Giáo trình Nhập môn Tin học LỜi nóI ĐẦU



tải về 4.67 Mb.
trang27/63
Chuyển đổi dữ liệu20.05.2018
Kích4.67 Mb.
1   ...   23   24   25   26   27   28   29   30   ...   63

1.5.3. Các tài nguyên trên Internet


Khái niệm tài nguyên (resource) chỉ những nguồn lực, nguồn thông tin tiềm tàng, sẵn sàng để khai thác. Tài nguyên trên Internet có thể là các thiết bị nhưng chủ yếu là thông tin.

Các dạng thông tin có thể lấy trên Internet bao gồm:

- Các văn bản dạng Text, các sách điện tử dạng file PDF

- Các hình ảnh

- Tài liệu lưu trữ dưới dạng âm thanh (bản nhạc, lời nói, …)

- Phim video số

- Các phần mềm máy tính.

- Ngày nay việc lấy các tài liệu này được tích hợp qua kết nối trên các trang siêu văn bản (hypertext) trong đó có thể lồng ghép văn bản, ảnh, phim, sách điện tử, và các quá trình tương tác hai chiều như được thực hiện qua một ngôn lập trình web. Đó là tài liệu mà người ta gọi tắt là Web. Các báo điện tử thường là loại này.

- Các thiết bị phần cứng ...


1.5.4. Các dịch vụ cơ bản trên Internet


Có ba nhóm dịch vụ chính trên Internet đó là:

  • Trao đổi thông tin giữa các thành viên trong cộng đồng thông qua thư điện tử, diễn đàn, hội thoại mạng, hội nghị từ xa, điện thoại Internet,…

  • Khai thác các tài nguyên trên mạng như: tra cứu thông tin qua WEB, FTP, Video theo yêu cầu, …sử dụng máy tính từ xa.

  • Các dịch vụ khác nhờ sử dụng công nghệ Internet.

Dưới đây là chi tiết một số dịch vụ thông dụng:

  • Thư điện tử (E mail). Người ta có thể gửi thư đến máy của người khác với giá rẻ hơn rất nhiều so với thư thường mà thời gian trễ không quá một vài phút. Dịch vụ này được sử dụng nhiều nhất trên Internet. Đặc điểm của kiểu trao đổi này là có đối tác cụ thể nhưng không cần có sự hiển diện đồng thời của người đối thoại trên mạng.

  • Thâm nhập từ xa (Telnet). Người dùng trên hệ thống này có thể truy cập đến một hệ thống thông qua mạng chỉ cần dùng đến một số lệnh đơn giản. Người sử dụng có một account tại một vị trí trên Internet có thể vào kiểm tra những thư nhắn hoặc truy cập tập tin bằng một máy tính bất kỳ ở một nơi nào đó trên mạng.

  • Nhóm tin (News Group) hay còn gọi là diễn đàn (Forum). Có hàng nghìn nhóm tin trên Internet với các chủ đề khác nhau. Nhóm tin là một trong các dịch vụ rất có ích với người dùng. Những ai có vấn đề cần trao đổi đều có thể đưa lên diễn đàn và cùng trao đổi với bất cứ ai tham gia diễn đàn.

  • Hội thoại mạng (chatting). Có thể tổ chức một cuộc hội thoại trên mạng máy tính. Nhiều người ngồi tại máy của mình tại nhà mình mà vẫn có thể trao đổi, đàm thoại trực tiếp với đối tác. Hình thức này mạnh hơn điện thoại ở chỗ: hàng chục người có thể trao đổi đồng thời không chỉ bằng chữ mà còn cả âm thanh và hình ảnh.

  • Điện thoại Internet. Tiếng nói được số hóa và chuyển theo mạng Internet tới người đối thoại. theo cách này giá điện thoại trở nên vô cùng rẻ.

  • Hội nghị từ xa (TeleConference) truyền hình ảnh động và âm thanh thu trực tiếp tương tự như cầu truyền hình.

  • Thư viện file (Anonymous FTP ). Có rất nhiều phần mềm miễn phí, phần mềm dùng chung, tranh ảnh, những tác phẩm văn học, những tập tin dữ liệu khác hoặc tin tức có sẵn trên mạng. Người dùng ở bất cứ nơi nào trên mạng cũng có thể xem những thư viên này và chép những tập tin về máy của mình.

  • Phân nhóm theo loại thông tin quan tâm (Usenet). Internet là nơi có hàng nghìn nhóm người sử dụng có những mối quan tâm khác nhau cùng tham gia vào một hệ thống hội thoại từ xa và những nhóm thảo luận. Các nhóm này hình thành từ những quan điểm chung về đề nào đó, những vấn đề giáo dục, các loại nhạc được yêu thích, những sở thích thể thao, những mối quan tâm chính trị, …tất cả đều phải thể hiên trên máy tính

  • World Wide Web (WWW). Đây là dịch vụ quan trọng và tiện dụng nhất hiện nay. Dịch vụ này cho phép lấy các trang siêu văn bản trên mạng Internet. Một trang siêu văn bản có hình thức như một trang tài liệu bình thường gồm các chữ và hình ảnh. Điều khác là trong một số đoạn chữ và hình ảnh có ngầm chứa địa chỉ một trang siêu văn bản khác ở một máy tính khác trên mạng Internet hay một dịch vụ mạng khác. Địa chỉ liên kết đó gọi là siêu liên kết (hyperlink). Nếu ta đưa con trỏ tới đoạn chữ hay hình ảnh có siêu liên kết và nhấn chuột thì tài liệu hay dịch vụ liên kết sẽ được tải về và thực hiện. Cơ chế này cho phép ta tìm tài liệu hay dịch vụ theo các liên kết. Thuật ngữ World Wide Web nghĩa mạng nhện toàn cầu có hàm ý chỉ mối liên kết phức tạp này do WWW dễ sử dụng nên ngày càng nhiều dịch vụ Internet tiêu chuẩn như thư điện tử, thư viện file, thậm chí các ứng dụng riêng như các ứng dụng quản lý cũng được tích hợp trực tiếp trên các trang Web. Chính WWW đã gây ra vụ bùng nổ Internet lần thứ hai vì nó tạo cơ hội để ai cũng có thể sử dụng Internet.



1.5.5. Hệ thống tên miền:


Địa chỉ IP không thật thích hợp với người sử dụng vì rất khó nhớ. Người ta sử dụng một hệ thống đặt tên gọi là tên miền (domain name) để đặt tên cho các máy trên mạng. Mỗi tên có thể gồm nhiều trường phân cách nhau bởi một dấu chấm. Theo một quy ước tên được đặt theo một cây phân cấp mà trường đầu tiên là trường địa lý (thường là theo cách viết tắt của tên nước).

Ví dụ: vn chỉ Việt Nam,

th để chỉ Thái lan,

fr chỉ Pháp,

jp chỉ Nhật. …

Các tên miền không có lớp địa lý được hiểu ngầm là Mỹ.



epu


Hình 1.25: Cây tên miền
Vídụ: tên miền của một số trường như sau:

Trường Đại học Điện lực: epu.edu.vn

Khoa Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội: fotech.vnu.eduh.vn

Đại học Bách khoa Hà Nội: hut.edu.vn


Trong tất cả các dịch vụ Internet, chỗ nào có địa chỉ IP đều có thể thay bằng tên miền. Trong khi định vị các máy tính trên mạng Internet, để có thể biết chính xác tên miền đó ứng với địa chỉ IP nào, cần có cơ chế giải mã tên miền. Trong các mạng người ta sử dụng một máy tính làm máy chủ thực hiện dịch vụ tên miền. Trong máy đó người ta đưa vào một bảng tương ứng giữa tên miền và địa chỉ IP.

Ví dụ: www.vnu.edu.vn 172.16.0.168

www.vnn.vn 202.167.121.212

Đương nhiên chính máy chủ tên miền phải có một địa chỉ IP. Các dịch vụ nào muốn giải mã tên miền đều phải khai báo địa chỉ IP của máy chủ cung cấp dịch vụ tên miền này. Các máy chủ tên miền có thể được liên kết với nhau để khi máy chủ tên miền này không hiểu có thể yêu cầu một máy chủ tên miền khác trợ giúp.

Thực tế thì bảng thông tin trong các máy chủ cung cấp dịch vụ DNS phức tạp hơn nó có thể gồm tới 7 loại thông báo khác nhau, mỗi thông báo cũng có nhiều yếu tố chứ không chỉ tương ứng giữa tên miền và địa chỉ IP.

Việc cấp phát tên miền và địa chỉ do một tổ chức phi lợi nhuận, phi chính phủ là NIC (Network Information Center) quản lý. Đại diện của NIC tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương là APNIC có trụ sở tại Tokyo. Hiện nay với sự phát triển của Internet không gian địa chỉ IP 4 byte đang cạn kiệt nhanh chóng. NIC đang chuẩn bị đưa ra địa chỉ IP mới 6 byte. Với không gian mới này, trung bình mỗi người dân trên trái đất sẽ có 4 địa chỉ IP. Mỗi quốc gia thường đều có tổ chức quản lý tên miền và địa chỉ của mình. Ở Việt Nam tổ chức đó là VNNIC.


1   ...   23   24   25   26   27   28   29   30   ...   63


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương