ĐỔi mới thể chế phân bổ nguồn lực và phân bổ LỢI Ích đỂ TẠO ĐỘng lực cho phát triển ts. Lê Đăng Doanh



tải về 114.77 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu11.07.2016
Kích114.77 Kb.
ĐỔI MỚI THỂ CHẾ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC VÀ PHÂN BỔ LỢI ÍCH ĐỂ TẠO ĐỘNG LỰC CHO PHÁT TRIỂN
TS.Lê Đăng Doanh


  1. Nhận dạng thể chế phân bổ nguồn lực hiện nay

Trong gần 30 năm qua từ khi bắt đầu công cuộc Đổi Mới cho đến nay, nước ta đã huy động và sử dụng nguồn lực to lớn để phát triển đất nước nhưng chưa đem lại kết quả tương xứng. Tuy nước ta đã vượt qua được ngưỡng nước nghèo, song chúng ta không đạt được mục tiêu “trở thành nước cơ bản công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào năm 2020” và đang đứng trước nguy cơ rơi vào bãy thu nhập trung bình ở mức thu nhập còn rất thấp. Tốc độ tăng trưởng và phát triển dưới tiềm năng của nền kinh tế, tham ô, lãng phí tràn lan gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hôi, tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, môi trường sống bị ô nhiễm trầm trọng, phân biệt giàu nghèo ngày càng tăng lên nhanh chóng. Nợ công và nợ nước ngoài tăng nhanh với tốc độ chưa từng thấy từ 1986 đến nay.

Chúng ta đã thu hút được 230 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư nước ngoai, trong đó đã thực hiện 42 tỷ USD, trung bình 2,1 tỷ USD/ năm.



Chúng ta cũng huy động được 80 tỷ USD vốn ODA cam kết, trong đó giải ngân được 38 tỷ USD, hiện còn trên 20 tỷ USD chưa được giải ngân.



Chúng ta cũng tăng cường vay nợ và số nợ nước công bao gồm nợ trong nước và nước ngoài đã tăng lên rất nhanh trong thời gian gần đây.1

Khoảng cách giữa khái niệm “vốn đầu tư” và “đầu tư” tức số tài sản cố định hình thành từ vốn đầu tư có khoảng chênh lệch quá lớn, lên đến 50%, cho thấy hoạt động đầu tư rất kém hiệu quả:


Vốn đầu tư và tích lũy tài sản (theo giá 1994)(Đvt. Ngàn tỉ đồng)

Năm

2001

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

Vốn đầu tư

115.1

129.4

148.0

166.8

189.3

213.9

243.3

306.1

Đầu tư

83.5

92.5

104.3

116.6

128.9

143.3

160.2

199.0

Khác biệt

38%

40%

42%

43%

47%

49%

52%

54%

Nguồn: Niên giám thống kê

Chúng ta có thể thấy trong thời gian qua, nước ta đã quá chú trọng đến huy động các nguồn vốn khác nhau để đầu tư, song đã lãng quên việc sử dụng số vốn đó có hiệu quả.

Việc dự án Luật Đầu tư công đến bây giờ mới sắp được trình ra lần đầu tiên trong lịch sử nước ta chứng tỏ sự sao nhãng đó.

Nếu so sánh hiệu quả giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư tư nhân trong nước với đầu tư nước ngoài ta có thể thấy rõ sự chênh lệch quá lớn này.

Hệ số ICOR thời kỳ 2000-2007 tính theo vốn đầu tư





Hệ số ICOR

Toàn nền kinh tế

5,2

+ Khu vực nhà nước

7,8

+ Khu vực ngoài nhà nước

3,2

+ Khu vực có vốn FDI

5,2

Nguồn: Tính toán của Bùi Trinh (2009) và TCTK

Hệ số ICOR của đầu tư từ các doanh nghiệp nhà nước cao hơn gấp 2 lần khu vực ngoài nhà nước. Khu vực tư nhân có động lực để đầu tư tiết kiệm, có hiệu quả trong khi khu vực nhà nước lại có động lực đầu tư càng nhiều thì càng có khả năng lạm dụng, tham nhũng.

KTS.Nguyễn Ngọc Dũng, Hiệp hội Kiến trúc sư TP.Hồ Chí Minh đã liệt kê một loạt các chi phí không thể hạch toán được chính xác như:

- Quy hoạch cẩu thả, phải điều chỉnh nhiều lần, có công trình đã xây lại phải phá đi, nhà dân phải đền bù, giải tỏa nhiều lần theo điều chỉnh quy hoạch (như nắn quy hoạch, nắn đường để nhà thủ trưởng có mặt tiền v.v...). Thí dụ như nhiều cảng biển ở Miền Trung không có hàng hóa để vận chuyển, mật độ cảng biển quá dày đặc (30-40 km lại có một cảng biển).

- Quy hoạch không điều tra đầy đủ về lịch sử, khảo cổ, cảnh quan, xây dựng trên những mảnh đất có di tích lịch sử, phá hoại di tích, làm tổn thương cảnh quan, làm hư hỏng các công trình cần được bảo tồn hay xây dựng gây úng ngập, gây ô nhiễm v.v... Những thiệt hại về cảnh quan, văn hóa là vô giá, vĩnh viễn xóa đi các di vật quý báu của lịch sử.

- Thiệt hại về môi trường (như mất rừng, làm biến động chế độ thủy văn v.v. đối với thủy điện) thường chưa được tính đầy đủ và rất khó để kiểm toán xác định.

- Chi phí đền bù, giải tỏa khai khống hoặc tăng lên quá sự thật cũng không dể kiểm toán, chứng minh.

- Công trình thi công chất lượng quá kém, phải sửa chữa nhiều lần gây tốn kém, thậm chí bị lũ bão cuốn trôi (cầu Văn Thánh, đê bao, công trình thủy lợi v.v.)

Những loại thiếu sót sau đây cần sự hợp tác chặt chẽ với các cơ quan liên quan để xác định trách nhiệm:

- Quy trình xét duyệt, thẩm định từ dự án tiền khả thi, thiết kế rườm rà, chế độ trách nhiệm không rõ ràng, đùn đẩy trách nhiệm, chủ đầu tư phải làm đi làm ại nhiều lần, nhiều tầng nấc, gây chậm trễ về thời gian, tốn kém công sức, chi phí của chủ đầu tư. Theo kinh nghiệm, bình quân mất ít nhất 3 năm để thông qua một dự án đầu tư.

- Chi phí thu xếp vốn, giải ngân ở các ngân hàng sau khi có quyết định đầu tư. Tình trạng chiếm dụng vốn, chậm thanh toán cũng gây lãng phí, tổn thất không nhỏ cho công trình. Không ít công trình không thể quyết toán được và không được kiểm toán.

- Màn kịch đấu thầu, “quân xanh, quân đỏ”, đấu thầu chân gỗ, ưu ái công ty sân sau, lạm dụng chỉ định thầu do thời hạn thúc ép (các công trình 1000 năm Thăng Long), đòi hỏi các thủ tục rút gọn, ngoại lệ, phá vỡ các tiêu chuẩn, định mực đầu tư. Kiểm toán có thể phát hiện những chi phí bất thường nhưng khó kết luận và quy trách nhiệm.

- Bán thầu diễn ra nhiều lần, dẫn đến sau mỗi lần vốn đầu tự bị xà xẻo 3-5%, đến đơn vị thi công B4 phảy, 5 phảy dù nỗ lực đến mấy cũng không thể bảo đảm chất lượng, dẫn đến rút ruột công trình, thay thế vật tư. Có hiện tượng công ty “4 không” vẫn thắng thầu (không vốn, không thiết bị, không kỹ thuật, không công nhân), sau đó nhượng lại ngay vẫn trót lọt.

- Ban Quản lý dự án thiếu chuyên nghiệp, quyền hạn, trách nhiệm pháp lý không rõ ràng (như trường hợp PMU 18)

- Trách nhiệm không rõ ràng, có dấu hiệu thông đồng từ khâu thẩm định, xét duyệt thiết kế dự án đến nghiệm thu công trình, dẫn đến những sai sót trong tính năng của công trình, quyết toán khống, tính trùng lắp khổi lượng, đội chi phí lên cao. Những thiếu sót ở các khâu này gây thiệt hại to lớn, hậu quả nghiêm trọng nhưng kiểm toán khó có thể vào cuộc, đòi hỏi sự phối hợp và hợp tác của các cơ quan khác.

Những phát hiện này cho thấy yêu cầu cấp bách phải cải cascu các quy định về đầu tư công, giám sát và thực hiện đầu tư công. Có thể thấy, nước ta đã phân bổ và đầu tư một lượng rất lớn tiền vốn, tài nguyên vào kinh tế nhà nước nhưng quy định có quá nhiều sơ hở, tạo ra động lực sử dụng vốn không hiệu quả, tạo ra miếng đất màu mỡ cho tham nhũng, lãng phí. Mặt khác, ta cũng không kiểm soát có hiệu lực động lực đầu cơ vào bất động sản, thị trường chứng khoán, tạo ra nợ xấu, bong bong bất động sản, tác động tiêu cực tới nền kinh tế. Chúng ta cũng cải cách quá chậm về thể chế. Các xếp hạng quốc tế của nước ta liên quan đến thể chế đều ở mức thấp và chậm được cải thiện.


IFC công bố luôn ở mức thấp và chậm được cải thiện (2014 xếp thứ 99, 2013 xếp thứ 98). Năng lực cạnh tranh quốc gia (do WEF công bố).



Có thể thấy các chỉ số liên quan đến thể chế có xếp hạng thấp hơn nhiều (98) so với xếp hạng của nền kinh tế nói chung trong đó xếp hạng về giáo dục đào tạo (95) và hấp thụ công nghệ (102) đều rất thấp.

Đó là những trở ngại cần được khắc phục trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tăng trưởng chủ yếu giựa vào tiền vốn, khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ làm gia công sang nền kinh tế phát triển dựa trên sang tạo, công nghệ cao và nhân lực có chất lượng cao.

Chỉ số cảm nhận tham nhũng (do TI công bố) của nước ta đều ở mức rất thấp và chậm được cải thiện.



Nguồn nhân lực chậm được cải thiện, hệ thống giáo dục-đào tạo không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và xã hội. Người tài không được trọng dụng trong bộ máy nhà nước làm cho chất lượng quản lý nhà nước bị giảm sút. Tâm lý-xã hội có sự phân tâm nghiêm trọng, niềm tin giảm sút.

Trong khi đó nhà nước đã và tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong đầu tư trực tiếp nguồn lực vào nền kinh tế thong qua các dự án đầu tư, các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình xóa đói, giảm nghèo v.v... Nguồn vốn ODA to lớn cũng do bộ máy nhà nước phân bổ, điều hành với rất nhiều lãng phí, tiêu cực. Ngoài ra, với vai trò chủ sở hữu đất đai, tài nguyên, rừng biển, nhà nước có thể cấp phép và phân bổ lợi ích của tài nguyên trên quy mô rất lớn cho doanh nghiệp, trong đó, người có quyền được phân phối lại theo tỷ lệ rất lớn. Bộ máy hành chính, trong khi thực thi nhiệm vụ của mình, cũng đòi hỏi người dân và doanh nghiệp chi thêm ngoài pháp luật một tỷ lệ không nhỏ. Những chi phí không chính thức đó làm tăng chi phí sản xuất ở nước ta, làm cho giá thành sản phẩm tăng cao và giảm lợi thế cạnh tranh. Qua nhiều kênh khác nhau, hệ thống phân bổ nguồn lực và lợi ích này làm cho chênh lệch giàu nghèo tăng lên, năng lực cạnh tranh giảm sút và động lực kinh doanh của doanh nhân bị hạn chế.

Hệ quả của thể chế này là một thiểu số trở nên giàu có quá nhanh chóng trong khi họ không có đóng góp gì vào thu ngân sách và tiến bộ xã hội. Có thể điểm qua một số ví dụ sau dây:

Việc đẩy cung tín dụng lên quá cao để đáp ứng sự bùng nổ của bất động sản, đầu tư chứng khoán đã làm cho lạm phát bị đẩy lên cao, làm cho thu nhập thực của người dân bị giảm sút và đời sống người dân chậm được cải thiện. Bất bình đẳng trong xã hội tăng lên, ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế - xã hội.

Liên tục các Đại hội Đảng từ 1986 đến 2011 đã có Nghị quyết về công nghiệp hóa và không hề có nghị quyết nào về bất động sản hay đầu tư chứng khoán nhưng trong thực tế thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán đã bùng phát dữ dội và thu hút được một số vốn khổng lồ, làm giàu cho một số quan chức nhưng gây ra bong bong bất động sản, đầu cơ chứng khoán, đóng góp vào khủng hoảng ngân hàng, nợ xấu. Ví dụ đó cho thấy cần phải xem xét rất nghiêm túc khâu tổ chức thực hiện Nghị quyết, hiệu lực của Nghị quyết trong cuộc sống và động lực thực hiện Nghị quyết trong nền kinh tế thị trường.

Nhà nước ban hành rất nhiều quy hoạch ngành, lãnh thổ nhưng hầu hết các quy hoạch đó đều không được thực hiện nghiêm túc.

Nếu sử dụng số vốn đã huy động được một cách có hiệu quả hơn thì quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế chắc chắn đã có kết quả khá hơn, chênh lệch giàu nghèo và bất công trong xã hội đã có thể giảm bớt.



II. Đến năm 2020 nước ta chưa trở thành nước “cơ bản công nghiệp hóa theo hướng hiện đại”

Kiên trì đường lối công nghiệp hóa, song tổ chức thực hiện còn nhiều vấn đề.

Đại hội VI của Đảng (19986) đã kiên trì đường lối công nghiệp hóa đất nước trong khi quyết định đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý quản lý kinh tế. Sau khi các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô tan rã trong những năm 1989-1990, không chỉ gây ra nhiều hệ lụy về lý luận và tư tưởng mà còn làm biến mất mô hình kinh tế đã được xác định trước đây. Hơn thế nữa, nước ta đã đột ngột mất đi nguồn viện trợ vật chất to lớn (xăng dầu, sắt thép, tín dụng dài hạn để phục vụ công nghiệp hóa v.v...) và thị trường truyền thồng cho hàng xuất khẩu, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, lạm phát cao. Tuy vậy, những Đại hội Đảng tiếp theo đến Đại Hội XI đều đã kiên định đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đề ra mục tiêu đến năm 2020 biến nước ta thành nước “cơ bản công nghiệp hóa theo hướng hiện đại” với những mục tiêu cụ thể.



Công nghiệp hóa là mục tiêu lâu dài, xây dựng Việt Nam trở thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, quan hệ cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản suất, đời sống vật chấttinh thần cao, an ninh quốc phòng vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằngdân chủ, văn minh. Ra sức phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp, với tỷ trọng ngành công nghiệp vượt trội hơn các ngành khác.

Đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp với tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp chiếm 16-17%, công nghiệp khoảng 40-41%, dịch vụ chiếm 42-43%, tỷ trọng lao động trong tổng lao động xã hội, lao động công nghiệp và dịch vụ là 50%, nông nghiệp là 50%.

Với các tiêu chí đó, thực tế thực hiện cho đến nay cho thấy nước ta đến năm 2020 chưa đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế của một nước công nghiệp hóa. Tuy vậy, chúng ta chưa xác định cụ thể cho những khái niệm “lực lượng sản xuất cao” và “quan hệ sản xuất” phù hợp là thế nào.

Nếu so sánh với các nước công nghiệp hoá khác trong khu vực ta thấy Việt Nam còn một quá trình rất dài, hàng chục năm mới có thể bắt kịp các nước thu nhập trung bình khác.

Đỗ Quốc Sam (2009) đã thử áp dụng các tiêu chuẩn của các giai đoạn công nghiệp hoá của hai tác giả H.Chenery và H.Inkeles vào quá trình công nghiệp hoá của Việt Nam và đã đi đến những kết quả như sau:

Trong những năm 80 của thế kỷ 20, H. Chenery đã đề xuất những tiêu chí tối thiểu cho các giai đoạn công nghiệp hoá theo mô hình cổ điển trước đây. Chenery chia quá trình CNH thành các giai đoạn: Tiền CNH, khởi đầu CNH, phát triển CNH, hoàn thiện CNH và hậu CNH.



Các giai đoạn công nghiệp hóa theo H.Chenery

Chỉ tiêu cơ bản

Tiền CNH

Khởi đầu CNH

Phát triển CNH

Hoàn thiện CNH

Hậu CNH

GDP/ người (USD1964)

USD2004

100-200

720-1440


200-400

1440-2880



400-800

2880-5760



800-1550

5760-10810






Cơ cấu ngành

A>I

A>20%,A

A<20%, I>S

A<10%,I>S

A<10%,I

Tỷ trọng CN chế tác

20%

20-40%

40-50%

50-60%

>60%

Lao động NN

>60%

45-60%

30-45%

10-30%

<10%

Đô thị hoá

<30%

30-50%

50-60%

60-75%

>75%

Chú thích: A: Nông nghiệp; I: Công nghiệp; S: Dịch vụ

Nhà xã hội học Mỹ A.Inkeles đã đưa ra một bộ tiêu chí khác vào những năm 80 của thế kỷ 20, bao gồm một số tiêu chí về văn hoá, xã hội, giáo dục nhưng lại thiếu những chỉ tiêu về chất lượng và chưa đề cập đến xu hướng tin học hoá, toàn cầu hoá nên chưa đáp ứng được các yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá trong giai đoạn hiện nay.



Chỉ tiêu công nghiệp hoá theo A.Inkeles

Chỉ tiêu cơ bản

Đơn vị

Chuẩn CNH

Trị số tham khảo

1. GDP/người

USD

>3000

Mỹ 3243 (1965)

2. Tỷ trọng A/GDP

%

12-15

11 (1929)

3. Tỷ trọng S/GDP

%

>45

48 (1929)

4. Lao động phi NN

%

>75

79 (1929)

5. Tỷ lệ biết chữ

%

80

---

6. Tỷ lệ sinh viên ĐH/1000 dân

%

12-15

16 (1945)

7. Bác sĩ/1000 dân

%0

>1

1.3 (1960)

8. Tuổi thọ trung bình

Năm

>70

70 (1960)

9. Tăng dân số

%

<1

1 (1965)

10. Tử vong trẻ sơ sinh

%

<3

2.6 (1960)

11. Đô thị hoá

%

>50

66 (1960)

Chú thích: A: Nông nghiệp; S: Dịch vụ; ĐH: Đại học

Tham khảo và đối chiếu với các tiêu chí trên, có bổ sung một số tiêu chí về công nghệ thông tin, Đỗ Quốc Sam (2009) đã đề xuất các chỉ tiêu sau cho Việt Nam:



TT

Chỉ tiêu

Đơn vị

Chuẩn CNH

Mức đạt 2005

1

GDP/người

USD

>5000

640

2.

Tỷ trọng NN/GDP

%

10

21

3

Tỷ lệ lao động NN

%

<30

54

4.

Tỷ lệ đô thị hoá

%

>50

27

5

Chênh lệch thu nhập (20% cao nhất/thấp nhất)

lần

4

4,9

6

Số bác sĩ/1000 dân

Số

1

0,62

7

Chi cho khoa học-giáo dục/GDP

%

8

6,4

8

Sinh viên/1000 dân

Số

150

167

9

Sử dụng Internet/ dân số

%

25

12,9

10

Tỷ lệ công nghệ cao trong công nghiệp chế tác

%

12

6

11

Sử dụng nước sạch/dân số

%

100

85

12

Tỷ lệ rừng che phủ

%

42

38,8

Như vậy, khoảng cách về GDP/người là rất lớn và không thể đạt được vào năm 2020, trừ phi Việt Nam áp dụng tiêu chuẩn riêng, sử dụng thước đo GDP/người tính theo sức mua tương đương. Quốc tế có thể sẽ ghi nhận cách tiếp cận này còn họ có công nhận đã là nước công nghiệp hoá hay chưa lại là vấn đề khác.

Trong biểu trên chưa có tiêu chí về tình hình môi trường ở Việt Nam là một trong những yếu tố bảo đảm tăng trưởng bền vững, chỉ riêng tỷ lệ rừng che phủ chưa bao quát được đầy đủ các vấn đề của môi trường. Trước nguy cơ trái đất ấm lên và nước biển dâng cao, sẽ làm ngập một phần đáng kể đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, tác động rất mạnh đến kinh tế và đời sống của người dân Việt Nam trong những thập kỷ tới, Việt Nam chưa có giải pháp có hiệu lực thích đáng.

Chỉ số về chênh lệch giàu nghèo đang tiếp tục tăng lên trong những năm gần đây và cho tới nay, chưa có chỉ dẫn nào để đảm bảo chỉ số đó sẽ được cải thiện nếu không có những cải cách quan trọng về chính sách và thể chế.

Chỉ số sinh viên trên 10.000 dân của Việt Nam đã vượt mức cần đạt được. Đây thực sự là một vấn đề cần được phân tích khách quan và toàn diện vì giáo dục Việt Nam hiện đang được đánh giá rất thấp trong các tiêu chí năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng giáo dục rất thấp và chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp trong nước và ngoài nước.

Các phương án tăng trưởng dựa trên những giả định tính toán khác nhau cho thấy bức tranh như sau:

Phương án 1. Tốc độ tăng trưởng đạt liên tục 13%/ năm, GDP/người năm 2020 sẽ đạt khoảng 3.700 USD, gấp 3,5 lần năm 2010 (1.100 USD). Tính tròn dân số là 100 triệu người, năm 2020 GDP sẽ đạt 370 tỷ USD. Trong lịch sử, Việt Nam chưa bao giờ liên tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian dài như vậy. Với cuộc khủng hoảng toàn cầu nghiêm trọng hiện nay, phương án này chỉ có ý nghĩa tham khảo.

Phương án 2. Tốc độ tăng trưởng đạt 11%/năm liên tục cho đến năm 2020, GDP/người năm 2020 sẽ đạt 3.100 USD, gần gấp 3 lần mức đạt năm 2010. Quy mô GDP sẽ đạt 310 tỷ USD.

Phương án 3. Tốc độ tăng trưởng đạt 9%/năm, GDP/người năm 2020 đạt 2.600 USD, gấp 2,5 lần so với năm 2010. Nếu tính theo sức mua tương đương (PPP) theo chỉ số đã được điều chỉnh của Ngân hàng Thế giới năm 2007 (2,6), thì GDP/người của Việt Nam sẽ vào khoảng 6.700 USD.

Xét tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay và khả năng hồi phục, Việt Nam sẽ mất khoảng hai năm 2009 và 2010 để vượt qua khủng hoảng và bắt đầu phục hồi, khả năng tăng trưởng cao chỉ có thể diễn ra trong 10 năm còn lại 2010-2020, nếu như có những cải cách có hiệu quả. Nếu không quyết tâm thực hiện cải cách cần thiết, rất có thể tình trạng trì trệ sẽ kéo dài và Việt Nam có thể rơi vào cái “bẫy thu nhập trung bình” với vòng luẩn quẩn “kỳ diệu - ác mộng - khủng hoảng” như đã diễn ra ở Philippines, Indonesia v.v...



Về cơ cấu kinh tế theo ngành, các dự báo từ các trung tâm nghiên cứu khác nhau đều thống nhất đưa ra yêu cầu giảm tỷ trong nông nghiệp trong GDP xuống còn 10% hoặc thấp hơn nữa, tuy đây không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Công nghiệp cần đạt 40-45% và dịch vụ 45-50% GDP. Trong công nghiệp, tỷ lệ công nghiệp chế tác có hàm lượng công nghệ cao cần đạt 30-35%, trong các sản phẩm xuất khẩu cần đạt tới 75-80% tổng kim ngạch xuất khẩu.

III. Kết luận

Nước ta đang ở giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Cải cách thể chế phân bổ nguồn lực, điều chỉnh dòng vốn, nguồn lực xã hội, nguồn nhân lực vào sự nghiệp phát triển của đất nước đòi hỏi phải cải cách cơ bản hệ thống đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước, hệ thống đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực.




1 http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/602647/no-cong-sap-toi-lan-ranh-do.html





Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương