MỞ ĐẦu tính cấp thiết của đề tài


Một số đề xuất đối với công tác phòng, chống tội phạm thẻ thanh toán ở Việt Nam trong tình hình hiện nay



tải về 377.33 Kb.
trang4/4
Chuyển đổi dữ liệu30.08.2016
Kích377.33 Kb.
1   2   3   4
2.2. Một số đề xuất đối với công tác phòng, chống tội phạm thẻ thanh toán ở Việt Nam trong tình hình hiện nay

Rủi ro trong quá trình kinh doanh thẻ, ngoài thiệt hại đối với chủ thẻ thì những thiệt hại về vật chất và uy tín đối với ngân hàng trong phát hành và thanh toán thẻ là không nhỏ. Do đó việc ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro trong quá trình phát hành và sử dụng thẻ thanh toán đang là mối quan tâm chung của mọi chủ thể tham gia trong quá trình này. Loại tội phạm trộm tiền trong tài khoản thẻ thanh toán hiện đang có xu hướng ngày càng tăng nhanh và thiệt hại do hoạt động của chúng gây ra ngày càng lớn. Chính vì vậy, nhất thiết chúng ta phải có những giải pháp tổng thể để có thể phòng chống loại tội phạm này. Không chỉ “chống” mà phải có những biện pháp để chủ động phòng ngừa, phát hiện những hành vi phạm tội của các đối tượng này. Để có được những giải pháp thực sự có hiệu quả cả ở tầm vĩ mô và vi mô là điều không hề đơn giản, và vẫn đang là vấn đề thách thức đối với cả những nhà quản lý, các ngân hàng, tổ chức tài chính tín dụng và nhất là đối với những người đang sử dụng thẻ thanh toán điện tử như một phương tiện thanh toán không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của mình.

Công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm thẻ thanh toán đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan Công an và ngân hàng, ngoài ra còn phải phối hợp với các cơ quan chức năng và một số cơ quan, tổ chức chuyên môn trong lĩnh vực thương mại điện tử. Sự phối hợp này thời gian qua chỉ mang tính tạm thời theo từng vụ việc xảy ra mà chưa có cơ chế phối kết hợp đồng bộ, rõ ràng. Thiếu sự trao đổi thông tin cũng như kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm giữa các cơ quan trên. Đây là vấn đề có ảnh hưởng rất lớn trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm thẻ thanh toán trong thời gian tới ở nước ta.

Lực lượng cán bộ công an trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra còn hạn chế về trình độ, thiếu kiến thức chuyên môn về loại tội phạm này. Mặt khác, lại không được cập nhật kịp thời những kiến thức cần thiết về phương thức thủ đoạn phạm tội của tội phạm thẻ thanh toán để phục vụ hoạt động điều tra của mình. Trong khi đó cán bộ, nhân viên ngân hàng chỉ có kiến thức phòng ngừa, không đủ kiến thức để phát hiện cũng như điều tra đối với loại tội phạm này.

Các văn bản pháp luật có liên quan về loại hành vi phạm tội này chưa được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Trong thời gian tới có thể sẽ có những sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan đến loại tội phạm này, nhưng cũng phải mất một khoảng thời gian nhất định nữa (ít nhất là một vài năm). Vì vậy công tác điều tra xử lý đối với loại tội phạm này vẫn còn gặp phải những vướng mắc, cản trở nhất định làm ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa, đấu tranh chung.

Công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm thẻ thanh toán trong thời gian vừa qua đã được sự quan tâm, chú ý nhiều hơn của ngành Công an và các ngân hàng cũng như của toàn xã hội. Xuất phát từ tính cấp bách của tình hình và đòi hỏi của thực tiễn, các đơn vị chuyên môn phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này đã được thành lập và ngày càng hoàn thiện. Đồng thời việc phối hợp cộng tác giữa các cơ quan chức năng của nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới cũng được tăng cường. Vì vậy chúng ta có điều kiện để trao đổi, cập nhật thông tin cũng như tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm của các nước về vấn đề này. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ, giúp đỡ của các nước cũng như cơ quan Cảnh sát quốc tế Interpol trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này.

Trên cơ sở những thuận lợi và khó khăn trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm thẻ thanh toán trong thời gian vừa qua, trong phạm vi đề tài này, tác giả mạnh dạn đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm thẻ thanh toán ở Việt Nam trong tình hình hiện nay:



2.2.1. Nâng cao nhận thức cho người sử dụng thẻ

Hoạt động thương mại điện tử nói chung và thanh toán điện tử nói riêng diễn ra trong một không gian kinh tế khác biệt so với các phương thức kinh doanh truyền thống và có những rủi ro rất đặc thù. Để việc thanh toán bằng thẻ diễn ra thật sự hiệu quả, cần có nhận thức đúng đắn về những rủi ro này để trang bị cho mình những hiểu biết phù hợp nhằm tự bảo vệ mình. Nhiều vụ rủi ro, thiệt hại khi thanh toán bằng thẻ diễn ra một phần cũng do nhận thức của người sử dụng thẻ về vấn đề này còn hạn chế, nhận thức về các biện pháp tự bảo vệ khi thanh toán qua thẻ còn rất thấp. Vì vậy việc nâng cao hơn nữa hiểu biết của chủ thẻ về phòng ngừa tội phạm thẻ là rất quan trọng. Tuy nhiên, thay đổi và nâng cao nhận thức về an toàn trong thanh toán điện tử là một quá trình lâu dài, cần sự tham gia của nhiều tầng lớp xã hội nhưng vai trò quan trọng nhất vẫn là các ngân hàng và các phương tiện truyền thông đại chúng.

Việc chuyển đổi công nghệ thẻ còn chậm và còn một khoảng thời gian dài nữa mới hoàn thành. Vì vậy, trong khi chờ đợi các ngân hàng chuyển đổi công nghệ thì việc nâng cao ý thức cho người sử dụng thẻ là cách tốt nhất phòng ngừa tội phạm thẻ thanh toán. Trước hết, đối với chủ thẻ thì cách để giữ cho chắc “túi tiền” của mình, tránh những rủi ro đáng tiếc xảy ra như các trường hợp đã nêu trên là họ phải trang bị cho mình những kiến thức chung về cách sử dụng và bảo quản thẻ. Ví dụ như: chủ thẻ không nên cài đặt mã số PIN quá đơn giản, tránh sử dụng mã PIN là những con số liên quan đến bản thân mà nhiều người biết như: số thứ tự, ngày tháng năm sinh, số xe, số điện thoại, số nhà, số chứng minh nhân dân… vì dễ bị lộ và khi mất thẻ, kẻ xấu có thể dò ra mã PIN rút tiền; chủ thẻ nên thay đổi mã số PIN thường xuyên, tốt nhất là sau mỗi lần rút tiền lại đổi một mã PIN mới, hoặc liên tục thay thẻ để thay đổi dữ liệu trên thẻ; cần tránh ghi mã PIN vào sổ tay, sách vở, trên thẻ, lịch làm việc…; nên cất giữ số tài khoản và số PIN ở nơi an toàn và không để hai số này ở cùng một nơi để tránh bị ăn cắp; giữ bí mật tuyệt đối mã PIN của mình, không được để bất kì ai khác biết. Hết sức cảnh giác và tuyệt đối đừng bao giờ chia sẻ hay cung cấp những thông tin về thẻ cũng như các thông tin cá nhân của mình cho người khác.

Nên thực hiện giao dịch (nhất là giao dịch rút tiền) vào ban ngày vì các đối tượng phạm tội thường có xu hướng hoạt động vào ban đêm, khi mà mọi người thường ít cảnh giác, cũng là lúc có ít người rút tiền. Lúc đó các đối tượng sẽ dễ dàng chú ý vào một “nạn nhân” nào đó hơn. Cũng cần hạn chế tối đa việc tra tài khoản thẻ ATM tại các dịch vụ Internet công cộng vì có thể bị hacker cài phần mềm “đón lõng” thông tin bảo mật. Hiện nay việc mua hàng qua mạng và bị kẻ gian lợi dụng để đánh cắp tiền trong thẻ đã trở nên rất phổ biến. Vì vậy khi sử dụng hình thức mua bán này không nên tin tưởng tuyệt đối vào một website nào, dù trang chủ tuyên bố là an toàn (vì nhiều website tuyên bố là có mức độ an toàn cao nhưng chưa chắc là một website mua bán qua mạng an toàn). Khi mua sắm trên mạng chỉ sử dụng những địa chỉ trang web đáng tin cậy.

- Trong giai đoạn tiến hành giao dịch bằng thẻ: khi nhập mã PIN để rút tiền phải đảm bảo không ai thấy được mã PIN của mình. Phải giữ bí mật về mật khẩu, số PIN khi tiến hành các giao dịch trên máy ATM, tránh đọc số tài khoản của mình tại điểm chấp nhận thẻ khi có đông người; bảo mật những thông tin chi tiết liên quan đến thẻ, chỉ cung cấp những thông tin chi tiết khi thanh toán, khi mua hàng bằng thẻ chủ thẻ nên ghi số tài khoản trên giấy rồi đưa cho người bán, sau đó lấy lại tờ giấy này và hủy đi; khách hàng không nên giao thẻ và đưa mã số PIN nhờ người khác rút tiền; khi giao dịch, khách hàng nên kiên nhẫn chờ đợi bởi có khi máy đưa tiền ra chậm và nếu có trục trặc phải báo ngay cho ngân hàng có hướng xử lý. Cũng không nên thông tin số tài khoản qua điện thoại vì một trong những hình thức gian lận thẻ đã xuất hiện là lấy thông tin qua đường truyền GMS. Mặt khác khi sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng tuyệt đối không nên kí tên trên một hóa đơn trắng mà chủ thẻ nên gạch một dòng suốt các dòng trống ở phía trên dòng tính tiền tổng cộng để tránh kẻ gian in thêm những món hàng mà mình không mua để lấy thêm tiền từ thẻ thanh toán.

Khi mua bán qua mạng: trước khi sử dụng website, nên kiểm tra phần mềm bảo mật của trang web. Hãy cảnh giác kiểm tra từ địa chỉ trang web, bố cục, hình ảnh trang web một cách cẩn thận (vì các trang web giả mạo chắc chắn sẽ có điểm khác biệt với web thật), ví dụ như: những dấu chấm hay gạch ngang ở địa chỉ của trang web, những chữ “s” sau kí hiệu “http” ở địa chỉ trang web hay URL… Để tránh rủi ro chủ thẻ không nên mua hàng ở những nơi mà người bán sử dụng email miễn phí và đừng bao giờ gửi thông tin về thanh toán qua email. Mặt khác, không nên cung cấp sâu thông tin tài chính với người bán. Đặc biệt cần phải nâng cao ý thức cảnh giác khi nhận được những thư, email… yêu cầu cung cấp các thông tin cá nhân, thông tin về thẻ của mình để tránh bị kẻ gian lợi dụng, vì các ngân hàng không bao giờ yêu cầu khách hàng cung cấp những thông tin cá nhân có liên quan tới thẻ qua các hệ thống này.

- Sau khi thực hiện xong giao dịch: Đừng bỏ những biên nhận rút tiền tại nơi rút tiền. Trên các biên nhận luôn có ghi các thông tin tài khoản như số tài khoản, số dư (số tiền còn lại trong tài khoản), chính những thông tin này cũng có thể được các đối tượng sử dụng để dò ra những thông tin cần thiết khác về tài khoản của chủ tài khoản bằng các thủ đoạn khác; lưu lại mọi hóa đơn, các hồ sơ các giao dịch đã tiến hành để đối chiếu khi có sự cố cũng rất cần thiết; hủy bỏ các bản sao hóa đơn, vé máy bay… có ghi số thẻ thanh toán; kiểm tra các giao dịch, ngay cả những giao dịch nhỏ nhất vì tội phạm thẻ thường thử sử dụng các tài khoản ăn cắp bằng cách mua những mặt hàng ít giá trị trước; báo ngay với ngân hàng khi thấy có những giao dịch hay email đáng nghi.

Thường xuyên kiểm tra tài khoản của mình, xem lại cẩn thận báo cáo tài khoản hàng tháng để kiểm soát và phát hiện những khoản tiền bị rút hoặc sử dụng mà mình không biết. Các khoản thanh toán bằng tài khoản của chủ tài khoản luôn được ngân hàng lưu lại một cách chi tiết. Chủ tài khoản nên thường xuyên yêu cầu ngân hàng cung cấp các thông tin này để kiểm tra. Nếu có gì bất thường phải lập tức thông báo cho ngân hàng và khóa tài khoản lại. Nếu như chủ tài khoản gặp vấn đề liên quan đến tài khoản của mình, tốt hơn hết là nên liên lạc trực tiếp với ngân hàng, hạn chế việc thực hiện thông qua Internet. Với sự cẩn thận như vậy thì sẽ hạn chế rất nhiều rủi ro có thể gặp phải.

Bên cạnh đó, người sử dụng thẻ cần có những hiểu biết để chủ động phòng ngừa các thủ đoạn của tội phạm thẻ thanh toán. Qua những thông tin về các thủ đoạn mà các đối tượng tội phạm thẻ thanh toán đã tiến hành có thể nhận thấy rằng nhiều thủ đoạn phạm tội của chúng rất đơn giản, người sử dụng thẻ có thể dễ dàng phát hiện và tránh được việc bị mất tiền trong tài khoản nếu biết cách phòng tránh. Người sử dụng thẻ nên tìm hiểu một số kinh nghiệm phát hiện những thủ đoạn này để chủ động phòng ngừa với tội phạm thẻ thanh toán, bảo vệ tài khoản của mình (biện pháp để phòng ngừa các thủ đoạn của tội phạm thẻ thanh toán được trình bày ở phần phụ lục 9).

Mặt khác, các cơ quan chức năng cần tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật trong quần chúng nhân dân; nhất là trong các trường phổ thông, các trường đại học, cao đẳng… để sớm trang bị cho học sinh, sinh viên kiến thức pháp luật, hiểu được những hành vi nào là vi phạm pháp luật, mức độ nguy hiểm, chế tài xử lý và nâng cao ý thức pháp luật ngay từ trên ghế nhà trường, nhất là đối với những học sinh, sinh viên có kiến thức về công nghệ thông tin.



2.2.2. Hoàn thiện những quy định pháp luật về tội phạm thẻ thanh toán

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ có liên quan đến lĩnh vực thẻ thanh toán như quy định trong BLHS, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật giao dịch điện tử… Đặc biệt cần quy định cụ thể trong BLHS hành vi này là tội phạm, hay hình sự hóa hành vi làm giả thẻ thanh toán làm cơ sở cho hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với loại hình tội phạm mới này.

Hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trong các vụ án trên đây là một dạng hành vi tội phạm mới phát sinh trong lĩnh vực công nghệ cao, do đó quan điểm định tội cũng còn những ý kiến khác nhau. Để đảm bảo tính thống nhất, tính pháp chế và thuận lợi trong quá trình áp dụng, trước mắt cần có sự hướng dẫn thống nhất đường lối xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng các thông tư liên tịch hay nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, và về lâu dài cần phải bổ sung vào BLHS những cấu thành tội phạm mới để phù hợp với những hành vi tội phạm có sử dụng công nghệ cao trong thống nhất xác định tội danh.

Chúng ta đang xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa thì đòi hỏi tất cả những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội cần phải được xử lý bằng Luật hình sự với những chế tài nghiêm khắc đủ để trấn áp, răn đe cũng như phòng ngừa tội phạm. Do vậy việc bổ sung vào BLHS những điều luật về loại tội phạm này không chỉ đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm mà còn phù hợp với quy luật khách quan về sự phát triển.

Tội phạm thẻ thanh toán là một trong những dạng tội phạm công nghệ cao, một số hành vi của tội phạm thẻ thanh toán như hacking, fishing… là dạng hành vi phổ biến của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Hiện nay trong BLHS năm 1999 chỉ có 4 điều luật quy định liên quan trực tiếp tới tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin nhằm điều chỉnh những hành vi phạm tội trong lĩnh vực này. Đó là: Điều 125 (quy định về tội chiếm đoạt thư tín điện tử hoặc xâm phạm bí mật, an toàn thư tín điện tử); Điều 224 (quy định về tội tạo và làm lan truyền, phát tán các chương trình vi rút tin học); Điều 225 (quy định về tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử) và Điều 226 (quy định về tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính).

Các quy định trên chưa đầy đủ và thiếu tính khả thi. Sau hơn 7 năm thi hành BLHS, có rất ít hành vi vi phạm thuộc nhóm tội này bị truy cứu trách nhiệm hình sự, dù số lượng các hành vi sử dụng công nghệ thông tin xâm hại lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân ngày một tăng. Trong thực tế đối với những hành vi phạm tội trong lĩnh vực này, ngoài 4 điều luật trên thì hiện nay đang vận dụng một số điều luật khác để điều chỉnh, do đó không tránh khỏi những vướng mắc, bất hợp lý. Vì vậy, trong thời gian tới cần nhanh chóng sửa đổi, bổ sung các quy định về nhóm tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, cần cụ thể hóa hoặc bổ sung thêm một số hành vi vào các điều luật trên. Ngoài ra cũng cần nghiên cứu để đến một thời điểm thích hợp nào đó nếu cần thiết có thể ban hành một đạo luật riêng về phòng chống tội phạm công nghệ cao như một số nước đã làm, trong đó có quy định những hành vi về tội phạm thẻ thanh toán.

Bên cạnh đó cũng cần bổ sung những quy định pháp luật liên quan đến dấu vết, chứng cứ điện tử để làm cơ sở pháp lý cho các cán bộ điều tra thu thập chúng cứ nhằm làm rõ hành vi phạm tội của tội phạm thẻ thanh toán.

Chính phủ và ngân hàng Nhà nước cần sớm nghiên cứu để ban hành các văn bản pháp lý, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh qua thẻ của các ngân hàng, cũng như các quy định xử lý các hành vi giả mạo, lừa đảo trong giao dịch thẻ phù hợp với thông lệ quốc tế.

Về quy định pháp luật hành chính liên quan đến tội phạm thẻ thanh toán, hiện nay đã có một số luật và văn bản pháp quy như: Luật công nghệ thông tin, Nghị định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Luật giao dịch điện tử, và các nghị định hướng dẫn thi hành các luật này, Nghị định về chữ ký số… Nghị định 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet; Quyết định số 27/2002/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hoá Thông tin; Quyết định số 71/2004/QĐ-BCA của Bộ Công an đã đưa ra những mức xử phạt hành chính (chủ yếu là phạt tiền). Tuy nhiên những quy định này vẫn còn thiếu và những chế tài hành chính đối những hành vi này chưa mang tính hệ thống. Vì vậy, cần bổ sung một số điều trong Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin để xử phạt những hành vi vi phạm của tội phạm thẻ thanh toán mà chưa tới mức phải xử lý hình sự như là phạt tiền, cấm hành nghề… Mặt khác cũng cần xây dựng một văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, xác định rõ các hành vi vi phạm, các hình thức và mức phạt, cơ chế xử phạt... để đủ sức răn đe và ngăn chặn đối với các loại tội phạm công nghệ cao nói chung và tội phạm thẻ thanh toán nói riêng.

2.2.3. Cần nâng cao chất lượng dịch vụ, trách nhiệm của ngành ngân hàng trong giao dịch bằng thẻ thanh toán

Thứ nhất, tăng cường trách nhiệm của chủ thẻ.

Thường xuyên tổ chức tập huấn trang bị và nâng cao kiến thức cho những người sử dụng thẻ, phổ biến rộng rãi các quy định về sử dụng, thanh toán thẻ cho các chủ thẻ. Bởi hiện nay rất nhiều ngân hàng cung cấp sản phẩm thẻ cho khách hàng mà không có hướng dẫn sử dụng cũng như các cẩm nang giúp khách hàng phòng tránh rủi ro dẫn đến việc khách hàng không biết được là mình sẽ gặp phải những rắc rối gì và phải làm như thế nào trong những trường hợp đó.

Thông qua việc quảng cáo các sản phẩm thẻ của mình các ngân hàng thương mại nên lồng vào đó các hướng dẫn cần thiết, cần lưu ý cho khách hàng trong quá trình sử dụng thẻ như: các thông tin cần bảo mật tuyệt đối (như mã số PIN), cách thanh toán thẻ an toàn tránh bị skimming thẻ, cảnh giác trong các giao dịch thanh toán qua mạng bằng thẻ vì có thể bị đánh cắp thông tin thẻ, hướng dẫn khách hàng những việc cần thiết phải làm khi phát hiện có hiện tượng nghi ngờ, gian lận trong thanh toán thẻ, các biện pháp giải quyết… Định kì các ngân hàng cũng nên tổ chức các buổi báo cáo và thu thập ý kiến phản hồi của người sử dụng để có thể cải thiện hơn chất lượng dịch vụ cũng như giải đáp kịp thời những thắc mắc của khách hàng.

Bên cạnh việc thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng thì tại các điểm giao dịch thẻ cần phải có hướng dẫn sử dụng và cảnh báo cho khách hàng những thủ đoạn của tội phạm thẻ thanh toán để họ cảnh giác, cách phát hiện những dấu hiệu đáng nghi và cách xử lý.

Ngân hàng cần lưu ý khách hàng các quyền lợi cũng như nghĩa vụ của chủ thẻ đối với ngân hàng khi sử dụng dịch vụ này, theo dõi toàn bộ hoạt động chi tiêu của các chủ thẻ, có biện pháp theo dõi từng bước đối với các chủ thẻ không thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán, sao kê để có biện pháp phù hợp với hành vi của chủ thẻ. Quản lý khách hàng và phân loại khách hàng theo nhóm (theo hình thức thanh toán hoặc theo dạng nghề nghiệp… để nắm thông tin về khách hàng dễ dàng hơn, giúp quản lý khách hàng hiệu quả hơn). Theo dõi các báo cáo thẻ chậm thanh toán, báo cáo thẻ sử dụng quá hạn mức thanh toán để có thể thực hiện tốt hơn việc quản lý chi tiêu của các chủ thẻ.

Ngân hàng phát hành cần thường xuyên tổ chức tập huấn trang bị và nâng cao kiến thức về an ninh bảo mật cho tất cả các chủ thể tham gia quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ; tập huấn và cập nhật thường xuyên kiến thức nghiệp vụ, các quy định của từng tổ chức thẻ quốc tế cho mọi cơ sở chấp nhận thẻ và các cán bộ nghiệp vụ liên quan. Thường xuyên nắm bắt các thông tin về quản lí rủi ro ở các trung tâm thẻ quốc tế, hoặc qua các phương tiện thông tin, Internet để cập nhật biên soạn cẩm nang nhằm phổ biến các loại rủi ro đã và có thể xuất hiện trong lĩnh vực kinh doanh thẻ, cách thức phát hiện và các biện pháp phòng ngừa đến từng cán bộ nghiệp vụ trong ngân hàng.

Và vấn đề quan trọng nhất là phải tạo được lòng tin đối với khách hàng bằng chính sự trung thực, trách nhiệm và sự an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Thứ hai, nâng cao năng lực về công nghệ, củng cố và hoàn thiện cơ sở vật chất, kĩ thuật để hạn chế những sơ hở, thiếu sót mà đối tượng làm giả thẻ thanh toán có thể lợi dụng.

Năng lực về công nghệ là một trong những lợi thế cạnh tranh rất lớn của các ngân hàng hiện nay, bởi lẽ yếu tố này sẽ quyết định chất lượng dịch vụ của các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng cũng như sự an toàn khi sử dụng sản phẩm. Khi xây dựng được một sự vững mạnh và hiện đại về năng lực công nghệ, ngân hàng mới đối phó được với các loại tội phạm về thẻ, bảo đảm sự an toàn cho chính bản thân mình và cho cả khách hàng. Một số trục trặc của các vụ việc được liệt kê ở trên cũng xuất phát từ sự không tương thích về trình độ công nghệ giữa các ngân hàng khi tham gia cùng một hệ thống thanh toán. Có ngân hàng đã sử dụng công nghệ hiện đại, mới nhất, nhưng cũng có ngân hàng vẫn chưa đạt đến cùng mức nên trong quá trình xử lí thông tin sẽ gặp một số trục trặc, dẫn đến những điều phiền toái cho khách hàng. Trình độ công nghệ là yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ, là vũ khí quan trọng để chống lại bọn tội phạm làm thẻ giả mạo. Ngân hàng cần lựa chọn cho mình những giải pháp công nghệ hiện đại, phù hợp để quản lý hệ thống thông tin dữ liệu, phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hoạt động giả mạo thẻ của bọn tội phạm.

Hiện nay thẻ thanh toán đang sử dụng ở Việt Nam chủ yếu là thẻ từ và các ngân hàng Việt Nam cũng đang phát triển hệ thống thẻ từ, loại thẻ có tính bảo mật yếu, rất dễ bị làm giả. Bọn tội phạm chỉ cần dùng một bảng mạch điện tử hai đầu đọc băng từ (tương tự như hai đầu đọc băng cassette) là có thể thực hiện việc sao chép thẻ. Trong khi trên thế giới các ngân hàng đã chuyển sang hệ thống thẻ thông minh (smart card), sử dụng theo chuẩn của EMV (nhóm các tổ chức thẻ lớn nhất thế giới là Europay, MasterCard và Visa). Theo qui định của EMV, từ 1/1/2006 khu vực Châu Á – Thái Bình Dương sẽ phải chuyển sang dùng thẻ thông minh, còn trong vòng 4 đến 6 năm nữa, gần như tất cả các tổ chức tài chính trên thế giới sẽ chuyển sang sử dụng thẻ thông minh. Các quốc gia như Malaixia hay Singapore đều có một tổ chức của Chính phủ đứng ra quản lý việc chuyển đổi hệ thống thẻ sang hệ thống thẻ thông minh, toàn bộ các ngân hàng sẽ phải làm theo chương trình của Chính phủ [12, tr.3]. Trong khi đó, ở Việt Nam vẫn chưa có một định hướng nào từ phía Chính phủ được đưa ra cho vấn đề thẻ thanh toán. Vì thế giải pháp mà các ngân hàng cần hướng tới là nghiên cứu áp dụng đổi thẻ từ sang các loại thẻ chip, thẻ thông minh có tính năng hiện đại như bảo mật cao, có khả năng chống làm giả cao hơn (vì khó làm giả). Trên thế giới công nghệ này đã được một số nước sử dụng từ lâu và mang lại hiệu quả khá cao, như nước Pháp là nước đi đầu trong công nghệ thẻ chip từ 10 năm nay, công bố đã giảm được nạn thẻ giả được gần 50% sau khi triển khai [49, tr.6]. Như vậy, các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng có thể thực hiện từng bước thay thế dần việc phát hành các thẻ từ với sự lệ thuộc vào số PIN bằng việc phát hành thẻ thông minh, hướng đến mục tiêu năm 2010 sẽ hoàn toàn sử dụng các loại thẻ thông minh với những công nghệ hiện đại kết hợp như là nhận dạng tĩnh mạch lòng bàn tay hay là giọng nói… trong các phương thức thanh toán.

Phát triển hệ thống máy móc trang thiết bị viễn thông, trung tâm chuyển mạch, đảm bảo sự hoạt động liên tục, ổn định và an toàn của cả hệ thống. Đảm bảo sự kết nối tối đa của hệ thống quản lý thẻ với các tổ chức thẻ và mạng lưới thanh toán thẻ. Cập nhật và nâng cấp định kỳ hệ thống quản lý thẻ theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế. Đảm bảo bí mật các thông tin về chủ thẻ và cơ sở chấp nhận thẻ thông qua nghiệp vụ quản lý và cấp phát quyền truy cập của từng đối tượng vào hệ thống.

Nâng cao chất lượng đường truyền, đảm bảo việc cập nhật tình hình thanh toán thẻ tại các chi nhánh, cơ sở chấp nhận thẻ, kịp thời tiếp nhận các thông tin, phản hồi và trả lời về tình trạng hiện hành của thẻ và chủ thẻ.

Cần xây dựng, chuẩn bị một hệ thống máy móc, thiết bị dự phòng bên cạnh hệ thống đang hoạt động, sẵn sàng khi có sự cố hỏng hóc xảy ra. Việc chuẩn bị này có thể làm gia tăng chi phí nhưng cần thiết vì thế các ngân hàng thương mại nên có sự đầu tư phù hợp để thực hiện giải pháp này.

Ngân hàng cần tiếp tục phát triển thêm những tiện ích của thẻ, thông qua các hình thức: thẻ liên kết, thẻ đa năng nhằm tối ưu hóa công dụng của thẻ. Bên canh đó cần gia tăng số lượng máy ATM, đa dạng hóa các công dụng của máy ATM, chú ý vị trí lắp đặt máy ATM phải tiện lợi và an toàn.

Các ngân hàng cần nhanh chóng đẩy mạnh việc áp dụng một số giải pháp bảo mật thông tin tài khoản cá nhân như: chuyển đổi hệ thống thẻ thanh toán điện tử từ thẻ từ sang thẻ thông minh theo chuẩn EMV; xây dựng hệ thống theo tiêu chuẩn an toàn thông tin ISO 17799; ứng dụng công nghệ bảo mật sinh trắc học bằng nhận dạng tĩnh mạch lòng bàn tay PalmSecure (còn gọi là PalmVein Authentication); sử dụng phương thức mã hóa thông tin bằng chứng chỉ số SSL (Secure Sockets Layer Certificate) trong giao dịch (các giải pháp bảo mật thông tin tài khoản cá nhân này được trình bày cụ thể ở phần phụ lục 10). Mặt khác, phải tăng cường sử dụng các thiết bị kỹ thuật hiện đại để phòng ngừa các thủ đoạn của bọn tội phạm thẻ như: lắp đặt máy ATM có thiết bị chống thủ đoạn skimming, sử dụng công nghệ SecurID trong phòng ngừa thủ đoạn fishing (phụ lục 9)... Trước hết trong thời điểm hiện nay trong khi chưa thể thay đổi toàn bộ hệ thống thẻ cũng như áp dụng các biện pháp bảo mật trên, thì để đảm bảo an toàn cần gắn camera tại các điểm đặt máy ATM để giúp ngân hàng phát hiện những kẻ có hành vi lấy cắp dữ liệu thẻ để phối hợp với cơ quan Công an có biện pháp xử lý. Hiện đã có một số ngân hàng lắp đặt ở một số điểm, tuy nhiên vấn đề này không được ngân hàng Nhà nước quy định bắt buộc do đó ngân hàng nào không lắp đặt cũng chẳng sao. Vì vậy cần phải có quy định bắt buộc các ngân hàng phải lắp đặt camera tại các điểm chấp nhận thẻ để tăng khả năng bảo vệ tài khoản của khách hàng, mặt khác khi có tranh chấp hay khiếu nại cũng có cơ sở để xử lý.



Thứ ba, chú trọng chất lượng về nhân sự.

Ngành ngân hàng phải có chính sách tuyển chọn nhân viên và luân chuyển cán bộ hợp lý để tránh tình trạng nhân viên ngân hàng câu kết với bọn tội phạm để lấy cắp thông tin của khách hàng. Theo nhận định của các chuyên gia trong thời gian tới tình trạng này dễ xảy ra ở Việt Nam vì trên thế giới tình trạng này là khá phổ biến. Kinh nghiệm các nước trên thế giới đã cho biết rủi ro từ trong ngân hàng do đạo đức nghề nghiệp của một số nhân viên sẽ vô cùng nguy hiểm.

Phát triển được một đội ngũ nhân viên am hiểu về chuyên môn và có phẩm chất đạo đức đức tốt cũng là một trong những biện pháp giúp ngân hàng có thể phát triển hoạt động phát hành thẻ một cách an toàn và tốt nhất. Bởi lẽ cho dù công nghệ có hiện đại đến đâu thì một khâu nào đó trong quá trình xử lý cũng phải có tác động của bàn tay con người. Cho nên ngoài việc đầu tiên cần làm hiện đại hóa đến mức giảm thiểu những tác động đó trong quá trình hoạt động, việc tiếp theo đối với những khâu, những bước không thể tự động hóa được thì cần phải có những nhân viên trung thực và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc đảm nhiệm, sau đó mới đến khâu kiểm tra, kiểm soát để có thể đảm bảo không một sự gian lận nào có thể thực hiện được.

Thường xuyên mở các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ một cách bài bản về nghiệp vụ này, xây dựng tiêu chí lựa chọn cán bộ bên cạnh yếu tố chuyên môn nghiệp vụ cần chú trọng đến vấn đề đạo đức đáp ứng được nhu cầu mở rộng và phát triển dịch vụ này trong thời gian tới, tiến tới hình thành đội ngũ chuyên nghiệp tránh việc làm bộ phận khác phải kiêm nhiệm. Bên cạnh đó thường xuyên phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ cho các cán bộ của các ngân hàng thành viên nâng cao ý thức phòng chống rủi ro trong lĩnh vực này.

Xây dựng hệ thống quản lí rủi ro trong đó việc kiểm tra, kiểm soát cần được tiến hành nghiêm túc bởi những cán bộ có chuyên môn cao và có đạo đức tốt. Hạn chế rủi ro về về đạo đức của các nhân viên ở các cơ sở chấp nhận thẻ bằng công tác cán bộ và chính sách thi đua khen thưởng.

Thứ tư, ngành ngân hàng cần nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác phòng ngừa tội phạm thẻ thanh toán.

Hiện nay chủ thẻ và ngân hàng giao dịch với nhau dựa trên cơ sở pháp lý là quy chế phát hành thẻ do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành kèm theo quyết định số 317/1999/QĐ-NHNN, có giá trị pháp lý thấp [16, tr.44]. Tuy nhiên lại không có điều khoản nào ràng buộc các ngân hàng phải đảm bảo chất lượng dịch vụ. Ngân hàng Nhà nước chỉ làm một việc là cấp phép ban đầu, các vấn đề sau đó như chất lượng dịch vụ, bảo vệ quyền lợi của chủ thẻ chưa được quan tâm. Những vụ khiếu kiện vừa qua người bị khiếu nại là ngân hàng, người trả lời và giải quyết khiếu nại cũng chính là các ngân hàng theo kiểu “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, thế nên ít khi ngân hàng nhận lỗi về mình, do đó bao giờ phần thiệt cũng thuộc về người khiếu nại. Vì thế cần phải ban hành sửa đổi quy chế phát hành thẻ hoặc ban hành quy chế mới theo đó cần gắn chặt trách nhiệm của ngân hàng hơn nữa trong bảo vệ quyền lợi của người sử dụng, hạn chế đến mức thấp nhất làm giả thẻ thanh toán.

Kiểm tra và xác minh độ chân thực thông tin về chủ thẻ, đối với việc phát hành thẻ tín dụng cần đảm bảo những điều kiện cần thiết như kí quỹ, tín chấp… Phối hợp cơ quan an ninh phòng chống tội phạm thẻ xem xét, thẩm định kĩ khách hàng, đặc biệt với thẻ có hạn mức đặc biệt; đảm bảo các nguyên tắc an toàn như: thẻ và PIN phải giao tận tay cho chủ thẻ hoặc gửi chúng tách biệt nhau.

Lựa chọn cơ sở chấp nhận thẻ có uy tín: đối với các thẻ thanh toán, cơ sở chấp nhận thẻ cũng là một chủ thể tham gia trong quá trình sử dụng và thanh toán thẻ. Vì vậy lựa chọn được những cơ sở chấp nhận thẻ uy tín sẽ giảm thiểu rủi ro cho khách hàng. Các cơ sở chấp nhận thẻ nếu muốn gian lận thì có thể thông đồng với các tổ chức tội phạm lấy cắp thông tin trên băng từ của thẻ thật sử dụng tại cơ sở chấp nhận thẻ của mình để làm thẻ giả hoặc vô tình chấp nhận thẻ giả, thẻ hết hiệu lực, thẻ mất cắp hoặc thanh toán vượt hạn mức cho phép hoặc có thể cố tình tách những giao dịch lớn thành nhiều giao dịch nhỏ dưới hạn mức... Cho nên trong quá trình phát triển hệ thống đại lý kinh doanh thẻ, ngân hàng cần quan tâm xem xét tư cách của các cơ sở chấp nhận thẻ này về năng lực hoạt động kinh doanh cũng như khả năng tài chính.

Bộ phận chuyên môn về hoạt động kinh doanh thẻ tập trung cập nhật xây dựng, sửa đổi các quy định, quy trình nghiệp vụ một cách kịp thời, phù hợp với thông lệ quốc tế. Thường xuyên kiểm tra các điểm kiểm tra thẻ xem các thiết bị thanh toán có phù hợp với quy định của ngân hàng không (các điểm chấp nhận thanh toán không được sử dụng thiết bị có khả năng lưu trữ thông tin, các thiết bị để đánh cắp thông tin thẻ). Phối hợp với các điểm chấp nhận thẻ để đào tạo các nhân viên chấp nhận thẻ những kiến thức và các kĩ năng cần thiết trong giao dịch thẻ.

Sự tăng cường hợp tác giữa các ngân hàng thị trường thẻ Việt Nam hiện nay tuy đã phát triển mạnh nhưng vẫn chưa có được một sự hợp tác tốt giữa các ngân hàng, dẫn đến một sự lãng phí trong đầu tư và gây khó khăn trong quá trình sử dụng thẻ của chủ thẻ cũng như khó khăn trong việc quản lý rủi ro. Sự hợp tác tự nguyện bằng cách liên kết toàn bộ hệ thống thẻ thanh toán giữa các ngân hàng thành một hệ thống duy nhất, đồng bộ sẽ mang đến lợi ích cho tất cả các bên, từ đó giúp cho các ngân hàng có thể hỗ trợ nhau về mặt kĩ thuật và nghiệp vụ để giảm thiểu rủi ro. Trong thời gian tới các ngân hàng nên chia sẻ thông tin bảo mật với nhau. Hiệp hội thẻ Việt Nam cần phát huy vai trò đầu mối nghiên cứu ban hành các quy định đối với các ngân hàng thành viên trong việc cung cấp thông tin, phối hợp hành động trong việc phòng chống gian lận giả mạo trong lĩnh vực thẻ.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Trong quá trình phát triển thị trường thẻ tại Việt Nam cũng cần có sự hỗ trợ rất lớn từ phía ngân hàng Nhà nước từ việc hỗ trợ chuyên môn, đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật thẻ cũng như việc tạo một môi trường pháp lý chặt chẽ cho các giao dịch thẻ. Xây dựng trung tâm thẻ liên ngân hàng, qua đó xây dựng chuẩn kỹ thuật thống nhất cho việc phát hành thẻ ở Việt Nam đồng thời kiểm tra, xử lý các nghiệp vụ thanh toán thẻ giữa các ngân hàng. Hiện nay trong quy chế phát hành thẻ do ngân hàng Nhà nước ban hành (năm 1999) chưa có điều khoản ràng buộc các ngân hàng phải đảm bảo chất lượng dịch vụ. Trong thời gian tới Nhà nước nên lập được một cơ quan giám sát chuyên nhiệm vụ quản lý chung nghiệp vụ phát triển thẻ của các ngân hàng để có thể sẵn sàng vào cuộc điều tra khi có yêu cầu và điều chỉnh hoặc có những biện pháp xử phạt đối với những ngân hàng cung cấp sản phẩm chưa đủ tiêu chuẩn, chất lượng nhằm đảm bảo lợi ích của khách hàng.

2.2.4. Nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm thẻ thanh toán của cơ quan Công an

Thứ nhất, đào tạo đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có trình độ chuyên môn cao (phải là những chuyên gia về tin học), trang bị các phương tiện thiết bị kỹ thuật hiện đại để phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm. Trong thời gian qua, công tác đào tạo tin học và chuyên môn về tội phạm thẻ thanh toán nhìn chung đã được quan tâm đẩy mạnh nhưng chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ chuyên trách phòng chống tội phạm công nghệ cao (trong đó có tội phạm về thẻ thanh toán) còn quá mỏng. Nhằm tăng cường lực lượng, biện pháp, đảm bảo chuyên sâu trong đấu tranh với tội phạm công nghệ cao nói chung và tội phạm thẻ thanh toán nói riêng, ngày 02/03/2005 Bộ trưởng Bộ Công An có quyết định số 189/2005/QĐ-BCA (X13) thành lập Phòng phòng ngừa, đấu tranh tội phạm công nghệ cao (Phòng 9) thuộc Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ [16, tr.43]. Nhưng hiện nay cả phòng 9 – C15 – Bộ Công an chỉ có 10 cán bộ, trong đó có 5 cán bộ trinh sát và 5 cán bộ tin học, trong khi đó phòng này mới được thành lập hơn hai năm, không đủ lực lượng để đối phó được với tình hình tội phạm như hiện nay.

Bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ, chiến sĩ công an phục vụ hoạt động phát hiện, điều tra tội phạm thẻ thanh toán những kiến thức cơ bản về thẻ thanh toán cũng như những kiến thức có liên quan đến phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội, phương pháp phát hiện tội phạm và phương pháp điều tra, thu thập dấu vết vật chứng khi điều tra tội phạm thẻ thanh toán.

Nghiên cứu, bổ sung các tài liệu về tội phạm thẻ thanh toán, xây dựng hệ thống tri thức về dấu vết, vật chứng cũng như phương pháp, quy trình thu thập các loại dấu vết, vật chứng đó trên cơ sở tìm hiểu hệ thống lí luận của các nước trên thế giới về tội phạm thẻ thanh toán. Đồng thời phải tổ chức tổng kết, theo dõi, đánh giá, rút kinh nghiệm qua các vụ án đã xảy ra để truyền đạt, hướng dẫn kịp thời đến các cán bộ, chiến sĩ chuyên trách. Mở các buổi hội thảo, chuyên đề, lớp bồi dưỡng kiến thức về đấu tranh phòng chống tội phạm thẻ thanh toán.

Về hình thức bồi dưỡng cũng phải linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn của từng đơn vị. Có thể bố trí, tạo điều kiện cho cán bộ, chiến sĩ công an tham gia những khóa học tại các cơ sở giảng dạy hoặc mời các chuyên gia hoặc những cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn báo cáo theo chuyên đề hoặc từng vụ việc cụ thể.



Thứ hai, cần thành lập Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, nếu chưa có điều kiện thành lập ở tất cả các phòng thuộc Công an các tỉnh thì ít nhất cũng phải thành lập được ở các tỉnh, thành phố lớn… Đây là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, vì thực tế tội phạm sử dụng công nghệ cao cũng đã phát triển mạnh mẽ ở nước ta với nhiều loại hình khác nhau, với những phương thức thủ đoạn khác nhau… Trong khi đó chỉ có một phòng (phòng 9 – C15) đặt ở cấp cục, do đó không thể bao quát hết hoạt động phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói chung và tội phạm làm giả thẻ thanh toán nói riêng trên phạm vi cả nước.

Thứ ba, ngành Công an phải tăng cường hợp tác với các cơ quan chức năng cũng như các cơ quan chuyên môn ở trong và ngoài nước trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm thẻ thanh toán.

Nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp giữa ngành Công an và ngân hàng trong phòng chống tội phạm thẻ thanh toán. Sự phối hợp này được thực hiện theo Thông tư liên bộ số 14/TTLB ngày 4/11/1992 của Ngân hàng Nhà nước – Bộ Nội vụ về công tác bảo vệ an ninh và tài sản Nhà nước do ngân hàng quản lí và bảo quản. Theo nội dung Thông tư này, trách nhiệm của mỗi ngành và sự phối hợp giữa hai ngành nhằm để chủ yếu bảo vệ an ninh nội bộ, và bảo vệ an toàn các mục tiêu trọng điểm của ngành ngân hàng. Vì vậy, trong thời gian qua, vì mục tiêu lợi nhuận và uy tín kinh doanh, các ngân hàng hầu như giữ bí mật các thông tin trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, chỉ khi nào chủ thẻ có khiếu kiện, khiếu nại mới lên tiếng giải quyết, nếu như khách hàng không biết, không khiếu kiện thì ngân hàng cũng không thông báo. Thực tế cho thấy khi cơ quan Công an tiến hành điều tra làm rõ hành vi liên quan tội phạm về thẻ thanh toán, nhưng vì sợ ảnh hưởng đến uy tín kinh doanh nên đã không nhận được sự ủng hộ mà lại gặp phải cản trở từ chính các ngân hàng.

Để khắc phục tình trạng này, cần kịp thời bổ sung, sửa đổi Thông tư nêu trên, trong đó quy định rõ ràng ngành ngân hàng phải có trách nhiệm tự kiểm tra trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình để chủ động và kịp thời cung cấp thông tin cho ngành Công an những giao dịch có nghi ngờ là sử dụng thẻ giả… Đồng thời phải có trách nhiệm, phối hợp với các lực lượng chức năng trong ngành Công an trong quá trình điều tra, xác minh làm rõ tội phạm. Cơ chế phối hợp trên phải được cụ thể hóa một cách rõ ràng.

Phối hợp với các cơ quan Hải quan, du lịch…để phát hiện những đối tượng là người nước ngoài giả dạng khách du lịch, sử dụng hộ chiếu giả vào Việt Nam mở tài khoản dùng thẻ ATM giả và thẻ tín dụng giả để rút tiền hoặc mua hàng hóa xa xỉ ngay khi chúng làm thủ tục xuất nhập cảnh. Mặt khác, phối hợp với Cảnh sát quốc tế thông qua Văn phòng Interpol trong phòng ngừa các đối tượng tội phạm thẻ quốc tế xâm nhập và hoạt động ở Việt Nam. Việc phối hợp với Cảnh sát quốc tế trong đấu tranh với loại tội phạm này thời gian qua còn hạn chế, nhất là việc trao đổi thông tin, phát hiện và ngăn chặn tội phạm khi chúng chưa tới Việt Nam.

Tăng cường phối hợp với các nước khu vực và trên thế giới tổ chức các hội thảo về tội phạm thẻ thanh toán, thông qua đó tăng cường trao đổi, học hỏi về công tác điều tra phòng chống tội phạm thẻ thanh toán ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước như Mỹ, Singapore, Nhật, Anh, Pháp… Đồng thời cũng phải chú trọng yếu tố vật chất – kỹ thuật, đầu tư tài chính, đẩy mạnh việc hợp tác trên lĩnh vực kĩ thuật, đặc biệt là các chương trình phần mềm ứng dụng, trang thiết bị, các phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác phục vụ công tác phòng chống tội phạm thẻ thanh toán.

KẾT LUẬN

Với những tính năng thuận tiện của mình, thẻ thanh toán điện tử và thị trường thương mại điện tử ở nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung chắc chắn sẽ còn có những bước phát triển mạnh mẽ trong nhiều năm tới. Và theo xu hướng phát triển, việc sử dụng thẻ thanh toán điện tử trong giao dịch hàng ngày sẽ ngày càng phổ biến hơn, thông dụng hơn, các tính năng tích hợp trong thẻ ngày càng nhiều hơn, và sẽ dần thay thế cho việc sử dụng tiền mặt. Đi đôi với sự phát triển mạnh mẽ đó, chắc chắn loại tội phạm thẻ thanh toán điện tử cũng sẽ không ngừng gia tăng cả về số lượng, chất lượng, và mức độ thiệt hại do loại tội phạm này gây ra cũng không ngừng tăng. Những thiệt hại mà loại tội phạm này gây ra không những tác động xấu đến sự phát triển của thị trường thẻ thanh toán điện tử còn khá mới mẻ ở nước ta, mà còn ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế đang có những bước phát triển ổn định của đất nước. Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về thực trạng của tội phạm thẻ thanh toán ở Việt Nam nhằm đưa ra những đề xuất để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống loại tội phạm này là một việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Qua nghiên cứu đề tài này, tác giả đã làm rõ được thực trạng tội phạm thẻ thanh toán ở Việt Nam; những phương thức, thủ đoạn thường gặp của loại tội phạm này cũng như chỉ ra được những nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và phát triển của tội phạm thẻ thanh toán ở nước ta. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số đề xuất sau:

- Nâng cao nhận thức cho người sử dụng thẻ;

- Hoàn thiện những quy định pháp luật về tội phạm thẻ thanh toán;

- Cần nâng cao chất lượng dịch vụ, trách nhiệm của ngành ngân hàng trong giao dịch bằng thẻ thanh toán ;

- Nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm thẻ thanh toán của cơ quan Công an.

Phòng chống tội phạm thẻ thanh toán không phải là nhiệm vụ riêng của bất kỳ một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Do đó cần phải tiến hành đồng bộ tất cả các đề xuất được nêu trong đề tài trên cơ sở tình hình thực tế của Việt Nam. Những đề xuất được nêu trong đề tài, nhất là các giải pháp kỹ thuật công nghệ hiện đang được các nước, các tổ chức, nhất là các ngân hàng trên thế giới nghiên cứu ứng dụng rộng rãi trong hoạt động của mình. Đối với nước ta, việc ứng dụng những giải pháp đó vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần được giải quyết trong thời gian tới, để có thể đưa những giải pháp đó ứng dụng phù hợp vào thực tiễn, giúp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm thẻ thanh toán.



Tuy tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng do khó khăn về nguồn tài liệu tham khảo vì không có nhiều tài liệu chính thống về vấn đề này. Mặt khác, do sự hạn chế về mặt thời gian cũng như khả năng của bản thân nên đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong sẽ được sự nhận xét, đánh giá của các thầy cô giáo để đề tài có thể hoàn thiện hơn nữa. Bên cạnh đó, tác giả cũng hy vọng sẽ nhận được sự giúp đỡ để có thể mở rộng việc nghiên cứu vấn đề này, nâng lên một tầm cao hơn, góp phần nghiên cứu sâu hơn về loại tội phạm này.
: nonghocbucket -> UploadDocument server07 id1 24230 nh42986 67215
UploadDocument server07 id1 24230 nh42986 67215 -> Công nghệ rfid giới thiệu chung
UploadDocument server07 id1 24230 nh42986 67215 -> MỤc lục danh mục các chữ viết tắt 3 Danh mục bảng biểu hình vẽ 4
UploadDocument server07 id1 24230 nh42986 67215 -> LỜi nóI ĐẦu phần I tổng quan về HỆ thống thông tin quang sợI
UploadDocument server07 id1 24230 nh42986 67215 -> HỌc viện công nghệ BƯu chính viễn thông quản trị sản xuấT
UploadDocument server07 id1 24230 nh42986 67215 -> Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án: Nhà máy sản xuất hạt nhựa 3h vina của công ty tnhh 3h vina
UploadDocument server07 id1 24230 nh42986 67215 -> ĐỀ 24 thi ngày 22/9
UploadDocument server07 id1 24230 nh42986 67215 -> ĐƯỜng lối ngoại giao củA ĐẢng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dâN (1945-1954)
UploadDocument server07 id1 24230 nh42986 67215 -> Đồ án xử lý nước cấp Thiết kế hệ thống xử lý nước cho 2500 dân
UploadDocument server07 id1 24230 nh42986 67215 -> HiÖn nay gç rõng tù nhiªn ngµy cµng khan hiÕm mµ nhu cÇu sö dông gç ngµy cµng cao
UploadDocument server07 id1 24230 nh42986 67215 -> Câu 1: Những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Công sản Việt Nam


1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương