LỜi giới thiệU



tải về 0.61 Mb.
trang4/6
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.61 Mb.
1   2   3   4   5   6

2.2. TRUNG QUỐC

Đã có những bằng chứng cho thấy nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng cao đã gây ra những tác động đối với các vùng ven biển Trung Quốc, gồm gia tăng xói lở, suy thoái các hệ sinh thái, tăng nhiễm mặn, tần suất và cường độ bão. Những tác động này khác nhau ở từng khu vực, tuỳ thuộc vào các điều kiện vật lý, sinh thái, kinh tế xã hội của từng địa phương. Các hoạt động của con người ở vùng ven biển cũng góp phần làm gia tăng những ảnh hưởng này.



Dọc bờ biển Trung Quốc có 14 đơn vị hành chính, trong đó có 8 tỉnh, 2 thành phố lớn (Thượng Hải và Thiên Tân), hai khu hành chính đặc biệt (Hồng Kông và Ma Cao) với tổng diện tích khoảng 1,6x106km2, chiếm 16,8% tổng diện tích lãnh thổ Trung Quốc, nhưng tập trung tới 41,9% dân số và đóng góp 72,5% GDP. Dải ven biển phía Đông này chính là khu vực tập trung dân cư và kinh tế phát triển năng động nhất. Tuy nhiên, các vùng châu thổ thấp và đồng bằng ven biển này lại được đánh giá là khu vực dễ bị tổn thương nhất do nóng lên toàn cầu và nước biển dâng. Dự báo trong tương lai nóng lên toàn cầu và nước biển dâng sẽ tiếp diễn và gia tăng, kèm theo những thảm họa do bão và mưa lớn. Trong thời gian gần đây, phát triển kinh tế nhanh chóng diễn ra đồng thời với việc thu hút số đông dân cư đổ về các vùng duyên hải và đô thị hóa đã gây ra sức ép ngày càng lớn đến tài nguyên vùng ven biển ở Trung Quốc. Các hoạt động của con người tăng lên làm cho những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và mực nước dâng trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn (Bảng 6).
Bảng 6. Số liệu thống kê 14 đơn vị hành chính ven biển ở Trung Quốc





Đất liền

Đảo

Tổng số

% tổng số

Diện tích(106 km2)

1.248

0.36

1.608

16,75

Dân số (106)

498,5

29,1

527,6

41,9

Mật độ dân số (người/km2)

 

 

321,6

 

GDP (109 USD)

596,83

438,33

1.035,16

72,5

Diện tích vùng ven biển dễ bị tổn thương (103 km2)

143,9

9.456,1

9.600

1,5

Dân số khu vực dễ bị tổn thương (106 km2)

162,09

1097

1.259,09

0,13
Nguồn : Uỷ ban Thống kê Nhà nước, Trung Quốc 2000.
Trong những năm gần đây, kinh tế Trung Quốc bùng nổ là nhờ có các chính sách khuyến khích sự phát triển của các vùng duyên hải. Những chính sách đó đã thúc đẩy xu thế và luồng di dân ra các vùng ven biển lớn nhất trong lịch sử. Nước biển dâng cao làm tăng rủi ro ngập lụt ở các vùng dễ bị tổn thương nhất, là nguyên nhân gây tổn thất về kinh tế và đẩy con người vào tình trạng nguy hiểm. Ngập lụt vùng duyên hải do nước dâng kèm theo bão đã ảnh hưởng đến hàng chục triệu người và thiệt hại hàng chục triệu USD. Trung Quốc cũng là nước nằm trong danh sách 10 nước có phần đông dân số sống ở các vùng ven biển có độ cao chưa đến 10m so với mực nước biển. Trong giai đoạn từ 2000-2005, tốc độ tăng dân số của Trung Quốc là gần 1%, trong khi tốc độ tăng số ở các vùng ven biển có độ cao chưa đến 10m so với mực nước biển là gần 1,9%, ở khu vực đô thị là 3,4%. Nước biển dâng sẽ có những ảnh hưởng lớn đến sinh kế và sự tồn tại của những cộng đồng tại các vùng ven biển thấp này.

Trong 50 năm qua, tốc độ nước biển dâng ở Trung Quốc là 2,5mm/năm. Mực nước biển dâng cao ở các địa phương có sự khác biệt lớn, trong đó có ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo địa chất và hoạt động do con người, tùy địa phương nhưng cùng góp phần làm mực nước biển dâng cao tương đối. Mực nước biển dâng cao tương đối ở khu vực có ý nghĩa quan trọng hơn so với mực nước biển dâng cao toàn cầu. Tốc độ nâng kiến tạo ở Qinhoangdao và bán đảo Sơn Đông cao hơn so với tốc độ nước biển dâng nên mực nước biển khu vực này hạ thấp chút ít. Các vùng đồng bằng ven biển và châu thổ của các con sông lớn nằm trên đới địa chất có tốc độ sụt lún 1-3mm/năm. Tốc độ sụt lún của nền đất còn bị ảnh hưởng bởi tải trọng lớn của các công trình xây dựng cao tầng dày đặc và hoạt động bơm hút nước ngầm quá mức ở các khu vực này. Do vậy, mực nước biển dâng tương đối tại đây có thể cao hơn nhiều so với mực nước biển dâng cao do nóng lên toàn cầu gây ra. Kết quả khảo sát của Bộ Tài nguyên và Đất đai Trung Quốc năm 2003 cho thấy từ tháng 9/2002 đến tháng 9/2003, Thượng Hải lún thêm 13mm mà nguyên nhân chính là do bơm hút nước ngầm và xây dựng các tòa nhà cao chọc trời. Năm 2004, Thượng Hải lún thêm 8mm, gây báo động cho chính quyền địa phương. Mức độ bơm hút nước ngầm ở thành phố này được giới hạn là khoảng 50 triệu m3/năm, song thực tế mức độ khai thác lớn hơn hai lần. Bộ Tài nguyên và Đất đai Trung Quốc dự định kiểm soát tốc độc lún sụt ở Thượng Hải chỉ ở mức 5mm/năm vào năm 2020.


Bảng 7. Ước tính tốc độ nước biển dâng và triều dâng

Năm

Tốc độ nước biển dâng (cm)

Tốc độ thuỷ triều dâng (cm)

2010

 

4

5

2030

Thấp

7

14

Trung bình

14

27

Cao

26

49

2050

Thấp

12

23

Trung bình

25

47

Cao

44

81

2100

Thấp

30

56

Trung bình

59

108

Cao

96

175

Nguồn: Shouye Yang, Congxian Li, Daidu Fan, Tongji University, Shanghai, “Impacts of climate changes on Chinese coastal zones and the adaptation strategy”, 2004.
Thực tế, mực nước biển dâng có thể thay đổi theo hướng tăng hoặc giảm và có sự khác nhau giữa các địa phương. Dự báo tốc độ nước biển dâng vào năm 2050 tại 3 châu thổ lớn ở Trung Quốc có thể rất khác biệt, như 70-90 cm ở vùng châu thổ sông Hoàng Hà, 50-70 cm ở lưu vực sông Dương Tử và 40-60 cm ở châu thổ sông Châu Giang.

Một trong những ảnh hưởng đầu tiên của mực nước biển dâng là gia tăng xói lở bờ biển. Các bờ biển dạng bùn gần các châu thổ sông chiếm khoảng 1/4 đường bờ biển của đại lục. Các châu thổ này có thể tiến ra biển với tốc độ nhanh, do phù sa sông cung cấp rất phong phú. Gần đây, tốc độ bồi tụ của các vùng ngập triều giảm do giảm lượng phù sa từ các sông Trường Giang và Châu Giang, tuy nhiên xu thế bồi tụ vẫn tiếp diễn. Xói lở bờ biển diễn ra mạnh nhất khi lượng phù sa giảm dưới mức tới hạn hoặc hoàn toàn không được cung cấp, mà điển hình là châu thổ sông Hoàng Hà ở phía Bắc tỉnh Giang Tô. Bờ biển khu vực này đã lùi vào sâu 20km và 14.000km2 đồng bằng châu thổ sông đã bị nhấn chìm kể từ năm 1855 khi sông Hoàng Hà được chuyển hướng về Vịnh Bột Hải ở phía Đông Bắc tỉnh Sơn Đông. Gần 70% đường bờ biển dạng bùn của Trung Quốc đang bị nước biển xâm thực do nước biển dâng, giảm phù sa sông, khai thác cát và các công trình xây dựng không hợp lý ở vùng ven hải. Một nghiên cứu khu vực phía Nam bán đảo Sơn Đông dựa trên những quan trắc thực địa dọc theo 33 km đường bờ biển dạng bùn trong 20 năm qua cho thấy các hoạt động khai thác cát, giảm phù sa và nước biển dâng góp phần gây xói lở bờ biển, tương ứng với 50%, 40% và 10%. Như vậy có thể thấy rõ, xói lở vùng ven biển Trung Quốc là hậu quả của sự kết hợp giữa các quá trình tự nhiên và các hoạt động con người.

Gia tăng xâm nhập mặn tại các vùng cửa sông và tầng ngậm nước là một hậu quả khác của nước biển dâng, làm trầm trọng hơn tình trạng thiếu nước ngọt và gia tăng đất nhiễm mặn tại các vùng đồng bằng ven biển. Nước biển xâm nhập tại các vùng cửa sông hình phễu chịu tác động mạnh của quá trình động lực của sông và nước biển dâng, nhất là khi lưu lượng dòng chảy giảm sẽ gây ra những tác động nghiêm trọng đến quá trình xâm nhập mặn. Với Trung Quốc, các châu thổ lớn như Trường Giang (Dương Tử) và Châu Giang có thể bị ảnh hưởng bởi sự nhiễm mặn khi nước biển dâng cao kết hợp suy giảm lưu lượng nước ở thượng nguồn vào mùa khô.

Sông Trường Giang có 3 nhánh và đổ ra biển theo 4 cửa. Nước mặn xâm nhập vào nội địa theo các cửa này với mức độ khác nhau. Xâm nhập mặn trong mùa đông ở nhánh phía Bắc diễn ra theo cấp số do cửa sông dạng hình phễu và lưu lượng thấp nên nước mặn còn có thể xâm nhập sang cả nhánh phía Nam. Dữ liệu quan sát và mô phỏng dạng số cho thấy xâm nhập mặn ở cửa sông Trường Giang chủ yếu bị chi phối bởi lưu lượng dòng chảy sông và ảnh hưởng của thuỷ triều. Các nhân tố chi phối khác là gió, dòng chảy thềm lục địa và khả năng hòa trộn. Dòng chảy thềm lục địa ngoài khơi cửa sông Trường Giang chủ yếu là các dòng biển ấm Đài Loan và dòng Subei Coast mang nước biển đến vùng cửa sông và có nguy cơ xâm nhập qua cửa sông Trường Giang. Tình hình xâm nhập mặn ở cửa sông Trường Giang còn bị tác động của đập Tam Hiệp và dự án bơm nước từ sông Trường Giang lên miền Bắc Trung Quốc.

Đập Tam Hiệp làm tăng lưu lượng xả của sông Trường Giang thêm 1.500 m3/s trong tháng 1 và tháng 2 vào năm khô hạn và dự án bơm nước từ sông Trường Giang lên miền Bắc Trung Quốc làm giảm 800 m3/s ở nhánh phía đông trong giai đoạn 1. So sánh với các kết quả trước khi có dự án, Đập Tam Hiệp góp phần làm giảm sự xâm nhập mặn từ sông Trường Giang và dự án bơm nước lên miền Bắc Trung Quốc lại làm tăng nguy cơ nhiễm mặn do thay đổi lưu lượng dòng chảy sông. Tại trạm đo Datong, tỉnh An Huy, sự xâm nhập mặn ở cửa sông Dương Tử có hệ số là 0,884, nghĩa là khi lượng nước ngọt giảm xuống dưới mức 7.000m3/giây, nước mặn sẽ tiến sâu vào đất liền hơn 100km. Đảo Chongming hoàn toàn được bao quanh bởi nước mặn trong thời gian 5 tháng khi lượng nước ngọt giảm xuống ngưỡng 7.300-8.000m3/giây.

Các nhà khoa học Trung Quốc dự báo: tại cửa sông Trường Giang, nếu mực nước biển dâng 0,44m vào năm 2050, ranh mặn 1-5%o sẽ xâm nhập vào sâu hơn 3km trong mùa lũ, nước dâng 0,96m vào 2100 ranh mặn 1-5%o sẽ xâm nhập vào sâu hơn 6-8km. Vào mùa khô, nếu nước biển dâng 0,8m ranh mặn này sẽ tiến sâu vào đất liền hàng chục km.

Ngoài lưu vực sông Trường Giang, lưu vực sông Châu Giang cũng có thể bị ảnh hưởng. Lưu vực Châu Giang có tổng diện tích tiêu thoát nước khoảng 453.690km2, trong đó diện tích châu thổ là 9.750km2, với hệ thống sông ngòi chằng chịt và là một trong những hệ thống tiêu thoát nước phức tạp nhất trên thế giới. Khu vực này chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, với lượng mưa trung bình năm lên tới 1.470mm chủ yếu diễn ra trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 9. Vùng châu thổ sông là đồng bằng có độ cao thấp so với mực nước biển. Tại đây, nước mặn thường xâm nhập vào theo các cửa phía Đông, còn ở các cửa phía Tây, dòng chảy sông chiếm ưu thế. Sông Châu Giang đổ ra biển theo 8 nhánh và nước mặn xâm nhập vào đất liền qua các nhánh sông này ở mức độ khác nhau do lưu lượng nước ngọt cung cấp và chế độ triều khác nhau. Tuỳ theo các đặc điểm này mà vào mùa khô nước mặn có thể xâm nhập vào đất liền sâu hơn 20-60 km so với vào mùa mưa.

Kể từ mùa thu năm 2004, tình trạng hạn hán ở lưu vực sông Châu Giang trở nên nghiêm trọng hơn. Mực nước sông ngòi phổ biển ở mức thấp. Xâm nhập mặn diễn ra mạnh mẽ đe doạ an ninh nguồn nước cấp cho các thành phố Ma Cao, Zhuhai, Trung Sơn và Quảng Châu. Trước tình hình đó, tháng 1/2005, Bộ Tài nguyên Nước, Văn phòng Nhà nước về Kiểm soát Ngập lụt và Giảm nhẹ Hạn hán Trung Quốc đã phải thực hiện một dự án đưa nước khẩn cấp về đẩy mặn và bổ sung nước ngọt cho sông Châu Giang trên chiều dài khoảng 1.300km.

Nóng lên toàn cầu cũng làm cho hạn hán diễn ra thường xuyên và trầm trọng hơn, làm cho nước mặn xâm nhập sâu hơn tại các vùng cửa sông hình phễu. Tại một số vùng biến đổi khí hậu làm tăng lượng mưa và dòng chảy giúp ngăn cản quá trình xâm nhập mặn. Dự án đưa nước từ miền Nam lên miền Bắc làm giảm lượng nước sông Trường Giang, làm trầm trọng hơn quá trình xâm nhập mặn nhất là vào mùa khô tại vùng cửa sông. Trong khi đó, các hoạt động xả nước tại Đập Tam Điệp sẽ giúp ngăn ngừa quá trình xâm nhập mặn.

Mực nước biển dâng cao gây ra những xáo trộn trong các hệ sinh thái. Hiện nay, diện tích các khu rừng ngập mặn Trung Quốc là 250x103hm2, giảm đáng kể từ 50x103hm2 hồi những năm 50. Suy giản diện tích rừng ngập mặn trong thế kỷ trước chủ yếu liên quan đến những tác động trực tiếp và gián tiếp của con người, như chuyển đổi rừng ngập mặn để canh tác và nuôi trồng thuỷ sản, xây dựng cảng biển và các cơ sở hạ tầng khác. Nhiệt độ và độ mặn chính là các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của các khu rừng ngập mặn. Nhiệt độ tăng có xu thế làm các khu rừng ngập mặn dịch chuyển về phía Bắc. Các khu rừng ngập mặn tự nhiên xuất hiện nhiều ở tỉnh Phúc Kiến và rừng ngập mặn nhân tạo có nhiều ở tỉnh Chiết Giang. Tốc độ bồi tích ở rừng ngập mặn thường cao hơn mực nước biển dâng do vậy rừng ngập mặn ở Trung Quốc ít có nguy cơ bị nhấn chìm do được cung cấp đủ phù sa. Tuy nhiên, nếu mực nước biển dâng cao vượt quá tốc độ bồi tụ, nước sâu và sóng lớn sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của các loài ngập mặn như khả năng nảy mầm, sự phát triển của hệ rễ và cây non.

Ngoài hệ thống rừng ngập mặn rộng lớn, tại vùng ven biển các rạn san hô ven biển trải rộng trên diện tích 30x103km2 và đang bị huỷ hoại nhanh chóng bởi các hoạt động khai thác và phát triển của con người. 80% các rạn san hô ở Đảo Hải Nam đã bị phá huỷ do phát triển ven biển và khai thác san hô trong nửa thế kỷ qua. Do san hô chỉ phát triển trong dải nhiệt độ hẹp từ 21-290C nên nhiệt độ bề mặt nước bất thường trong thời gian diễn ra El Nino đã gây sự tẩy trắng hàng loạt. Hơn nữa, san hô chỉ có thể tăng trưởng với tốc độ tối đa 1cm/năm, cao hơn nhiều so với tốc độ nước biển dâng. Do vậy, với mức nước biển dâng được dự báo không phải là mối nguy lớn mà sẽ là yếu tố cần lo ngại khi nước biển dâng kèm theo những hậu quả khác của biến đổi khí hậu như xuất hiện nhiều cơn bão hơn, mưa lớn làm tăng lượng trầm tích và quá trình axit hóa nước đại dương do tăng lượng cácbônát hòa tan trong nước biển.


Hộp 2. Biến đổi khí hậu và khủng hoảng nước ở Trung Quốc

Trong hai thập kỷ qua, Trung Quốc nổi lên như một công xưởng của thế giới. Tăng trưởng kinh tế nhanh song hành với đói nghèo giảm nhạnh làm chỉ số phát triển con người cao hơn. Tuy nhiên, Trung Quốc rất dễ bị tổn thương do biến đối khí hậu.

Vào năm 2020, nhiệt độ trung bình ở Trung Quốc dự báo sẽ cao hơn 1,1-2oC so với mức năm 1961-1990. Ở một đất nước rộng lớn như Trung Quốc, trải rộng trên nhiều đới khí hậu, tác động sẽ rất phức tạp và đa dạng. Giống như các nước khác, biến đổi khí hậu ở Trung Quốc sẽ cộng hưởng với những căng thẳng tiềm ẩn. Những hệ thống sông miền bắc Trung Quốc là minh chứng hùng hồn về áp lực sinh thái do tăng trưởng kinh tế nhanh. Lưu vực các sông Hắc Long Giang, Hoài Hà và Hoàng Hà cung cấp nước cho gần một nửa dân số Trung Quốc. Nhu cầu gia tăng của công nghiệp, đô thị và nông nghiệp khiến nước đang bị khai thác với tốc độ gấp đôi mức bổ sung. Kết quả là sông không còn ra đến biển và mực nước ngầm chìm sâu hơn.

Những gì đang xảy ra với các núi băng ở Trung Quốc tạo nên cuộc khủng hoảng an ninh sinh thái toàn cầu gay gắt nhất. Trước mắt, lưu lượng nước gia tăng do băng tan có thể gây lũ lụt nhiều hơn. Về lâu dài, núi băng co lại sẽ cắt nguồn nước và làm biến đổi nhiều vùng rộng lớn. Lưu lượng các sông Dương Tử, Hoàng Hà và những dòng sông khác bắt nguồn từ Cao nguyên Thanh Hải-Tây Tạng sẽ giảm đi, làm gia tăng căng thẳng đối với các hệ sinh thái dựa vào nước. Thành phố Thượng Hải đặc biệt dễ bị tổn thương do những nguy cơ liên quan đến biến đổi khí hậu. Nằm ở cửa sông Dương Tử, chỉ cao 4m trên mực nước biển, thành phố này đặc biệt dễ bị ngập lụt. Bão, lốc gia tăng và lưu lượng dòng chảy quá cao góp phần làm ngập lụt đến cực độ. Tất cả 18 triệu dân Thượng Hải có nguy cơ ngập lụt. Mực nước biển dâng cao và tần suất bão tăng lên đã đưa thành phố này vào danh sách các thành phố gặp nguy hiểm. Tuy nhiên, tổn thương chủ yếu tập trung vào khoảng 3 triệu người tạm trú vừa từ nông thôn ra, sống tạm bợ tại các công trường hay khu vực dễ bị ngập lụt, quyền lợi hạn chế, số dân này có nguy cơ phải chịu rủi ro.



Nguồn: Báo cáo Phát triển Con người 2007-2008, UNDP.

Ở Trung Quốc, các vùng đồng bằng thấp ven biển có độ cao chưa đầy 5m so với mực nước biển có diện tích khoảng 144x103km2, chủ yếu phân bố trên ba vùng châu thổ rộng lớn của sông Hoàng Hà, Trường Giang và Châu Giang. Nếu mực nước biển dâng cao 30cm, diện tích bị ngập dưới mực nước tối đa ở Thượng Hải và Giang Tô trong điều kiện không có các công trình phòng thủ bờ biển sẽ lớn gấp 6 lần so với điều kiện được bảo vệ hiện nay.

Việc xây các tuyến đê cao dọc bờ biển của các thành phố lớn và các vùng phát triển kinh tế. Thượng Hải là nơi cần có sự bảo vệ đặc biệt bởi thành phố này nằm ở độ cao thấp nhất so với các tỉnh ven biển của Trung Quốc. Thượng Hải sẽ phải đầu tư 1,2 tỷ NDT để củng cố và tăng cường các cơ sở hạ tầng bảo vệ bờ biển, chống lại nước biển dâng cao trong giai đoạn 2000-2050. Chi phí thích ứng với mực nước biển dâng cao chỉ chiếm 0,0005-0,0049% GDP của Thượng Hải, thấp hơn nhiều so với chi phí đề xuất là 1% GDP do IPCC đưa ra, còn tại châu thổ sông Châu Giang, chi phí thích ứng có thể là 0,0003-0,026% GDP của tỉnh Quảng Đông.

Rõ ràng là chi phí thích ứng với nước biển dâng là khá cao so với các vùng đang phát triển. Tỉnh Quảng Tây là một trong 8 tỉnh ven biển Trung Quốc dễ bị tổn thương nhất. Nếu nâng cấp một bức tường chắn biển dài 815 km theo tiêu chuẩn năm 1992 về Bảo vệ bờ biển thì tốn sẽ tốn 1,6 tỷ NDT. Trong khi dự án chuẩn về tường chắn biển được thực hiện trong 10 năm, từ 2000 đến 2010, mức đầu tư trung bình hàng năm là 0,16 tỷ NDT, chiếm 0,078% GDP của Quảng Tây. Tỷ lệ chi phí bảo vệ so với GDP ở Quảng Tây cao gấp nhiều lần Thượng Hải và Quảng Đông mặc dù tiêu chuẩn 1992 của Quảng Đông thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn bảo vệ bờ biển của hai thành phố này. Điều đó cho thấy các vùng đang phát triển chịu nhiều gánh nặng hơn so với vùng phát triển khi nước biển dâng (Bảng 8).


Bảng 8. Ước tính thiệt hại do nước biển dâng tại các vùng châu thổ của Trung Quốc

Khu vực

Thiệt hại ước tính năm 2000


Thiệt hại ước tính năm 2030

Thiệt hại ước tính năm 2000

Thiệt hại ước tính năm 2030




(nước biển dâng 30 cm)

(nước biển dâng 1m)

Châu thổ sông Châu Giang

22,6 tỷ NDT

56 tỷ NDT

104,4 tỷ NDT

262,5 tỷ NDT

Châu thổ sông Trường Giang với bờ biển Giang Tô và phía bắc bờ biển Chiết Giang

3,8 tỷ NDT

9,6 tỷ NDT

655,6 tỷ NDT

1599,5 tỷ NDT

Châu thổ sông Hoàng Hà và bờ biển Laizhou và Bột Hải

109,4 tỷ NDT

274,6 tỷ NDT

118,1 tỷ NDT

296,5 NDT

Nguồn: Maren A. Lau, Adaptation to Sea-level Rise in the People’s Republic of China, 2006.

Các giải pháp thích ứng và đối phó với nước biển dâng

Do lãnh thổ rộng lớn, trải dài trên nhiều đới khí hậu, nên tác động của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng đến vùng ven biển Trung Quốc có sự khác biệt. Tuy nhiên, những giải pháp thích ứng của con người sẽ giúp giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi.

Các vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu đã thu hút sự quan tâm đông đảo của các nhà nghiên cứu Trung Quốc kể từ những năm 80, một phần do yêu cầu của IPCC về đo đạc các điều kiện khí hậu và quan trắc những thay đổi trước khi đưa ra dự báo tương lai cho các vùng của Trung Quốc. Sự quan tâm của Chính phủ đối với vấn đề này thể hiện rõ qua việc trong 10 năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc đã tham gia vào các cuộc thương lượng quốc tế và nhiều dự án nghiên cứu song phương, hợp tác khu vực, thành lập Mạng thông tin về biến đổi khí hậu Trung Quốc (CCCIN), Viện nghiên cứu khí tượng thuỷ văn và nông nghiệp (AI), thành lập Uỷ ban IPCC của Trung Quốc tại Bắc Kinh. Năm 2007, Trung Quốc đã đưa ra Chiến lược quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu và trở thành một trong số ít nước trên thế giới có các kế hoạch này. Tuy nhiên, cho đến nay, Chính phủ vẫn chưa tuyên bố chiến lược chính thức chỉ riêng về đối phó với nước biển dâng. Chỉ có các cuộc thảo luận ở cấp địa phương về các cách tiếp cận vấn đề này. Một số dự án của Ngân hàng Thế giới nghiên cứu về vấn đề nước biển dâng nhưng lại không đề cập đến các giải pháp thích ứng. Cơ quan Quản lý Đại dương Quốc gia đã cho xuất bản Bản tin về nước biển dâng định kỳ 2 năm/số và nước biển dâng đã trở thành một vấn đề được đề xuất đưa vào Chương trình nghị sự 21 về Đại dương của Trung Quốc. Cho đến nay, Chính phủ chưa thành lập một cơ quan chuyên trách về thích ứng với nước biển dâng. Việc quy hoạch và thực hiện quá trình thích ứng với nước biển dâng không chỉ là thực hiện quản lý vùng ven biển, mà còn phải kết hợp với quản lý thảm họa, quản lý tổng hợp biến đổi khí hậu, kiểm soát ngập lụt và quy hoạch sử dụng đất…Tuy nhiên, do vùng ven biển xét về mặt tự nhiên là vùng chuyển tiếp giữa biển và đất liền nên vẫn có những sự chồng chéo về trách nhiệm quản lý giữa các bộ, ngành như Bộ Tài nguyên nước (MWR), Bộ Tài nguyên và Đất đai (MLR), Bộ Nông nghiệp, Cơ quan quản lý đại dương quốc gia (SOA), Cơ quan Bảo vệ môi trường quốc gia (EPA)…

Chiến lược Quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu của Trung Quốc năm 2007 nêu rõ mục tiêu chiến lược của Trung Quốc về đối phó với biến đổi khí hậu là nhằm đạt được những thành tựu đáng kể trong kiểm soát phát thải khí nhà kính, tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, thúc đẩy khoa học công nghệ và nghiên cứu - phát triển (R&D) liên quan đến biến đổi khí hậu tới một trình độ mới, nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu, tăng cường thể chế và cơ chế về biến đổi khí hậu. Để đạt được các mục tiêu này, Trung Quốc sẽ phải có những nỗ lực lớn cho đến 2010. Về nguy cơ nước biển dâng, Chiến lược quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu của Trung Quốc đã xác định các lĩnh vực chính phải thích ứng với sự biến đổi khí hậu liên quan đến nước biển dâng là nông nghiệp, lâm nghiệp, tài nguyên nước và các vùng ven biển. Chiến lược này đưa ra các nhiều giải pháp thích ứng, trong đó có các giải pháp liên quan đến thích ứng với tình trạng nước biển dâng đối với các lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều gồm nông nghiệp, tài nguyên nước, rừng, các hệ sinh thái và vùng ven biển.



* Nông nghiệp :

    • Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, tiếp tục mở rộng trình diễn các hệ thống tưới tiêu tiết kiệm nước. Cải thiện các hệ thống tưới tiêu và thoát nước. Kiểm soát và khôi phục các diện tích canh tác có năng suất trung bình-thấp do nhiễm mặn và nhiễm phèn tại các khu vực sản xuất ngũ cốc chủ yếu.

    • Thay đổi, điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và các hệ thống canh tác, chọn lọc, nuôi trồng, nhân giống các loại cây trồng có khả năng chịu hạn, chịu mặn, nhiệt độ cao.

    • Thúc đẩy nghiên cứu và triển khai các công nghệ mới, công nghệ sinh học.

* Tài nguyên nước

    • Tăng cường quản lý tài nguyên nước, thích ứng hài hoà giữa thiên nhiên và môi trường trong quản lý nguồn tài nguyên nước, tăng cường xây dựng đê, kè, thực hiện thống nhất quản lý nguồn tài nguyên nước thông qua lồng ghép quản lý lưu vực vào quá trình quy hoạch, phân bổ và quản lý tài nguyên nước, thay đổi cách thức sử dụng nước truyền thống.

    • Tăng cường quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng. Tăng tốc triển khai dự án đưa nước từ Nam lên miền Bắc, dần dần đưa ra mô hình mới về phân bổ tài nguyên nước một cách tối ưu qua ba hệ thống nắn dòng kết nối các sông Dương Tử, Hoàng Hà, Hoài Hà và Hải Hà. Đẩy mạnh việc xây dựng và cải thiện các dự án kiểm soát nguồn nước quan trọng (xây dựng các hồ chứa…) và cơ sở hạ tầng tại các khu vực tưới tiêu, quản lý khôn ngoan các phương thức sử dụng nước trong nông nghiệp. Tiếp tục triển khai các dự án nắn dòng

* Đối với các vùng ven biển:

    • Xây dựng và sửa đổi các luật và các quy định liên quan, đưa ra các quy định quản lý cụ thể ở cấp vùng phù hợp với Luật Bảo vệ Môi trường Biển, Luật Quản lý các vùng biển của Trung Quốc và phù hợp với từng địa phương. Triển khai hệ thống quản lý tổng hợp vùng ven biển và xây dựng cơ chế ra quyết định và điều phối hiệu quả. Xử lý kịp thời các vấn đề phát triển và bảo vệ vùng ven biển. Xây dựng các địa điểm trình diễn về quản lý tổng hợp.

    • Thúc đẩy triển khai và mở rộng công nghệ. Tăng cường nghiên cứu và triển khai các công nghệ bảo vệ và khôi phục các hệ sinh thái biển, phục hồi các khu rừng ngập mặn ven biển, bảo vệ và khôi phục các rạn san hô và các vùng đất ngập nước ven biển nhằm giảm thiểu tính tổn thương của các hệ sinh thái vùng ven biển. Tăng tốc xây dựng các khu bảo tồn biển đã được chỉ định, như các khu bảo tồn san hô và rừng ngập mặn. Nâng cao năng lực bảo vệ đa dạng sinh học biển.

    • Nâng cao năng lực về giám sát/quan trắc môi trường biển và cảnh báo sớm. Xây dựng nhiều địa điểm và mạng lưới giám sát tại các vùng ven biển và trên các đảo. Sử dụng công nghệ cao trong giám sát, nâng cao năng lực về viễn thám và đo đạc từ xa đối với môi trường biển, nhất là khả năng quan trắc mực nước biển thay đổi. Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và hệ thống đối phó với các thảm họa do thuỷ triều ở các vùng ven biển.

    • Tăng cường các chiến lược thích ứng nhằm giải quyết vấn đề nước biển dâng. Áp dụng các biện pháp thích ứng bảo vệ bờ biển kết hợp các giải pháp kỹ thuật cùng với các giải pháp sinh học. Nâng cao tiêu chuẩn về chiều cao của đê biển, gia cố các công trình đê biển hiện có nhằm tăng cường khả năng chống chịu với nước biển dâng.

    • Ngăn ngừa khai thác quá mức nguồn nước ngầm và sụt lún ở các vùng ven biển bằng việc thực hiện các giải pháp tái nạp nước ngầm nhân tạo tại các khu vực có mực nước ngầm hạ thấp và sụt lún nền đất.

    • Áp dụng giải pháp sử dụng nguồn nước ngọt từ các sông và hồ chứa để làm loãng và ngăn nước mặn/nước lợ xâm nhập tại các vùng cửa sông.

    • Nâng cao tiêu chuẩn bảo vệ các thành phố ven biển, các dự án lớn và cảng biển.

* Rừng và các hệ sinh thái

    • Xây dựng và thực hiện các luật và quy định liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng tốc việc sửa đổi các luật Bảo vệ rừng, Luật Bảo vệ đời sống hoang dã, Dự thảo Luật bảo tồn thiên nhiên và các quy định về bảo vệ đất ngập nước. Bổ sung và tăng cường các điều khoản liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm đưa ra một cơ sở pháp lý đảm bảo cho việc cải thiện và phục hồi chức năng của rừng và các hệ sinh thái để thích ứng với biến đổi khí hậu.

    • Thúc đẩy nghiên cứu và triển khai các công nghệ bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái biển, trong đó chú trọng đến nuôi trồng, cấy ghép và phục hồi các khu rừng ngập mặn ven biển, bảo vệ và phục hồi các rạn san hô và các vùng đất ngập nước ven biển nhằm giảm sự tổn thương của các hệ sinh thái vùng ven biển. Tăng cường thiết lập các khu bảo tồn biển như các khu bảo tồn san hô, rừng ngập mặn. Nâng cao năng lực về bảo vệ đa dạng sinh học biển.

    • Tăng cường khả năng bảo vệ hiệu quả của các nguồn tài nguyên rừng và các hệ sinh thái tự nhiên hiện có. Bảo tồn các vùng đất ngập nước thông qua giảm sự xáo trộn do con người và ngăn chặn xu thế thu hẹp diện tích các vùng đất ngập nước. Mở rộng diện tích và nâng cao chất lượng các khu bảo tồn thiên nhiên, thiết lập các hành lang sinh học xung quanh các khu bảo tồn. Nỗ lực trồng các hàng cây chắn gió và gió ở vùng ven biển, gồm nhiều loại cây, nhiều lớp và nhiều kiểu rừng đa chức năng. Lồng ghép hiệu quả các hệ thống giám sát rừng hiện nay thành một hệ thống giám sát tổng hợp nguồn tài nguyên rừng và các hệ sinh thái khác.

    • Tăng cường triển khai và ứng dụng công nghệ bảo vệ và khôi phục đa dạng sinh học, công nghệ giám sát tài nguyên từng và các hệ sinh thái rừng. Nâng cấp mạng lưới giám sát và hệ thống quản lý nhằm tăng cường khả năng dự báo, cảnh báo sớm và khả năng ứng phó trong các trường hợp khẩn cấp.

1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương