Hà Nội, 2012 MỤc lụC 6 phần mở ĐẦU 7 phần I: hiện trạng 9



tải về 0.5 Mb.
trang2/10
Chuyển đổi dữ liệu04.08.2016
Kích0.5 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

PHẦN MỞ ĐẦU


Việt Nam được ghi nhận là một trong những nước có đa dạng sinh học cao của thế giới, với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật và nguồn gen phong phú và đặc hữu. ĐDSH ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn, các hệ sinh thái với nguồn tài nguyên sinh vật phong phú đã mang lại những lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp to lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; duy trì nguồn gen tạo giống vật nuôi, cây trồng; cung cấp vật liệu cho xây dựng và các nguồn dược liệu, thực phẩm…. Ngoài ra, các hệ sinh thái còn đóng vai trò quan trọng trong điều tiết khí hậu và bảo vệ môi trường. ĐDSH còn là nguồn cảm hứng văn hoá nghệ thuật của con người từ hàng ngàn năm nay, được thể hiện qua các bức vẽ tạc khắc từ xa xưa.

Nhận thức được tầm quan trọng của ĐDSH, trong hai thập niên gần đây, Nhà nước đã ban hành khung pháp lý tương đối đầy đủ liên quan đến bảo tồn ĐDSH. Nhiều bộ luật quan trọng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên đã ra đời và được hoàn thiện, như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng (năm 1991 (sửa đổi, bổ sung năm 2004); Luật Đất đai (năm 1993; sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2003); Luật Bảo vệ môi trường ( năm 1993; sửa đổi, bổ sung năm 2005); Luật Tài nguyên nước (năm 1998, sửa đổi, bổ sung năm 2012); Luật Thủy sản (năm 2003). Đặc biệt, Luật Đa dạng sinh học (năm 2008) đã mở ra một bước ngoặt đối với công tác bảo tồn ĐDSH, đã xác định các nguyên tắc và ưu tiên bảo tồn ĐDSH của các cấp, từ quốc gia, bộ ngành, đến địa phương; tạo cơ sở pháp lý để các cộng động địa phương tham gia bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên thông qua các cơ chế mới về đồng quản lý và chia sẻ lợi ích. Ngoài ra, nhiều chiến lược, kế hoạch, quy hoạch liên quan đến ĐDSH cũng đã được triển khai, đặc biệt, các Kế hoạch hành động ĐDSH 1995 và 2007 đã xác định lộ trình và các hành động nhằm phối hợp đồng bộ các hoạt động bảo tồn ĐDSH tại Việt Nam, từ trung ương tới địa phương. Nhiều chương trình, dự án đã được triển khai nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên đa dạng sinh học nên đến nay, diện tích các hệ sinh thái được bảo tồn ngày càng tăng, các loài mới được phát hiện đóng góp nhiều cho khoa học, các nguồn gen được bảo tồn và lưu giữ phát huy giá trị trong công tác chọn, tạo giống…

Bên cạnh những thành tựu về bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH đã đạt được, do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, trong những năm gần đây, ĐDSH của nước ta tiếp tục suy giảm về lượng và suy thoái về chất với tốc độ cao. Bối cảnh trong nước đã đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý đa dạng sinh học. Nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng, đem lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội nhưng cũng gây ra nhiều áp lực nên đa dạng sinh học; Dân số Việt Nam đang tiếp tục tăng từ dưới 73 triệu vào năm 1995 lên trên 87,84 triệu trong năm 2011, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước đông dân nhất trong khu vực châu Á đã tạo ra một nhu cầu lớn về tiêu thụ tài nguyên cũng như sử dụng đất. Ngoài ra, bối cảnh toàn cầu cũng đặt ra những thách thức và những cơ hội mới: một mặt, mức độ biến đổi khí hậu trở nên nghiêm trọng hơn và ngày càng tác động tiêu cực đến ĐDSH; mặt khác, hơn bao giờ hết bảo tồn ĐDSH đã được quan tâm ở quy mô toàn cầu và thập kỷ 2010-2020 được quốc tế xác định là thập kỷ đa dạng sinh học với nhiều cam kết quốc tế đã được cộng đồng thế giới thông qua tạo điều kiện thúc đẩy bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH.

Trước bối cảnh đó, Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 xác định các mục tiêu, nhiệm vụ cho công tác bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học phù hợp với thời kỳ mới, đồng thời thực hiện cam kết đối với Công ước đa dạng sinh học mà Việt Nam là thành viên.

Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 là một bộ phận không thể tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nhằm bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên đa dạng sinh học, tạo cơ sở cho phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay.

PHẦN I: HIỆN TRẠNG

I.1. Sự phong phú và vai trò của ĐDSH Việt Nam

I.1.1. ĐDSH Việt Nam phong phú


Lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 15 vĩ độ, từ phía Bắc xuống phía Nam với chiều dài khoảng 1.650 km trên bán đảo Đông Dương với tổng diện tích tự nhiên trên đất liền là 330.591 km2. Do địa hình chia cắt mạnh mẽ, cùng với lượng mưa trung bình năm là tương đối cao nên , mạng lưới sông suối tương đối dầy, mật độ lưới sông từ dưới 0,5 km/km2 đến 2 km/km2. Trên phần lục địa, có 16 lưu vực sông chính, trong đó, 10 lưu vực sông có diện tích hơn 10.000 km2, chiếm 80% diện tích cả nước. Hai hệ thống sông lớn nhất là sông Hồng ở miền Bắc và sông Mê Kông - Cửu Long ở miền Nam tạo ra hai lưu vực sông lớn là đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Phần lớn diện tích lãnh thổ Việt Nam là địa hình đồi núi với đỉnh núi cao nhất trên 3.000 m so với mực nước biển. Vùng biển có bờ biển dài khoảng 3260 km với hàng nghìn đảo lớn nhỏ ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có vùng biển đặc quyền kinh tế trên 1 triệu km2.

Địa hình và khí hậu của Việt Nam đã tạo ra sự đa dạng của các hệ sinh thái tự nhiên, trong đó hệ sinh thái rừng bao gồm: rừng thường xanh đất thấp, rừng bán thường xanh, rừng rụng lá, rừng trên núi thấp hay núi cao, rừng đầm lầy nước ngọt, rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn….Ngoài hệ sinh thái rừng, Việt Nam cũng có nhiều hệ sinh thái khác rất đa dạng, như đồng cỏ, các vùng đất ngập nước nội địa, đụn cát, bãi triều, cửa sông, thảm cỏ biển và rạn san hô và vùng biển sâu.

Việt Nam là nơi sống của khoảng 7.500 loài chủng vi sinh vật; khoảng 20.000 loài thực vật có mạch trên cạn và dưới nước; khoảng 10.500 loài động vật trên cạn gồm khoảng 1000 loài động vật không xương sống ở đất, 7700 loài côn trùng, khoảng 1000 loài cá ở nước ngọt, gần 500 loài bò sát-ếch nhái, 850 loài chim và 312 loài thú và trên 1000 loài động vật không xương sống Dưới biển có trên 7000 loài động vật không xương sống, khoảng 2.500 loài cá nước ngọt và xấp xỉ 50 loài rắn biển, rùa biển và thú biển. Ngoài ra, các nhà khoa học cho rằng ở Việt Nam, số loài sinh vật đã biết trên đây thấp hơn nhiều so với số loài đang sống trong thiên nhiên chưa được điều tra, thống kê và mô tả. (Báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học năm 2011)

I.1.2. ĐDSH Việt Nam có ý nghĩa toàn cầu


Bên cạnh ưu thế với các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù và thành phần loài sinh vật đa dạng, trong hơn 20 năm qua, nhiều loài sinh vật mới cho khoa học được phát hiện đã khẳng định tầm quan trọng toàn cầu của ĐDSH Việt Nam. Một loài thú móng guốc lớn mới là sao la (Pseudoryx nghetinhensis) đã được phát hiện vào năm 1992. Đây là loài động vật trên cạn lớn nhất thế giới được phát hiện kể từ năm 1937 (năm phát hiện loài bò xám – Bos sauveli) ở Đông Dương. Ba loài thú mới khác cũng cũng được phát hiện trong thời gian qua, đó là: cheo cheo lưng bạc (Tragulus versicolor), mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis) và mang trường sơn (Munticus truongsonensis). Gần đây nhất, năm 2011, loài chồn bạc má cúc phương (Melogale cucphuongensis) được tìm thấy tại Vườn Quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình). Nhiều loài sinh vật mới khác cũng đã được phát hiện và mô tả ở Việt Nam. Đó là: 3 loài rùa, 15 loài thằn lằn, 4 loài rắn, 31 loài ếch, 55 loài cá, hơn 500 loài động vật không xương sống và hơn 200 loài thực vật có mạch (tập hợp nhiều nguồn dẫn liệu từ Viện STTNSV, Tạp chí Sinh học và các Tạp chí Zoo Taxa, Crustaceana...).

Trong số 238 vùng sinh thái ưu tiên toàn cầu được Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) ghi nhận, Việt Nam đã có 6 vùng sinh thái. Đó là: Vùng sinh thái Rừng ẩm trên dãy Trường Sơn; Rừng khô Đông Dương; Vùng hạ lưu sông Mekong; Rừng ẩm á nhiệt đới Bắc Đông Dương; Rừng ẩm Đông Nam Trung Quốc-Hải Nam; và Sông, suối Tây Giang (sông Bằng-Kỳ Cùng). Một số lượng đáng kể các khu bảo tồn của Việt Nam đã được thế giới hoặc khu vực công nhận, bao gồm: 4 khu Ramsar, 8 khu Dự trữ sinh quyển, 2 khu Di sản thiên nhiên thế giới và 4 khu Di sản ASEAN.

Tổ chức Bảo tồn chim quốc tế (Birdlife International) cũng đã xác định ở Việt Nam có 63 vùng chim quan trọng, chiếm khoảng 5% tổng diện tích đất liền của cả nước, trong đó 4 tỉnh có nhiều vùng chim quan trọng nhất là: Đắc Lăk, Lâm Đồng, Gia Lai và Quảng Bình.

I.1.3. Vai trò ĐDSH trong nền kinh tế quốc gia và đời sống người dân Việt Nam


Mặc dù chưa được thường xuyên ghi nhận, nhưng ĐDSH Việt Nam đã đóng góp giá trị quan trọng cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản và dược phẩm. Năm 2010, ngành nông nghiệp đóng góp trên 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chiếm 28% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Khoảng 20 triệu người dân Việt Nam phụ thuộc vào tài nguyên thuỷ sinh và đang khai thác, sử dụng trên 300 loài hải sản và trên 50 loài thuỷ sản nước ngọt có giá trị kinh tế; khoảng 25 triệu người sống trong hoặc gần các khu rừng, và 20-50% thu nhập của họ là từ các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, gồm hàng trăm loài cây thuốc, cây cho dầu- nhựa, thuốc nhuộm... ĐDSH và các cảnh quan đẹp trên cạn, ven biển và hải đảo còn là các điểm và khu du lịch hấp dẫn và nổi tiếng của Việt Nam, đặc biệt loại hình du lịch sinh thái đang trở thành dịch vụ phổ biến ở các khu bảo tồn, một mặt có ý nghĩa khám phá và giáo dục bảo vệ thiên nhiên, mặt khác còn mang lại lợi ích cho người dân địa phương khi tham gia dịch vụ. Nhiều loài động - thực vật đã gắn liền với lịch sử, văn hóa và trở thành vật thiêng hoặc vật thờ cúng của cộng đồng người Việt, ví dụ loài rùa hồ Gươm gắn liền với truyền thuyết Lê Lợi trả lại gươm thần sau khi chiến thắng giặc Minh.

Bên cạnh những giá trị kinh tế-xã hội và văn hóa, ĐDSH còn cung cấp nhiều dịch vụ quan trọng. Các kiểu thảm thực vật ở trên cạn cũng như ở vùng nước ven bờ giúp điều hoà khí hậu thông qua dự trữ các bon, lọc không khí và nước, phân huỷ rác thải, giảm nhẹ tác động tiêu cực của thiên tai như lở đất và bão lũ. Rừng ngập mặn dọc bờ biển đóng vai trò là những “lá chắn xanh” làm giảm từ 20 đến 70% sức mạnh của sóng biển, đồng thời giúp đảm bảo an toàn đê biển, tiết kiệm hàng tỷ đồng chi phí tu bổ đê điều hàng năm, đồng thời hỗ trợ sự hình thành những vùng đất mới ở các vùng cửa sông, ven biển.





1   2   3   4   5   6   7   8   9   10


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương