LỜi giới thiệU



tải về 0.61 Mb.
trang3/6
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.61 Mb.
1   2   3   4   5   6

Nguồn: WB, 2007



Hình 2. Dân số bị ảnh hưởng theo các kịch bản nước biển dâng ở Đông Á

Nguồn:WB, 2007



Hình 3. Diện tích đất các quốc gia bị ảnh hưởng theo các kịch bản nước biển dâng ở Đông Á

Nguồn: WB 2007



Hình 4. Diện tích đất ngập nước các quốc gia bị ảnh hưởng theo các kịch bản nước biển dâng ở Đông Á

Nguồn: WB, 2007

1.2. CƠ SỞ KHUNG ĐÁNH GIÁ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIỂN

Các nghiên cứu về tác động của mực nước biển dâng cao thường tập trung vào đánh giá các tác động và sự ứng phó. Năm 2001, Smit và các cộng sự đã đưa ra khung đánh giá, trên cơ sở khung của Klein và Nicholls (1999) làm nền tảng cho thực hiện diễn giải và so sánh. Mực nước biển, cho dù do nguyên nhân nào thì nó cũng có những tác động như tăng xói lở và ngập lụt. Ngược lại các tác động này lại có những tác động đến kinh tế xã hội gián tiếp tuỳ thuộc vào sự tiếp xúc của con người trước các thay đổi này. Các hệ thống bị ảnh hưởng đồng thời cũng có những sự phản hồi quan trọng như tự điều chỉnh và thích ứng với những biến đổi trên. Các vùng ven biển là khu vực bị tác động nhiều nhất khi nước biển dâng. Vùng ven biển chính là nơi diễn ra các quá trình tương tác giữa các hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế xã hội.

Cả hai hệ thống này đều được đặc trưng bởi các mức ảnh hưởng (tiếp xúc), tính nhạy cảm khả năng thích ứng trước mực nước biển dâng cao và các thay đổi khác liên quan đến khí hậu và các áp lực không liên quan đến khí hậu. Tính nhạy cảm và khả năng thích ứng kết hợp với mức độ tiếp xúc sẽ xác định tính dễ tổn thương của mỗi hệ thống.















Hình 5. Cơ sở khung đánh giá Tính tổn thương và tác động của sự dâng cao nước biển đối với vùng ven biển

Nguồn: Nicholl, 2002

Mức tiếp xúc được xác định là tính chất và mức độ, mà một hệ thống khi tiếp xúc với các thay đổi về khí hậu như nước biển dâng.

Tính nhạy cảm, là mức độ mà một hệ thống khi bị ảnh hưởng, hoặc bị ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc hưởng lại từ sự thay đổi khí hậu.

Khả năng tự thích ứng, biểu hiện là các phản ứng tự nhiên thích ứng trước mực nước biển dâng cao. Các quá trình thích ứng tự nhiên thường bị giảm nhẹ, hoặc ngừng lại bởi các áp lực do con người.

Khả năng thích ứng theo kế hoạch (đã xuất hiện trong hệ thống kinh tế xã hội) có thể giúp giảm thiểu tính tổn thương bằng rất nhiều giải pháp. Sự tương tác giữa các hệ thống tự nhiên và kinh tế xã hội ở các vùng ven biển diễn ra rất phức tạp. Do vậy, các hình thức thích ứng và điều chỉnh trong mỗi hệ thống và giữa hai hệ thống thường nhằm giảm cường độ của các tác động tiềm tàng khi các tác động này xảy ra. Nhờ đó, các tác động thực thường bớt nghiêm trọng hơn so với tác động tiềm tàng được dự báo ban đầu.

Các kịch bản tương lai về nước biển dâng

Báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC đưa ra năm 2007 dự báo về mực nước biển dâng cao theo các kịch bản khác nhau: Trong 2 thập kỷ tới, nhiệt độ Trái đất sẽ tăng khoảng 0,20C mỗi thập kỷ. Thậm chí nếu nồng độ của các khí nhà kính và các sol khí khác vẫn giữ ở mức năm 2000 thì nhiệt độ trung bình Trái đất vẫn tăng thêm 0,10C mỗi thập kỷ.


Bảng 4. Các kịch bản và nhiệt độ và nước biển dâng theo IPCC (2007)

Các kịch bản

Sự thay đổi nhiệt độ (0C, giai đoạn 2090-2099 so với giai đoạn 1980-1999)

Mực nước biển dâng (m, giai đoạn 2090-2099 so với giai đoạn 1980-1999)




Trung bình

Giới hạn

Phạm vi dao động

Mức nền của năm 2000

0,6

0,3-0,9

-

Kịch bản B1

1,8

1,1-2,9

0,18-0,38

Kịch bản A1T

2,4

1,4-3,8

0,20-0,45

Kịch bản B2

2,4

1,4-3,8

0,20-0,43

Kịch bản A1B

2,8

1,7-4,4

0,21-0,48

Kịch bản A2

3,4

2,0-5,4

0,23-0,51

Kịch bản A1F1

4,0

2,4-6,4

0,26-0,59

Nguồn: IPCC, 2007
Kịch bản A1: Nền kinh tế thế giới tăng trưởng nhanh, dân số toàn cầu đạt cực đại vào những năm giữa thế kỷ và nhiều công nghệ mới hiệu suất cao sẽ được đưa vào sử dụng. Kịch bản A1 chia làm 3 nhóm với các hướng thay đổi khác nhau trong công nghệ:

  • Nhiên liệu hóa thạch (A1F1).

  • Nhiên liệu phi hóa thạch (A1T).

  • Cân bằng giữa các loại năng lượng (A1B).

Kịch bản B1: Dân số toàn cầu cũng đạt cực đại vào những năm giữa thế kỷ giống kịch bản A1 nhưng có sự thay đổi nhanh hơn trong cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ và kinh tế nông thôn.

Kịch bản B2: Sự tăng trưởng kinh tế và dân số ở mức trung bình, các giải pháp phát triển kinh tế, xã hội và môi trường bền vững khu vực được chú trọng.

Kịch bản A2: dân số toàn cầu tăng trưởng nhanh trong khi phát triển kinh tế và chuyển giao công nghệ chậm.

II. ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIỂN TỚI MỘT SỐ QUỐC GIA CÓ BIỂN VÀ VIỆT NAM

2.1. BĂNGLAĐÉT

Bănglađét là một trong những vùng châu thổ lớn trên thế giới với 230 hệ thống sông ngòi dày đặc phân bố khắp đất nước. Trong đó lớn nhất là Hệ thống sông Hằng, Brahmaputra và Meghna. Địa hình Bănglađét thoải từ phía Bắc xuống phía Nam với 710 km đường bờ biển. Dải ven biển phía Nam nằm song song với Vịnh Bengal ở mũi phía Bắc của Ấn Độ Dương, nông và có dạng hình cung lõm, thường xuyên bị bão tấn công, gây ra sóng lớn. Dải ven biển tập trung 19 trong số 64 quận của Bănglađét, trong đó có 12 quận tiếp giáp với biển hoặc nằm trên vùng cửa sông. Dân số vùng ven biển là 35,1 triệu người, chiếm 28% tổng dân số (năm 2003). Mật độ dân số ở vùng duyên hải là 482 người/km2, trong khi có những nơi tập trung tới 1.012 người/km2. Nuôi trồng thuỷ sản, nông nghiệp, nuôi tôm, sản xuất muối và du lịch là các hoạt động kinh tế chính ở vùng ven biển Bănglađét.

Bănglađét là nước tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thiếu vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng cần thiết, thiếu năng lực thể chế, phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên.... Những đặc điểm này khiến cho Bănglađét rất dễ tổn thương trước các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, và dân cư ở dải ven biển tổn thương nhiều hơn so với dân cư ở các khu vực khác nếu xảy ra các tác động. Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) năm 2007, mực nước biển dâng 1m sẽ nhấn chìm 18% diện tích đất, trực tiếp đe doạ 11% dân số. Tác động của mực nước sông do mực nước biển dâng cao có thể ảnh hưởng đến 70 triệu người. Nước biển dâng cao 1m sẽ ảnh hưởng tới diện tích rộng lớn vùng ven biển và vùng đồng bằng ngập lũ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, gây ra dòng người tị nạn môi trường. Các đối tượng bị tổn thương nhiều nhất khi nước biển dâng 1m là tài nguyên vùng ven biển, tài nguyên nước, nông nghiệp và đa dạng sinh học, trong đó Sundarbans là khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất. Khu vực Sundarbans là nguồn sinh kế duy trì cuộc sống cho khoảng 10 triệu người. Các hoạt động chính ở Sundarbans là khai thác thuỷ sản, gỗ và mật ong (Bảng 5).

Bảng 5: Nước biển dâng và những ảnh hưởng tiềm tàng ở Bănglađét

Năm

2020

2050

2100

Mực nước dâng

10cm

25cm

1m

Diện tích chìm dưới mực nước biển

2 % diện tích đất (2.500 km2)



4 % diện tích đất

(6.300 km2)



17,5 % diện tích đất (25,000 km2).

Các khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất gồm Patuakhali, Khulna và Barisal



Bão




1991 trận bão, lốc diễn ra, với mức tăng 10% về cường độ, tốc độ gió tăng từ 225 đến 248 km/h;

Bão làm nước dâng 7,4-9,1m và làm mực nước biển dâng cao 1 m.

Ngập lụt

Ngập lụt tăng 20% .

Tăng ngập lụt ở sông đồng bằng ngập lũ sông Meghna và sông Hằng. Ngập trong mùa mưa làm tăng thiệt hại mùa màng.

Tăng diện tích bị ngập mức độ lũ lụt.

Nông nghiệp

Nước biển dâng làm giảm 0,2% sản lượng do ngập.

Giảm 1% sản lượng so với mức hiện nay.



Mực biển dâng cao 0,3m làm giảm 0,5% sản lượng do ngập.

Giảm 2% so với mức hiện nay.



Lũ tàn phá làm thiệt hại trong nhiều năm

Hệ sinh thái

Nhấn chìm 15% Sundarbans


Nhấn chìm 40% Sundarbans


Sundarbans có thể mất hoàn toàn. Mất Sundarbans và các vùng ngập nước ven biển làm giảm diện tích các bãi đẻ của nhiều loài cá, làm giảm số lượng quần thể.

Xâm nhập mặn

Tăng

Tăng

Tăng

Nguồn: WB, 2000.

Ngoài các nguyên nhân do băng tan và nước dãn nở do nhiệt, thì sự sụt lún và nâng lên của nền đất là các yếu tố quan trọng góp phần vào nước biển dâng ở Bănglađét. Một nghiên cứu do Trung tâm Nghiên cứu Khí tượng (SAARC) thực hiện năm 2003 dựa trên 22 bộ dữ liệu năm về thuỷ triều tại 3 trạm đo ven biển cho thấy tốc độ nước biển dâng trong 22 năm qua là khá cao. Mức triều dâng ở Hiron Point, Char Changa và Cox’s Bazar tương ứng với các mức 4,0 mm/năm, 6,0 mm/năm và 7,8 mm/năm trong khoảng thời gian từ 1977-1998. Tốc độ triều dâng ở dải ven biển phía tây cao gấp đôi dải ven biển phía đông. Sự khác biệt này có thể do sự sụt lún và nâng lên của nền đất, tuy nhiên xu thế sụt lún là chủ yếu. Để đánh giá chính xác mức nước biển dâng lên ở vùng ven biển Bănglađét, cần có những đo đạc về lượng phù sa ở các vùng châu thổ và tốc độ nâng lên hay sụt lún của nền đất trong đó phải kể đến hai hệ thống sông lớn là sông Hằng và sông Brahmaputra vận chuyển gần 1,6 tỷ tấn phù sa mỗi năm.

Các tác động liên quan đến nước do biến đổi khí hậu và nước biển dâng là những vấn đề nghiêm trọng nhất ở Bănglađét, đặc biệt là liên quan đến ngập lụt ven biển và ven sông. Những thay đổi về nền đáy sông do quá trình vận chuyển phù sa và trầm tích, cũng như những thay đổi về đặc điểm hình thái do biến động mực nước và lưu lượng dòng chảy theo mùa cũng có ý nghĩa quan trọng. Nguy cơ xói lở tăng lên khi mực nước biển và nước sông dâng cao. Nước biển dâng cuốn trôi lớp đất bề mặt ở dải ven biển, khiến cho khu vực trở nên dốc hơn. Dải ven biển của Bănglađét được thành tạo bởi đất bùn và cát do vậy rất dễ tổn thương trước nước biển dâng. Xói lở còn là nguyên nhân khiến con người phải di dời. Hầu hết người nghèo ở Bănglađét không có đất. Nhà có thể bị sập do xói lở và nhiều lần sập như vậy khiến họ càng nghèo khổ hơn. Một nghiên cứu của Viện nghiên cứu Chính sách Trái đất năm 2004 cho thấy sẽ có khoảng 40 triệu người Bănglađét trở thành tị nạn môi trường do nước biển dâng 1m. Xu thế di cư ra các vùng ven biển khá rõ ràng ở Bănglađét. Trong khi tốc độ tăng dân số của nước này là 1,2% (2000-2005) thì tốc độ tăng dấn số ở các vùng ven biển thấp dưới 10m là 2,1%, ở khu vực đô thị là 2,8%. Dòng người tị nạn môi trường này ngoài một số di dời vào sâu trong nội địa, một số khác tìm đường sang các nước láng giềng như Ấn Độ và Pakistăng, gây những bất ổn về xã hội trong khu vực.

Nước biển dâng sẽ làm tăng các hoạt động làm thay đổi đặc điểm hình thái học của sông, gia tăng lưu lượng dòng chảy và do vậy làm tăng khả năng xói lở bờ. Xói lở bờ ở các khu vực cồn đôi khi còn xóa sổ chúng trên bản đồ của Bănglađét. Trong giai đoạn 1972-1987, đã có khoảng 196 km2 cồn bị xói lở và tổng số 11 cồn biến mất tại lưu vực sông Meghna.

Xói lở bờ sông là hiện tượng phổ biến dọc theo các Hệ thống sông Hằng, Jamuna và Tista. Trong giai đoạn 1973-1996, đã có khoảng 1,7 triệu ha vùng ngập lũ nhạy cảm với quá trình xói lở bờ sông. Trong khi có 73.552 ha đất bị xói lở chỉ có 10.628 ha đất được bồi tụ. Mức độ xói lở trầm trọng còn phụ thuộc vào lưu lượng dòng chảy sông và lưu lượng này thay đổi lớn theo mùa. Bănglađét là quốc gia có tài nguyên nước dồi dào, song thực tế là có tới hơn 92% lưu lượng dòng chảy hàng năm là từ bên ngoài lãnh thổ. Vào mùa mưa tổng lưu lượng của sông Hằng và sông Brahmaputra có thể đạt đỉnh điểm 80.000 – 140.000 m3/s vào tháng 7-8 hoặc đầu tháng 9, trong khi lưu lượng của sông Hằng vào tháng 2 và tháng 4 chỉ là gần 1.000 m3/s, sông Brahmaputra thấp hơn 4.000 m3/s trong khoảng tháng 3 và tháng 4. Ngập lụt là một hiện tượng phổ biến ở Bănglađét. Ngập lụt ảnh hưởng tới 80% diện tích lãnh thổ mà nguyên nhân có thể do lũ quét, mưa lớn, ngập lụt theo mùa và ngập lụt vùng ven biển do nước dâng kèm theo bão. Trong những năm bình thường, 20-25% lãnh thổ bị ngập lụt do nước sông dâng hoặc tắc nghẽn dòng chảy. Nghiên cứu năm 2003 của SAARC cho thấy xu thế ngày càng tăng của các cơn bão lớn trên Vịnh Bengal trong thời gian từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau.



Hộp 1: Trận lụt lịch sử ở Bănglađet

Lũ lụt là chuyện bình thường về sinh thái ở Bănglađét. Khi khí hậu biến đổi, lũ lụt bất thường có thể sẽ là đặc điểm nổi bật trong tương lai. Kinh nghiệm sau trận lụt năm 1998 - thường gọi là trận lụt thế kỷ - nêu bật nguy cơ lũ lụt gia tăng sẽ dẫn đến những thụt lùi lâu dài về phát triển con người. Trận lụt năm 1998 là một hiện tượng cực đoan. Trong năm bình thường thì khoảng ¼ đất nước bị ngập lụt. Khi lên tới đỉnh điểm, trận lụt 1998 ngập trắng 2/3 đất nước. Trên 1.000 người chết và 30 triệu người thành vô gia cư. Khoảng 10% diện tích trồng lúa toàn quốc mất trắng. Ngập lụt kéo dài không thể trồng cấy lại nên hàng chục triệu hộ phải đối mặt với khủng hoảng lương thực.

Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng gấp đôi sau lụt. Mười lăm tháng sau lụt, 40% trẻ có tình trạng dinh dưỡng kém vào thời gian ngập lụt vẫn chưa trở lại được mức dinh dưỡng cũ.

Việc đối phó với trận lụt 1998 đôi khi được coi là bài học thành công về xử lý thiên tai. Tuy nhiên, lũ lụt có tác động xấu về lâu dài, rõ nhất là về tình trạng dinh dưỡng của trẻ vốn đã suy dinh dưỡng. Trẻ bị tác động có thể không bao giờ có khả năng phục hồi sau hậu quả. Hộ nghèo phải chịu đựng trong thời gian trước mắt do cắt giảm tiêu dùng và bệnh tật gia tăng, và do phải gánh chịu nợ nần chồng chất hơn.



Nguồn: Báo cáo Phát triển Con người 2007-2008, UNDP.

Hai phần ba trong số 40 triệu lao động có sức khoẻ ở Bănglađét tham gia làm nông nghiệp và các hoạt động liên quan khác. Tỷ lệ đất canh tác bị thu hẹp hàng năm là 100.000 ha, do đô thị hoá và phát triển các khu định cư. Với tốc độ mất đất này, kèm theo các nguy cơ nhiễm mặn và thoái hóa đất, nền nông nghiệp tự cung tự cấp của Bănglađét chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong tương lai. Nhiễm mặn tăng do nước biển dâng làm giảm sản lượng nông nghiệp do thiếu nguồn nước ngọt và thoái hóa đất. Độ mặn làm giảm mức năng lượng và khả năng nảy mầm của một số loài thực vật. Trong số 2,85 triệu ha diện tích vùng ven biển thì có tới 1,2 triệu ha đất canh tác bị nhiễm mặn ở các mức độ khác nhau. Ngập triều trong mùa mưa, ngập trực tiếp do nước mặn và nước lợ, ranh mặn tiến sâu trong mùa khô và ngập nước lợ do nuôi tôm là các nguyên nhân chính gây nhiễm mặn ở vùng ven biển Bănglađét.

Người dân Bănglađét chủ yếu nuôi loài tôm hùm Ấn Độ (Peneaus monodon). Độ mặn cần thiết cho sự phát triển tối ưu của loài tôm này là 5-25 ppt và chúng không thể nuôi trong môi trường nước ngọt. Sự xâm nhập mặn tại các vùng duyên hải một mặt giúp nông dân mở rộng diện tích nuôi tôm mang lại thu nhập, nhưng đồng thời cũng gây ra các ảnh hưởng môi trường tiềm tàng khác. Các diện tích đất lớn được chuyển đổi thành các cánh đồng nước mặn diễn ra hàng ngày. Diện tích nuôi tôm tại 3 quận Satkhira, Khulna và Bagerhat tính đến năm 2004 là 115.900 ha, tăng gấp 87 lần so với năm 1975. Đây cũng là chỉ số về sự xâm nhập mặn tăng lên ở các vùng ven biển ở Bănglađét. Trong 3 thập kỷ qua, nhiễm mặn đã làm suy thoái chất lượng đất và nông dân không thể trồng được cây gì trên các vùng đất nhiễm mặn này. Bằng chứng về sự gia tăng nhiễm mặn ở vùng ven biển Bănglađét thể hiện rất rõ. Ví dụ, nhà máy điện của thành phố Khulna đã phải ngược lên thượng lưu để lấy nước ngọt làm mát nồi hơi, trong khi các nhân tố khác cũng góp phần làm tăng nhiễm mặn như khai thác nước ngầm quá mức ở Farakka mà nguyên nhân là do Ấn Độ nắn dòng chảy về Calcutta.

Một đánh giá năm 2005 về sản lượng nông nghiệp sụt giảm cho thấy sản lượng gạo tại làng thuộc quận Satkhira năm 2003 thấp hơn 1.151 tấn so với năm 1985, tương ứng với mức giảm 69%. Trong đó, 77% mức giảm sản lượng này là do các cánh đồng trồng lúa bị chuyển thành các ao nuôi tôm và 23% còn lại là do giảm năng suất. Tốc độ thoái hóa đất do nuôi tôm cũng góp phần khiến sản lượng nông nghiệp giảm. Tốc độ thoái hóa đất ngày càng tăng và diễn ra phổ biến tại các quận Khulna, Satkhira và Bagerhat. Gạo là nguồn lương thực chủ lực của Bănglađét. Ước tính nước này có khoảng 10.000 giống lúa, gồm Aus, Aman, Boro và các giống của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI). Nước biển dâng làm tăng tần suất ngập lụt và độ mặn, đe doạ đến sản lượng của Aman và Boro. Nước biển dâng cũng có thể làm tăng rủi ro về sức khoẻ, các bệnh lây nhiễm qua đường nước như tiêu chảy, tả…Do nguồn nước ngọt khan hiếm, người dân có khi phải sử dụng nguồn nước bị nhiễm bẩn.

Ngoài ra, vùng ven biển còn là nơi tập trung 21 trung tâm dịch vụ nghề cá của nhà nước. Các trung tâm này nằm rất gần bờ biển và cửa sông, có nguy cơ bị nhấn chìm cao khi nước biển dâng. Đối với người dân Bănglađét, cá là nguồn prôtêin chính, chiếm 60-80% nguồn prôtêin động vật. Suy giảm sản lượng cá có thể dẫn đến các vấn đề về sức khoẻ và xã hội khác như suy dinh dưỡng và nghèo đói.

Năm 2003, có khoảng 60 khu nuôi tôm và 124 nhà máy chế biến tôm đặt tại các vùng ven biển, tập trung ở Teknaf, Ukhia và Sadar thana. Nước biển dâng cao có thể nhấn chìm các ao nuôi tôm. Trận lụt năm 2000 ở Bănglađét đã gây thiệt hại ít nhất 500 triệu USD do cây trồng, các trại nuôi cá, tài sản và cơ sở hạ tầng bị hư hại. Ngành nuôi tôm là ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất, với mức thiệt hại ước tính 250 triệu USD.

Bănglađét còn là một trong những nước sản xuất muối lớn trên thế giới. Bờ biển ở Cox’s Bazar rất phù hợp với việc sản xuất muối. Khoảng 19.670 ha được sử dụng để sản xuất muối dọc theo bờ biển Cox’s Bazar. Tại đây có 216 hồ muối với diện tích 8.153 ha chỉ riêng ở Chakaria và Sadar thana, sản xuất ra 175.030 tấn muối hàng năm. Hơn nữa, các nhà máy chế biến muối đều đặt gần bờ biển. Ngành công nghiệp này bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi mực nước biển dâng. Hai mươi triệu người trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến sản xuất muối bị ảnh hưởng và có thể rơi vào tình trạng thất nghiệp.

Nước biển dâng còn làm thay đổi vị trí của các cửa sông, gây ra sự thay đổi lớn đối với các nơi cư trú và bãi đẻ của các loài sinh vật do tăng hàm lượng muối, phân mảnh và thu hẹp nơi cư trú. Bănglađét còn nổi tiếng với Sundarbans, một di sản thế giới được UNESCO công nhận. Sundarbans chính là rừng ngập mặn lớn nhất trên thế giới, nằm ở phía Đông Nam của Bănglađét trải rộng cả 3 quận Khulna, Satkhira và Bagerhat. Khu rừng này còn là điểm nóng về đa dạng sinh học, trong đó có nhiều loài bị đe dọa tuyệt chủng trong Sách Đỏ của IUCN và là nơi cư trú cuối cùng còn sót lại cho loài hổ Bengal (Panthera tigris). Theo đánh giá năm 2000 của WB, Sundarbans sẽ bị nhấn chìm 15% khi nước biển dâng 10 cm, 40% khi nước biển dâng cao 25 cm và bị nhấn chìm hoàn toàn khi mực nước biển dâng 1m. Mất Sundarbans có nghĩa mất di sản, mất đa dạng sinh học, nguồn lợi thuỷ sản, sinh kế và sau cùng là mất đi hệ sinh thái có năng suất cao.

Bănglađét còn là nơi thu hút khách du lịch bởi có những bãi biển đẹp ở Kuakata Patenga, Cox’s Bazar. Ngành du lịch ở Kuakata bị ảnh hưởng nhiều hơn do nằm gần bờ biển và ở khu vực dễ bị tổn thương hơn so với Cox’s Bazar và Chittagong. Ngoài ra, còn có rất nhiều cơ sở hạ tầng du lịch khác được xây dựng ở khu vực ven biển. Trước nguy cơ nước biển dâng, các tài sản này sẽ bị đe doạ và tiềm năng du lịch thiên nhiên cũng bị ảnh hưởng.

Với một nước có địa hình thấp trũng như Bănglađét, thì các tác động của nước biển dâng là quá rõ ràng. Các hoạt động sinh kế của người dân và các hệ sinh thái quan trọng bị ảnh hưởng. Nước biển dâng sẽ là mối đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn tại của Bănglađét. Chính vì vậy, Chính phủ Bănglađét cần phải có những nỗ lực lớn để giải quyết vấn đề, thông qua một chiến lược tổng thể nhằm đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, nhằm đảm bảo tính toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ sự an toàn cho cư dân của mình. Chiến lược quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu của Bănglađét là một phản ứng của chính phủ trước phiên họp lần thứ 7 Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu. Chương trình thích ứng quốc gia (NAPA) đã đưa ra các biện pháp thích ứng dưới dạng một loạt các hành động bổ sung cho các mục tiêu quốc gia và các hiệp ước quốc tế mà Bănglađét đã ký kết. NAPA cũng có mối liên hệ chặt chẽ với các chính sách và các chương trình khác về môi trường như Kế hoạch Hành động quốc gia về đa dạng sinh học, Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý môi trường…

Tuy nhiên, việc thực hiện các hành động thích ứng với biến đổi khí hậu ở Bănglađét gặp phải một số trở ngại. Thứ nhất, thiếu nhận thức về mức độ và quy mô của vấn đề cũng như các hành động cần phải thực hiện - trở ngại lớn nhất trong số những trở ngại. Sự thiếu nhận thức này tồn tại ở cả các cấp, gồm các nhà ra chính sách cấp quốc gia cho đến cấp ngành và địa phương, các nhóm xã hội dân sự và cả các cộng đồng dễ bị tổn thương. Thứ hai, thiếu sự lồng ghép các tác động của biến đổi khí hậu vào quá trình xây dựng và triển khai các chính sách, các chương trình ở các lĩnh vực nhạy cảm với biến đổi khí hậu. Trở ngại cuối cùng trong thực hiện các hành động là thiếu các công cụ phù hợp, tri thức và phương pháp luận để hướng dẫn cho người ra quyết định.

Trong thời gian trước khi có NAPA, kể từ Kế hoạch 5 năm lần thứ 4 và cuối cùng là Kế hoạch 5 năm lần thứ 5 (1997-2020), vấn đề bảo tồn và bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững nền kinh tế đã được Chính phủ Bằnglađét chú ý đến và tiếp theo đó là Chiến lược Giảm nghèo đói (PRSP). Trong khoảng thời gian từ đó đến nay, Chính phủ Bănglađét đã có những hành động nhằm hạn chế các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu. Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ trong thời gian diễn ra thảm họa đã phối hợp hành động, giảm thiệt hại về người và tài sản. Các sáng kiến ban đầu đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao và ghi nhận. Chính phủ Bănglađét đã cho xây dựng gần 2.000 khu nhà tránh bão ở vùng duyên hải, khoảng 200 khu nhà tránh lũ lụt trên nền đất cao cho những người bị đe doạ bởi bão và ngập lụt. Khoảng 3.931 km đê bao vùng ven biển đã được xây dựng qua các năm nhằm bảo vệ đất khỏi bị nhiễm mặn do thuỷ triều và nước dâng do bão và đào thêm 4.774 km hệ thống kênh thoát nước. Chính phủ cũng đã thực hiện Dự án Vành đai Xanh ở các vùng ven biển với sự tham gia của cộng đồng địa phương. Chương trình tái trồng rừng này nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của thiên nhiên, nhất là các ảnh hưởng do bão và nước dâng, đồng thời cải thiện sinh kế cho người dân địa phương.

Gia tăng nhiễm mặn đã làm trầm trọng thêm vấn đề cung cấp nước sạch ở các vùng duyên hải. Công nghệ thu gom nước mưa được chính phủ và các nhóm phi chính phủ tuyên truyền và phổ biến rộng rãi. Nền nông nghiệp thích nghi với ngập lụt được thúc đẩy thông qua nghiên cứu các giống lúa chịu mặn ; lắp đặt hệ thống ống dùng cho tưới tiêu gần mặt đất nhằm giảm tác động của độ mặn…

Các giải pháp thích ứng được đề xuất cho Bănglađét nhằm giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng dựa trên các cơ chế hiện nay, các thực tiễn và các chiến lược tương lai. Các giải pháp này được chia thành 2 nhóm, gồm nhóm ‘can thiệp’ và nhóm ‘hỗ trợ’.



Nhóm các giải pháp can thiệp bao gồm:

1. Thúc đẩy áp dụng nền canh tác vùng ven biển trong điều kiện độ mặn tăng.

2. Thúc đẩy ngư nghiệp vùng ven biển thông qua ương, nuôi, đa dạng hóa các thực tiễn nuôi các loài cá có khả năng chịu mặn ở các vùng ven biển của Bănglađét.

3. Xây dựng các khu nhà tránh lũ, thành lập trung tâm thông tin và hỗ trợ cho tình hình ngập lụt ngày càng tăng.

4. Giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu thông qua tái trồng rừng với sự tham gia của cộng đồng địa phương.

5. Cung cấp nước sạch cho các cộng đồng vùng ven biển nhằm giải quyết tình trạng nhiễm mặn gia tăng do nước biển dâng.

6. Tăng tính ‘đàn hồi’ của cơ sở hạ tầng độ thị và các ngành công nghiệp trước các tác động của biến đổi khí hậu, như ngập lụt và bão.

Nhóm các giải pháp hỗ trợ bao gồm:

1. Xây dựng năng lực về lồng ghép biến đổi khí hậu vào quá trình quy hoạch, thiết kế xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý xung đột.

2. Tìm kiếm các giải pháp về bảo hiểm trước các thảm hoạ về biến đổi khí hậu

3. Lồng ghép thích ứng với biến đổi khí hậu vào các chính sách và các chương trình trong các ngành/lĩnh vực khác nhau.

4. Đưa vấn đề biến đổi khí hậu vào chương trình giảng dạy ở cấp trung học trở lên.

5. Phổ biến thông tin về biến đổi khí hậu và các giải pháp thích ứng cho các cộng đồng dễ bị tổn thương, các giải pháp ứng phó khẩn cấp và nâng cao nhận thức về các thảm hoạ liên quan đến khí hậu.

6. Thúc đẩy nghiên cứu các giống cây trồng có khả năng chống mặn, ngập lụt nhằm hỗ trợ cho việc thích ứng trong tương lai.

7. Tìm kiếm và phổ biến các tri thức/kinh nghiệm về thích ứng (bao gồm cả các tri thức bản địa) với khả năng biến đổi của khí hậu.





Hình 6. Sơ đồ quy trình soạn thảo NAPA của Bănglađét

Nguồn: Bộ Môi trường và Rừng, Bănglađét, 11/2005
1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương