nầy đến phần kia. Dù mức độ nào, phát hiện của Yamada đã hỗ trợ mạnh mẽ thuyết soạn tập ở Trung Hoa. Xem tác phẩm của Nogami Shunjō, Chūgoku Jōdokyō-shiron (Kyoto: Hōzōkan,-
1981), 178-183; Yameda Meiji, “Kangyōkō - Muryōjubutsu to Amidabutsu,” Ryūkoku daigaku ronshū 408 (1976: 76-95).
[127] Lưu ý rằng trong khi tiểu sử của Sheng-han có trong Cao Tăng Truyện 7, T 2059-50-370b, thì không có đề cập nào về Ngài như là một Bút thọ cho kinh Quán Vô Lượng Thọ.
* Bút thọ, hay còn gọi nhuận sắc. Như trường hợp Thừa tướng Phòng Dung nhuận sắc cho kinh Thủ-lăng-nghiêm. 
 

---o0o---
HẾT
1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương