Lobo, Sói đầu đàn Currumpaw Tác giả: Ernest Thompson Seton



tải về 89.92 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu23.08.2016
Kích89.92 Kb.
Lobo, Sói đầu đàn Currumpaw
Tác giả: Ernest Thompson Seton

Người dịch: Ong trầm tĩnh


Vài nét về tác giả: Ernest Thompson Seton, tên rừng là Black Wolf (Sói Đen), sinh năm 1860 tại Anh quốc. Ông thành lập Woodcraft Indians năm 1902, sau đổi thành Woodcraft League of America, một tổ chức giáo dục thanh thiếu niên Mỹ. Năm 1906, ông gặp Baden-Powell ở Anh qua sự giới thiệu của Công tước xứ Bedford. Trong một bữa tiệc ở New York năm 1910, khi Seton giới thiệu BP là cha đẻ của Hướng đạo, BP trả lời: “Ông lầm rồi, ông Seton … Tôi có thể nói rằng ông, hay Dan Beard, là cha … có nhiều người cha. Tôi xin được nói tôi chỉ là một trong mấy ông chú thôi.” Seton cũng là chủ tịch Ủy ban sáng lập Boy Scouts of America năm 1910 (Hội Nam Hướng đạo Mỹ), Chief Scout đầu tiên của BSA, và là một trong các tác giả chính của ấn bản đầu tiên cuốn Boy Scouts Handbook (New York, 1911). Ông mất năm 1946 tại Seton Village, Santa Fe, bang New Mexico. Hiện nay Viện bảo tàng Seton được đặt trong Philmont Scout Ranch, khu trại huấn luyện sinh hoạt ngoài trời của BSA ở New Mexico.

Lobo, Sói đầu đàn Currumpaw” kể lại câu chuyện có thật trong đời Seton. Bản dịch này dựa theo nguyên tác tiếng Anh và minh hoạ của Seton, “Lobo, The King of Currumpaw”, trích trong Wild Animals I Have Known (1898), truy cập từ trang mạng The Baldwin Online Children’s Literature Project, 12/2014 (http://www.mainlesson.com/display.php?author=seton&book=wild&story=_contents).



LOBO

Sói đầu đàn Currumpaw
I
Currumpaw là vùng nuôi bò rộng mênh mông ở phía bắc tiểu bang New Mexico. Đó là vùng đất của những đồng cỏ màu mỡ, những đàn bò đàn cừu đông đúc, vùng đất của những đỉnh núi phẳng chập chùng và những dòng nước quý giá cuối cùng chảy nhập vào sông Currumpaw, tên con sông được dùng để đặt cho toàn vùng. Và tên bạo chúa thống trị toàn khu vực này là con sói xám già.

Sói già Lobo, hay tên chúa trùm, theo cách người Mễ gọi nó, là thủ lĩnh to khổng lồ của một đàn sói xám xuất sắc đã tàn phá thung lũng Currumpaw từ nhiều năm. Mọi người chăn cừu và chủ trại nuôi thú đều biết rõ nó, và khi nó cùng với đàn sói tín cẩn của nó xuất hiện ở đâu thì gia súc ở đó khiếp sợ, còn chủ nhân đành tức giận và tuyệt vọng. Sói già Lobo to khổng lồ giữa đàn sói, nó tinh ranh và khoẻ xứng với tầm vóc của nó. Ban đêm giọng nó nghe rất rõ và phân biệt dễ dàng với bất kỳ con sói nào trong đàn. Một con sói bình thường có thể tru suốt nửa đêm gần nơi dựng trại của kẻ chăn thú mà họ chỉ coi như chuyện qua đường, nhưng khi tiếng rống trầm của tên chúa tể già vang ầm xuống hẻm núi, thì người gác phải cựa quậy và chuẩn bị để sáng mai biết vụ đột nhập đáng gờm mới này đã làm gì bầy thú.

Đàn của sói già Lobo chỉ là một đàn nhỏ. Điều này tôi không bao giờ hiểu, vì một con sói khi lên tới vị trí và có sức lực như nó thường thu hút nhiều sói khác theo. Có thể nó đã có đủ số nó muốn, hay có lẽ tính hung dữ của nó đã khiến cho số sói trong đàn không tăng. Chắc chắn Lobo chỉ có năm sói theo trong lần làm trùm gần đây của nó. Tuy nhiên, chúng đều là những con sói lẫy lừng, phần lớn đều to quá khổ bình thường. Chẳng hạn con đứng thứ hai trong đàn, một con sói thật sự khổng lồ, nhưng ngay cả nó cũng nhỏ hơn và kém dũng cảm hơn đầu đàn rất nhiều. Ngoài hai con đầu đàn và thứ đàn, vài con khác trong đàn cũng rất đáng chú ý. Một con là con sói trắng đẹp, đám dân Mễ gọi nó là Blanca, họ nghĩ nó là con sói cái, chắc là bạn đời của Lobo. Một con khác màu vàng, lanh lẹ không thể tưởng, theo chuyện kể dạo này thì nó đã vài lần bắt một con hoẵng cho đàn.

Vì thế dân chăn bò và chăn cừu biết rất rõ đàn sói này. Họ hay gặp chúng, và thường nghe chúng tru hơn. Cuộc sống của chúng gắn bó mật thiết với cuộc sống của dân chăn thú, những người rất vui lòng tiêu diệt chúng. Không một ông nuôi gia súc nào ở Currumpaw mà không sẵn sàng đổi vài con bò đực để lấy bộ da đầu của bất kỳ con sói nào trong đàn Lobo, nhưng hình như chúng có bùa hộ mạng và bất chấp mọi mưu kế nào nhằm giết chúng. Chúng khinh bỉ bọn thợ săn, chế giễu mọi thứ thuốc độc, và ít nhất trong năm năm liên tiếp chúng bắt chủ trại nuôi thú ở Currumpaw nộp cống cho chúng, tới mức nhiều người nói là mỗi ngày một con bò. Vì thế, theo ước tính này thì đàn sói đã giết hơn hai ngàn con thú tốt nhất, vì ai cũng biết lần nào chúng cũng chọn con hạng nhất.

Trước kia người ta nghĩ chó sói liên tục ở trong tình trạng chết đói, vì thế nó sẵn sàng ăn bất cứ cái gì, nhưng trong trường hợp này thì điều đó hoàn toàn sai sự thật, vì bọn lục lâm này luôn bóng mượt và khoẻ mạnh, và đúng là bọn rất kén chọn thức ăn. Chúng sẽ không đụng tới con thú nào chết tự nhiên, hay chết bệnh hay hôi thối, thậm chí chúng còn chê bất kỳ thứ gì bị người chăn giết. Thức ăn chọn lọc hàng ngày của chúng là phần thịt mềm của con bê cái một tuổi vừa mới giết. Chúng chê bò đực hay bò cái già, và tuy đôi khi chúng giết một con bò non hay ngựa non, nhưng rõ ràng thịt bò non hay thịt ngựa không phải món chúng thích. Người ta cũng biết chúng không khoái thịt cừu, dù chúng hay giải trí bằng cách giết cừu. Một đêm tháng Mười Một năm 1893, Blanca và con sói vàng giết 250 con cừu, rõ ràng chỉ để chơi vui, và không ăn một miếng thịt nào.

Tôi có thể kể lại nhiều thí dụ cho thấy sự tai hại của đàn sói phá hoại này. Mỗi năm người ta thử nhiều kế mới để diệt chúng, nhưng chúng vẫn sống và lớn mạnh bất chấp mọi nỗ lực của kẻ thù. Một món tiền thưởng lớn đặt ra để lấy đầu Lobo, thế là thuốc độc được dùng dưới đủ mọi dạng tinh vi để nhử nó, nhưng nó luôn phát hiện ra và tránh khỏi. Nó chỉ sợ một thứ - đó là súng, và nó biết rất rõ rằng tất cả đàn ông trong vùng này đều mang súng, chưa ai thấy nó tấn công hay đối diện một người. Thật vậy, quy định bất biến của đàn nó là nếu ban ngày nhìn thấy người thì phải lẩn ngay, bất kể ở khoảng cách nào. Lobo có thói chỉ cho phép đàn nó ăn những gì do chính chúng giết, trong nhiều trường hợp điều này đã giúp chúng tránh tổn thất, và nó rất thính đánh hơi thấy mùi tay người hay mùi thuốc độc, vì thế chúng hoàn toàn miễn nhiễm.



Một lần một gã chăn bò nghe tiếng tru gọi bầy quá quen thuộc của sói già Lobo, gã bèn lẻn lại gần, thấy đàn Currumpaw trong vùng lòng chảo, chúng đã “quây” được một bầy nhỏ gia súc ở đó. Lobo ngồi riêng trên một gò thấp, trong khi Blanca và cả đàn đang cố sức “tách” một con bê tơ mà chúng đã chọn ra. Nhưng bầy bò đứng thành một khối chặt, đưa đầu ra thành một hàng sừng hướng tới kẻ địch, không một khe hở, ngoại trừ khi có con bê cố rút vào giữa bầy, vì sợ sói tấn công. Chỉ khi nào lợi dụng được các khe hở này thì đàn sói mới có thể gây thương tích cho con bê đã chọn, nhưng nó chưa bị què chút nào. Hình như rốt cuộc Lobo mất kiên nhẫn với những con trong đàn nó, vì nó bỏ vị trí trên gò, và tru lên một tiếng rống trầm rồi xông tới bầy thú. Hàng ngũ bầy bò khiếp sợ tan vỡ vì cú tấn công của nó, và nó lao vào giữa chúng. Khi ấy chúng văng tứ tán như những mảnh bom nổ. Nạn nhân bị chọn bỏ trốn, nhưng Lobo đã vồ nó trước khi nó kịp chạy hai mươi lăm thước. Nó cắn cổ con bê, dùng hết sức ghì sững lại và vật nó ngã huỵch xuống. Cú đụng chạm chắc hẳn là ghê gớm, vì con bê cái ngã chổng vó. Lobo cũng lộn nhào, nhưng đứng lên lập tức, và đàn của nó ào lên con bê khốn khổ, giết nó trong vài giây. Lobo không dự phần giết chóc - sau khi vật ngã nạn nhân, có vẻ như nó nói: “Nào, tại sao không đứa nào làm được như vậy ngay lập tức để khỏi phí quá nhiều thời giờ?”

Lobo chỉ cho đàn sói cách giết bò


Gã chăn bò bấy giờ phi ngựa tới la hét, đàn sói rút lui như thông lệ. Nhân có chai thuốc độc mã tiền, gã liền tẩm lên xác chết ở ba chỗ, rồi bỏ đi, biết chúng sẽ trở lại ăn, vì chính chúng đã giết con thú. Nhưng sáng hôm sau ra tìm nạn nhân của mình, gã thấy dù đàn sói ăn thịt con bê cái, nhưng chúng đã cẩn thận xé ra hết những chỗ bị dính thuốc độc và vứt qua một bên.

Đám chủ trại gia súc mỗi năm mỗi khiếp hãi con sói to lớn này, và mỗi năm giải thưởng lấy đầu nó mỗi lớn hơn, cuối cùng lên tới 1.000 đô la, một phần thưởng giết sói chắc chắn chưa hề có; đầu của nhiều người còn được treo giá thấp hơn. Vì món tiền thưởng hứa hẹn lôi cuốn, một tay cảnh sát biệt động ở Texas tên Tannerey một hôm phi ngựa lên hẻm núi Currumpaw. Hắn có đồ nghề thượng hảo hạng để săn sói - ngựa và súng tốt nhất, và đàn chó khổng lồ chuyên săn sói. Hắn và đàn chó của hắn đã giết nhiều sói trên khắp các cánh đồng vùng Panhandle bên Texas, bây giờ hắn tin chắc rằng trong vài ngày nữa bộ da đầu của sói già Lobo sẽ treo lủng lẳng trước yên ngựa của hắn.



Họ hùng hổ lên đường đi săn vào một sáng sớm mùa hè mờ xám, chẳng bao lâu bầy chó to lớn mừng rỡ sủa vang để nói rằng chúng đã thấy dấu con mồi. Đàn Currumpaw lốm đốm xám hiện ra trong vòng hai dặm, cuộc rượt đuổi tiến nhanh và dữ dội. Phần việc của bầy chó săn chỉ là dồn các con sói vào đường cùng, chờ tới khi thợ săn cưỡi ngựa đến bắn, và điều này thường dễ thực hiện trên các bình nguyên trống trải ở Texas. Nhưng vùng đất nơi đây có đặc điểm khác, cho thấy Lobo đã khéo chọn khu vực của nó, vì ở Currumpaw các hẻm núi đá và nhánh sông chằng chịt cắt ngang thảo nguyên từ mọi ngả. Con sói già lập tức tới ngả gần nhất rồi băng qua để bỏ rơi bọn cưỡi ngựa. Sau đó đàn của nó phân tán, vì thế làm phân tán bầy chó, và khi đàn sói tập hợp lại ở một điểm xa thì tất nhiên bầy chó chưa lên đủ. Đàn sói không còn bị số đông áp đảo nữa, chúng quay lại tấn công và giết hoặc làm bị thương nặng cả bầy chó đuổi theo chúng. Tối hôm ấy Tannerey tập họp lại bầy chó của hắn, chỉ có sáu con trở về, và hai con trong số đó bị cắn xé dễ sợ. Tay thợ săn này thử hai lần nữa để cố lấy mảnh da đầu con sói vua chúa này, nhưng không khi nào khá hơn lần đầu, và lần cuối cùng con ngựa giỏi nhất của hắn ngã chết, vì thế hắn căm phẫn bỏ cuộc săn và trở về Texas, để yên cho Lobo hơn bao giờ hết lại làm bạo chúa trong vùng.

Tannery với bầy chó của hắn phi lên hẻm núi


Năm sau, hai gã thợ săn khác xuất hiện, nhất quyết đoạt phần thưởng đã hứa. Cả hai tin rằng mình có thể giết con sói lẫy lừng này. Một gã dùng một loại thuốc độc mới chế và rải thuốc theo một kiểu hoàn toàn mới; gã kia người Gia Nã Đại gốc Pháp dùng thuốc độc kèm với thần chú và bùa ngải, vì hắn tin chắc rằng Lobo đúng là “ma sói” không thể giết bằng những cách thông thường. Nhưng các loại thuốc độc pha chế tinh quái, các loại bùa ngải và thần chú đều vô dụng đối với kẻ phá hoại già dặn này. Mỗi tuần nó làm một cuộc bố ráp, mỗi ngày nó vẫn ăn uống linh đình như trước, và chỉ vài tuần Calone cũng như Laloche đành thất vọng bỏ cuộc và đi săn nơi khác.

Mùa xuân 1893, sau khi không bắt được Lobo, Joe Calone lại có một kinh nghiệm nhục nhã hình như cho thấy rằng con sói to lớn này hoàn toàn khinh bỉ kẻ thù, và nó tuyệt đối tự tin. Nông trại của Calone nằm trên một nhánh nhỏ của dòng Currumpaw, trong một hẻm núi đẹp như tranh. Mùa xuân năm đó sói già Lobo và bạn đời của nó chọn làm ổ và nuôi con ngay giữa hẻm núi đá này, cách nhà Joe một cây số. Chúng sống ở đó hết mùa hè, giết bò, cừu và chó của Joe, nhưng chế nhạo mọi thứ thuốc độc và bẫy của hắn, và nghỉ ngơi thoải mái trong hốc sâu ở các vách đá lỗ chỗ hang động, trong khi Joe cố moi óc nghĩ cách xông khói chúng ra, hay nổ mìn chúng. Nhưng chúng hoàn toàn vô sự, và tiếp tục phá hoại như trước. Joe chỉ mặt vách đá và nói: “Nó sống ở đó suốt mùa hè vừa rồi, còn tôi chẳng làm gì được nó. Tôi tựa như một thằng ngố đối với nó”.
II
Tôi thấy khó tin câu chuyện do đám chăn bò kể lại, cho đến mùa thu 1893, khi tôi tìm hiểu về kẻ cướp quỷ quyệt này, để rồi rốt cuộc tôi biết nó rõ hơn bất kỳ ai khác. Nhiều năm trước, hồi còn con chó Bingo, tôi đã là thợ săn sói, nhưng sau đó tôi chuyển sang loại nghề trói tôi vào bàn giấy. Tôi rất muốn thay đổi, vì thế khi một người bạn cũng là chủ trang trại ở Currumpaw mời tôi đến New Mexico để thử xem có thể làm gì được với đàn sói cướp bóc này, tôi nhận lời mời, nôn nóng muốn biết con đầu đàn của chúng, và lập tức đến các đỉnh núi phẳng lì ở vùng ấy. Tôi cưỡi ngựa đi xem xét để biết vùng đất, và chốc chốc người dẫn đường của tôi chỉ một bộ xương bò vẫn còn dính da và bình phẩm: “Nó làm đó”.

Dần dần tôi thấy rõ rằng dùng chó săn và ngựa để đuổi theo Lobo trên vùng đất lởm chởm này là vô ích, vì thế thuốc độc hay bẫy là cách duy nhất. Hiện thời chúng tôi không có chiếc bẫy nào đủ lớn, vì thế tôi lập tức dùng thuốc độc.



Tôi chẳng cần kể chi tiết hàng trăm mưu chước mà tôi đã dùng để lừa con “ma sói” này. Không một hỗn hợp mã tiền, thạch tín, muối độc hay axít độc nào mà tôi không thử. Không một thứ thịt nào mà tôi không dùng làm mồi. Nhưng ngày này sang ngày khác, tôi cưỡi ngựa đi xem kết quả để thấy rằng mọi cố gắng của mình đều vô hiệu. Con sói già chúa tể này quá tinh quái đối với tôi. Một thí dụ cho thấy sự khôn ngoan kỳ diệu của nó như sau. Nhờ một ông cụ bẫy thú gợi ý, tôi nấu chảy phó mát với mỡ cật của con bê cái vừa mới giết, hầm trong một đĩa sứ, và dùng dao bằng xương để cắt cho khỏi có mùi kim loại. Khi món hầm nguội lại, tôi cắt nó thành từng tảng, moi một lỗ bên hông mỗi tảng, nhét vào đó một lượng lớn mã tiền và muối độc chứa trong cái bọc con nhộng kín hơi không để có mùi thoát ra. Cuối cùng tôi bịt các lỗ lại cũng bằng những mẩu phó mát. Trong lúc làm, tôi đeo đôi găng nhúng trong máu còn nóng của con bê cái, và thậm chí tránh thở vào miếng mồi. Khi mọi việc xong xuôi, tôi bỏ hết vào cái túi da sống đã bôi máu cùng khắp, rồi cưỡi ngựa kéo lê gan và cật của con bê ở cuối sợi dây thừng. Tôi đi một vòng mười dặm, cứ một phần tư dặm lại bỏ một miếng mồi, cực kỳ cẩn thận không bao giờ đụng tay tới mồi.

Theo lệ thường, Lobo tới khu này lúc đầu tuần, và người ta tin là trong tuần nó ở gần chân núi Sierra Grande. Hôm ấy là thứ Hai, và chập tối cùng ngày, lúc chúng tôi sắp đi ngủ, tôi nghe tiếng rống trầm sâu của ngài chúa tể. Nghe thấy thế, một anh nhân công bình phẩm cụt lủn: “Nó đó, rồi mình sẽ thấy”.

Sáng hôm sau tôi ra, nôn nóng muốn biết kết quả. Chẳng mấy chốc tôi gặp dấu chân còn mới của bọn cướp, với Lobo dẫn đầu - dấu của nó luôn luôn dễ phân biệt. Bàn chân trước của một con sói bình thường là 11 cm, sói lớn thì 12 cm, nhưng dấu của Lobo nhiều lần đo được là 14 cm từ móng tới gót. Về sau tôi biết cơ thể nó cũng lớn tương xứng, vai nó cao 9 tấc, và nó nặng 70 ký. Vì thế dấu chân của nó không hề khó nhận ra, dù bị vết chân của những con đi theo nó làm nhòa đi. Đàn sói đã tìm thấy ngay vết kéo mồi của tôi, và như thông lệ chúng đi theo. Tôi có thể thấy Lobo đã tới miếng mồi đầu tiên, ngửi, rồi cuối cùng cắn mồi lên.

Khi ấy tôi không giấu được vẻ vui mừng của mình. Tôi thốt lên: “Rốt cuộc mình cũng tóm được nó. Mình sẽ thấy nó chết ngay đơ trong vòng một dặm”. Tôi phi ngựa đi, mắt nôn nóng dán chặt vào dấu chân to lớn dưới đất. Vết chân dẫn tôi tới miếng mồi thứ hai, mồi cũng mất. Tôi thật đắc chí - bây giờ tôi cầm chắc là đã diệt được nó và có lẽ vài con nữa trong đàn. Nhưng vết móng lớn vẫn còn kéo lê, và tuy tôi đứng trên bàn đạp yên ngựa để đảo mắt nhìn cánh đồng, tôi không thấy cái gì giống như một con sói chết. Tôi lại theo dấu - lại thấy mất miếng mồi thứ ba - và vết chân con sói chúa trùm dẫn tới miếng mồi thứ tư, tới đó tôi mới biết thật ra nó đã không mắc mồi, mà chỉ dùng miệng cắn mồi đem đi. Rồi sau khi chất ba miếng mồi lên miếng thứ tư, nó đái lên đó để tỏ ra khinh bỉ cùng cực mưu kế của tôi. Sau đó nó bỏ vết kéo mồi của tôi để đi lo việc của nó với đàn sói mà nó đã bảo vệ rất hiệu quả.

Đó chỉ là một trong rất nhiều kinh nghiệm tương tự khiến tôi tin là thuốc độc không bao giờ hữu hiệu để diệt kẻ cướp này, dù tôi tiếp tục dùng độc dược trong khi chờ bẫy tới, chỉ vì trong khi chờ đợi đó là cách chắc chắn để giết lũ sói đồng và các loài chuột bọ phá hoại.

Trong khoảng thời gian này, tôi tình cờ biết được một việc chứng tỏ sự tinh ranh quỷ quái của Lobo. Đàn sói này có ít nhất một lần rượt đuổi chỉ để giải trí, làm cho cừu chạy tán loạn đạp nhau mà chết, dù chúng ít khi ăn thịt cừu. Cừu thường được nuôi thành đàn từ một ngàn tới ba ngàn con, do một hay nhiều người chăn. Ban đêm họ gom cừu vào chỗ nào được che chắn tốt nhất, và người chăn ngủ bên ngoài đàn cừu để bảo vệ thêm. Cừu là loài thú khờ dại tới nỗi chúng có thể xô đẩy đạp lên nhau chỉ vì một chuyện rất nhỏ. Chúng có một nhược điểm khắc sâu trong bản năng, có lẽ là nhược điểm duy nhất, đó là cứ theo sau con đầu đàn của chúng. Và người chăn lợi dụng điểm này để đưa năm sáu con dê vào đàn cừu. Cừu thừa nhận trí thông minh thượng hạng của loài anh em có râu của mình, và ban đêm khi có báo động chúng sẽ vây quanh mấy con dê, vì thế thường không xảy ra xô đẩy tán loạn và dễ bảo vệ. Nhưng không phải luôn luôn như thế.



Một đêm khuya cuối tháng Mười Một vừa qua, hai anh chăn cừu gốc Nam Mỹ thức giấc vì bầy sói tấn công. Đàn thú của họ xúm quanh mấy con dê. Lũ dê không khờ dại cũng không nhút nhát, chúng đứng yên tại chỗ và gan dạ cố thủ. Nhưng hỡi ơi cho chúng, dẫn đầu cuộc tấn công này không phải là con sói bình thường. Sói già Lobo, ma sói, biết rõ như người chăn cừu rằng lũ dê là sức mạnh tinh thần của đàn, vì thế nó lập tức chạy trên lưng đàn cừu nêm chặt, tới tấn công bọn đầu đàn này, giết hết chúng trong vài phút, và chẳng mấy chốc đàn cừu bất hạnh xô đẩy nhau chạy khắp bốn phương tám hướng. Nhiều tuần sau đó, hầu như ngày nào tôi cũng bị dân chăn cừu lo lắng đến bắt chuyện: “Dạo này ông có thấy con cừu lạc nào không?” và tôi thường cảm thấy phải nói mình có thấy; bữa thì: “Có, tôi tình cờ gặp năm sáu xác gần suối Diamond”; bữa khác tôi nói như thể đã gặp một “nhóm” nhỏ chạy trên đỉnh Malpai; hay lại nói: “Không, nhưng Juan Meira thấy khoảng hai chục con mới bị giết trên núi Cedra hai bữa trước”.

Cuối cùng bẫy sói tới, tôi với hai người nữa làm việc suốt một tuần để chuẩn bị bẫy cho đúng cách. Chúng tôi không nề hà nặng nhọc, tôi dùng mọi kế có thể nghĩ ra để bảo đảm thành công. Ngày thứ hai sau khi cài bẫy, tôi cưỡi ngựa đi xem xét, và gặp ngay dấu chân Lobo chạy từ bẫy này tới bẫy khác. Tôi có thể đọc được trên mặt đất toàn bộ chuyện nó làm tối hôm ấy. Nó đã chạy lững thững trong bóng đêm, và dù bẫy được giấu rất cẩn thận, nó lập tức phát hiện ra chiếc bẫy đầu tiên. Nó không cho đàn tiến tới, và cẩn thận bới chung quanh đến khi lộ ra cái bẫy, sợi xích và khúc gỗ, rồi để tất cả nằm lộ liễu với chiếc bẫy chưa sập, và nó tiếp tục làm y như thế với một chục chiếc bẫy khác.

Dần dần tôi nhận thấy mỗi khi phát hiện có dấu hiệu đáng ngờ trên lối đi, nó sẽ dừng lại rồi xoay ngang, vì thế tôi lập tức nghĩ ra một kế mới để lừa nó. Tôi đặt bẫy theo hình chữ H, nghĩa là đặt hai hàng bẫy hai bên lối mòn, và một chiếc bẫy ngang lối mòn làm thành gạch nối của chữ H. Chẳng mấy chốc tôi có cơ hội nếm thêm một thất bại nữa. Lobo chạy lon ton trên lối mòn, tới ngay giữa hai hàng bẫy song song trước khi nó kịp phát hiện ra chiếc bẫy đơn độc nằm chắn lối, nhưng nó dừng lại đúng lúc, tôi không hiểu tại sao hay làm sao nó biết, Thiên thần của hoang dã chắc hẳn đã phù hộ nó. Nó không xoay sang bên phải hay bên trái, mà từ từ và thận trọng lùi lại theo dấu chân của chính nó, đặt móng đúng vào vết cũ cho tới khi ra khỏi chỗ nguy hiểm. Sau đó nó trở lại một bên lối mòn, dùng chân sau cào đất đá cho tới khi làm bật hết các bẫy. Nó làm như vậy nhiều lần khác, và tuy tôi đổi phương pháp và cẩn thận hơn nhiều, nhưng nó chẳng bao giờ bị lừa, trí thông minh của nó hình như không bao giờ sai lầm, và đáng lẽ nó có thể tiếp tục sự nghiệp cướp phá cho tới ngày nay, nhưng tính thủy chung không đúng chỗ đã giết nó và đưa tên tuổi nó vào bản danh sách dài những kẻ anh hùng, họ vô địch khi một mình, nhưng gục ngã vì sự bất cẩn của bạn đồng hành tin cậy.


Lobo phơi bày cái bẫy


III
Một hai lần, tôi thấy có những biểu hiện là mọi việc không hẳn đúng lắm trong đàn sói Currumpaw. Tôi nghĩ có những dấu hiệu không bình thường. Chẳng hạn rõ ràng nhiều lần có dấu chân của một con sói nhỏ hơn chạy trước con đầu đàn, và tôi không hiểu tại sao cho tới khi lời bình phẩm của một anh chăn bò làm sáng tỏ sự việc.

Anh ta nói: “Hôm nay tôi gặp tụi nó, con Blanca lộn xộn chạy trước”. Khi ấy tôi chợt hiểu, và tôi nói thêm: “Bây giờ tôi biết Blanca là con sói cái, vì nếu một con đực mà làm như thế thì Lobo sẽ giết nó lập tức”.


Lobo và Blanca


Điều này đưa tới một kế mới. Tôi giết một con bê cái, rồi đặt khá lộ liễu một hai chiếc bẫy gần xác. Sau đó cắt đầu, một thứ coi như vô dụng vứt đi và sói hoàn toàn không chú ý tới, tôi đặt cái đầu hơi xa ra, rồi cài xung quanh đó sáu cái bẫy thép cứng được khử mùi kỹ lưỡng và giấu cực kỳ cẩn thận. Trong lúc đặt bẫy, hai tay, giày ủng và đồ dùng của tôi được bôi máu tươi, sau đó tôi rắc máu lên mặt đất, như thể máu chảy từ đầu ra. Khi đã chôn xong các chiếc bẫy, tôi lấy da chó rừng quét hết chỗ đó, và dùng bàn chân cũng của con chó rừng này in một số dấu trên bẫy. Cái đầu được đặt sao cho giữa nó và mấy bụi cỏ chỉ có một lối đi hẹp, trên lối đi này tôi chôn hai chiếc bẫy tốt nhất của mình, buộc chặt vào cái đầu.

Loài sói có thói tiến lại gần từng cái xác mà chúng đánh hơi thấy, để xem xét, ngay cả khi chúng không định ăn, và tôi hy vọng thói quen này sẽ khiến đàn Currumpaw mắc vào mưu cuối cùng của tôi. Tôi biết chắc Lobo sẽ phát hiện ra tay tôi trên miếng thịt, và nó sẽ không cho đàn tiến lại gần, nhưng tôi thật sự hy vọng ở cái đầu, vì nó có vẻ như đã bị vứt qua một bên vì vô dụng.

Sáng hôm sau, tôi xông ra xem bẫy, và mừng làm sao! Có dấu chân đàn sói, và không thấy cái đầu bò với mấy cái bẫy cột vào nó. Xem vội dấu vết cho thấy Lobo đã không cho đàn tiến lại gần miếng thịt, nhưng rõ ràng một con sói nhỏ đã đi tới dò xét cái đầu nằm tách riêng và đã bước ngay vào một trong mấy cái bẫy.



Chúng tôi đi theo dấu, và chưa tới một dặm thì thấy con sói khốn khổ chính là Blanca. Nhưng nó phóng đi, và tuy vướng cái đầu bò nặng trên hai mươi lăm ký, nó nhanh chóng bỏ xa người đồng hành của tôi đang đi bộ. Nhưng chúng tôi bắt kịp nó khi nó đến núi đá, vì cặp sừng bò bị vướng và giữ chặt nó lại. Nó là con sói đẹp nhất mà tôi từng thấy. Bộ lông của nó trong tình trạng hoàn hảo và gần như trắng.

Nó quay sang chống cự, và cất tiếng gọi đồng loại, tru một tiếng dài dồn dập qua hẻm núi. Từ mặt núi đỉnh bằng tít xa vọng lại lời đáp trầm, tiếng của sói già Lobo. Đó là tiếng gọi cuối cùng của Blanca, vì bây giờ chúng tôi đã tới gần nó, và tất cả sinh lực cùng hơi thở của nó sẽ được dùng để chiến đấu.

Rồi thảm kịch không thể tránh khỏi phải đến, lúc đó tôi không chùn tay mà sau này mới nghĩ lại. Hai chúng tôi ném thòng lọng lên cổ con sói tới số, ghì kéo ngựa ở hai hướng đối nghịch cho tới khi máu phun ra miệng nó, mắt nó đờ đẫn, chân nó cứng đơ rồi khuỵu xuống. Sau đó chúng tôi cưỡi ngựa về, mang theo con sói chết, đắc chí về đòn trí mạng đầu tiên mà chúng tôi đã có thể giáng lên đàn sói Currumpaw.

Nhiều lần trong suốt thảm kịch ấy, và khi cưỡi ngựa về, chúng tôi nghe tiếng Lobo rống khi nó loanh quanh trên đỉnh núi bằng ngoài xa, hình như nó đang tìm Blanca ở đó. Nó không hề bỏ rơi Blanca, nhưng nó biết nó không thể cứu bạn, và nỗi sợ súng đạn khắc sâu trong lòng khiến nó phải lánh đi khi thấy chúng tôi tiến lại gần. Suốt hôm ấy chúng tôi nghe nó vừa kêu gào vừa tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng tôi nói với một anh nhân công: “Bây giờ tôi thật sự biết Blanca là bạn đời của nó”.

Khi chiều tà, hình như nó tiến tới hẻm núi nhà, vì giọng nó nghe càng lúc càng gần hơn. Tiếng kêu của nó bây giờ hiện rõ vẻ đau buồn. Nó không còn là tiếng tru lớn và thách thức nữa, mà dường như là tiếng than vãn xót xa kéo dài: “Blanca! Blanca!” Khi đêm xuống, tôi nhận thấy nó không cách xa chỗ chúng tôi đã bắt kịp con sói cái. Cuối cùng hình như nó tìm thấy dấu, và khi nó tới chỗ chúng tôi đã giết con sói cái, tiếng than vãn đau lòng của nó nghe thảm thương. Buồn thảm hơn là tôi có thể tưởng. Thậm chí đám dân chăn bò chai đá cũng nhận ra, họ nói “trước kia chưa bao giờ nghe một con sói có thái độ kỳ lạ như thế”. Nó hình như biết chính xác chuyện gì xảy ra, vì máu của con sói cái đã vấy bẩn chỗ chết.



Rồi nó thấy dấu ngựa và dõi theo tới căn nhà trong trang trại. Tôi không rõ nó hy vọng tìm thấy con sói cái ở đó, hay muốn trả thù, nhưng nó đã trả thù, vì nó đánh úp con chó kém may mắn của chúng tôi đang canh gác bên ngoài và cắn xé nó tơi tả cách cửa nhà năm mươi thước. Hẳn nhiên lần này nó đến một mình, vì sáng hôm sau tôi chỉ thấy một dấu chân, và nó đã liều lĩnh chạy quanh không như thói thường của nó. Tôi đã hơi đoán được điều này, và đã đặt thêm một số bẫy gần đồng cỏ. Sau đó tôi thấy quả thật nó đã rơi vào một trong các bẫy này, nhưng với sức mạnh của nó, nó đã tự xé mình thoát ra rồi bỏ đi.

Tôi tin rằng nó sẽ tiếp tục lai vãng trong vùng lân cận, ít nhất là cho tới khi nó tìm thấy xác con sói cái, vì thế tôi tập trung toàn lực trong việc bắt nó trước khi nó rời khu vực, và khi nó còn đang ở trạng thái liều lĩnh này. Khi ấy tôi nhận thấy mình đã sai lầm khi giết Blanca, vì nếu dùng Blanca như con mồi thì tôi đã có thể bắt được nó tối hôm sau.

Tôi gom tất cả bẫy mà tôi có thể sử dụng, một trăm ba mươi chiếc bẫy sói làm bằng thép cứng, và đặt một bộ bốn cái trên mỗi lối mòn dẫn tới hẻm núi, mỗi chiếc bẫy buộc chặt vào một khúc gỗ riêng, mỗi khúc gỗ được chôn riêng. Khi chôn, tôi cẩn thận xúc đi lớp đất mặt, và chúng tôi gom hết đất cát đã đào vào cái chăn, để sau khi lấp lại lớp đất mặt và hoàn tất mọi việc thì mắt không thể phát hiện dấu vết của bàn tay người làm. Khi giấu xong bẫy, tôi kéo lê xác của con Blanca đáng thương trên mỗi chỗ, rồi kéo một vòng hết chu vi trang trại, cuối cùng tôi cắt một bàn chân của nó để làm một hàng dấu chân trên mỗi chỗ đặt bẫy. Tôi dùng hết mọi cách đề phòng và mưu mẹo mà tôi biết, rồi đến khuya mới về nghỉ để đợi kết quả.

Trong đêm có một lần tôi nghĩ mình nghe tiếng sói già Lobo, nhưng không chắc. Hôm sau tôi cưỡi ngựa đi một vòng, nhưng trời tối trước khi tôi kịp dò xét xong hẻm núi phía bắc, và tôi chẳng có gì để báo cáo. Lúc ăn tối một anh chăn bò nói: “Sáng nay đàn bò ở hẻm núi phía bắc ồn ào lắm, có lẽ mấy cái bẫy ở đó có gì”. Tới chiều hôm sau tôi mới đến được chỗ đó, khi tôi lại gần thì một hình dáng xám khổng lồ trồi lên khỏi mặt đất, cố trốn mà không được, và đứng trước mặt tôi là Lobo, chúa tể vùng Currumpaw, bị bẫy giữ chặt. Con sói lừng lẫy tội nghiệp, nó không hề ngưng tìm kiếm bạn đời của nó, và khi tìm thấy dấu kéo xác Blanco, nó khinh suất theo sau, vì thế rơi vào cái bẫy giăng sẵn cho nó. Nó nằm trong gọng sắt của cả bốn chiếc bẫy, hoàn toàn bất lực, và khắp xung quanh có rất nhiều dấu vết cho thấy đàn gia súc đã tập họp lại gần để làm nhục kẻ bạo chúa rơi đài, nhưng vẫn không dám tới gần tầm với của nó. Nó đã nằm đó hai ngày hai đêm, và đang kiệt sức vì vùng vẫy. Nhưng khi tôi lại gần, nó đứng lên, lông cổ dựng đứng và cất tiếng tru, lần cuối cùng tiếng rống trầm sâu của nó vang dội hẻm núi, một tiếng kêu cứu, tiếng gọi họp đàn của nó. Nhưng không có tiếng đáp lại, và bị bỏ một mình ở bước đường cùng, nó quay cuồng bằng tất cả sức lực, và tuyệt vọng cố xông tới tôi. Tất cả đều vô ích, mỗi chiếc bẫy là một cái bập chí tử hơn một trăm rưởi ký, hàm thép lớn cắn chặt không thương xót vào mỗi chân ở bốn góc, và khúc gỗ nặng với những sợi xích rối vào nhau, nó hoàn toàn bất lực. Những chiếc răng nanh khổng lồ của nó đã nghiến trên mấy sợi xích tàn bạo này, và khi tôi mạo hiểm dùng nòng súng trường đụng nó, nó cắn xước nòng, vết xước còn đó cho tới ngày nay. Khi nó cố gắng một cách vô hiệu để nhào tới tôi và con ngựa run lẩy bẩy của tôi, mắt nó lấp lánh xanh với vẻ căm ghét và cuồng nộ, hàm nó đớp thành tiếng “cốp” cộc lốc. Nhưng nó kiệt sức vì đói và vùng vẫy và mất máu, chẳng bao lâu nó lả xuống.

Trong tôi như tràn ngập niềm ân hận, tôi sửa soạn trả lại cho nó điều mà bao nhiêu con thú đã trải qua dưới móng vuốt nó.

“Kẻ vĩ đại sống ngoài vòng pháp luật, kẻ lừng lẫy trong hàng ngàn vụ cướp phá vô luật lệ, trong vài phút nữa mày sẽ chỉ là một đống xác lớn. Không thể có cách nào khác”. Rồi tôi tung dây thòng lọng vút trên đầu nó. Nhưng đâu dễ được ngay, nó còn lâu mới chịu khuất phục, trước khi sợi dây mềm rơi trên cổ nó, nó đớp lấy mối thòng lọng, cắn mạnh một cái cắt ngang các tao dây to cứng, sợi dây đứt đôi dưới chân nó.

Dĩ nhiên cùng lắm thì tôi có thể dùng súng, nhưng tôi không muốn làm hỏng bộ da lộng lẫy của nó, vì thế tôi phi ngựa về trại và trở lại với một anh chăn bò và sợi dây thòng lọng mới. Chúng tôi ném một que củi tới nạn nhân của mình, nó đớp lấy, và trước khi nó kịp nhả ra thì dây thòng lọng của chúng tôi đã vút lên không trung và thắt chặt cổ nó.

Nhưng trước khi cặp mắt dữ tợn của nó mất thần, tôi kêu lên: “Khoan, mình đừng giết nó. Mình bắt sống nó về trại”. Bây giờ nó hoàn toàn bất lực tới nỗi dễ dàng nhét một que gỗ lớn qua miệng nó, phía sau răng nanh, rồi buộc hàm nó lại bằng sợi dây chắc và cột dây vào que gỗ. Que gỗ giữ sợi dây nằm tại chỗ, và sợi dây giữ que gỗ trong miệng, vì thế con sói vô hại. Khi cảm thấy hàm bị buộc, nó không chống cự nữa, không bật lên tiếng kêu nào, nhưng bình thản nhìn chúng tôi và dường như nói: “Ồ, rốt cuộc các ngươi đã bắt được ta, thế thì muốn làm gì ta thì làm”. Từ đó về sau nó không còn chú ý đến chúng tôi.

Chúng tôi trói chặt chân nó, nhưng nó không hề rên rỉ, không gầm gừ, cũng không quay đầu. Rồi cả hai chúng tôi dùng hết sức khiêng nó lên con ngựa của tôi. Nó thở đều như đang ngủ, và mắt nó lại sáng trong, nhưng không nhìn chúng tôi. Đôi mắt nhìn dán vào những mặt núi bằng chập chùng xa xa, vương quốc cũ của nó, nơi đàn sói lừng danh của nó lúc này đã tan rã. Và nó nhìn đăm đăm cho tới khi con ngựa xuống lối mòn vào hẻm núi, và vách đá chắn ngang tầm nhìn.

Chúng tôi đi chậm để an toàn về tới trang trại. Sau khi xích nó cẩn thận bằng vòng cổ và một sợi xích lớn, chúng tôi buộc nó vào cọc trên đồng cỏ rồi tháo các sợi dây thừng. Khi ấy lần đầu tiên tôi có thể xem xét kỹ nó, và thấy tin đồn nhảm nhí về một anh hùng hay bạo chúa hiện đang sống thường là không đáng tin. Nó không có một vòng vàng quanh cổ, và hai vai nó cũng không có hình thánh giá lộn ngược để nói là nó đã liên kết với quỷ sứ. Nhưng tôi thấy một bên hông có vết sẹo lớn, truyền thuyết nói là dấu nanh của Juno, con chó săn sói đầu đàn của Tannerey - vết sẹo nó đã cắn Lobo tích tắc trước khi bị Lobo cho nằm chết sóng soài trên cát ở hẻm núi.

Tôi để thịt và nước bên cạnh nó, nhưng nó không thèm chú ý. Nó bình thản nằm phủ phục, cặp mắt vàng nhìn đăm đăm không chớp về nơi xa xăm phía sau tôi xuống ngõ vào hẻm núi, qua các cánh đồng rộng mở - các cánh đồng của nó - cũng không động đậy bắp thịt lúc tôi đụng nó. Khi mặt trời lặn, nó vẫn đăm đăm dán mắt qua bên kia đồng cỏ. Tôi ngỡ nó sẽ gọi đàn của nó khi đêm xuống, và tôi chuẩn bị đón chúng, nhưng nó đã gọi một lần lúc đường cùng, và không con sói nào đến. Nó sẽ không bao giờ gọi nữa.

Người ta nói: một con sư tử bị tước mất sức mạnh, một con đại bàng bị cướp đi tự do, hay một con bồ câu bị lấy mất bạn đời, chúng sẽ chết vì đau khổ. Ai dám cả quyết rằng tên cướp dữ tợn này có thể mang nổi cùng một lúc cả ba cú giáng ấy, với cả tấm lòng? Tôi chỉ biết một điều là khi bình minh ló dạng, nó vẫn nằm đó trong tư thế bình thản, nhưng linh hồn nó đã lìa khỏi xác – con sói già chúa tể đã chết.

Tôi gỡ sợi xích khỏi cổ nó, một anh chăn bò giúp tôi khiêng nó vào lán, nơi đặt xác Blanca, và khi chúng tôi đặt nó bên cạnh con sói cái, anh chăn bò thốt lên: “Nào, mày sẽ đến với nó, bây giờ tụi mày lại ở bên nhau”.



: sites -> default -> files
files -> BÁo cáo quy hoạch vùng sản xuất vải an toàn tỉnh bắc giang đẾn năM 2020 (Thuộc dự án nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học ) Cơ quan chủ trì
files -> Mẫu tkn1 CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
files -> CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc ĐĂng ký thất nghiệP
files -> BỘ TÀi chính —— Số: 25/2015/tt-btc cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
files -> CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc TỜ khai của ngưỜi hưỞng trợ CẤP
files -> BỘ giáo dục và ĐÀo tạO –––– Số: 40
files -> BỘ y tế CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập – Tự do – Hạnh phúc
files -> Mẫu số 1: Ban hành kèm theo Thông tư số 19/2003/tt-blđtbxh ngày 22 tháng 9 năm 2003 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Tên đơn vị Số V/v Đăng ký nội quy lao động CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
files -> CỦa bộ XÂy dựng số 04/2008/QĐ-bxd ngàY 03 tháng 4 NĂM 2008 VỀ việc ban hành “quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựNG”




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương