GIÁO Án kỹ thuật lâm sinh (HỌc phần I)



tải về 1.16 Mb.
trang1/11
Chuyển đổi dữ liệu02.09.2016
Kích1.16 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


UBND TỈNH ĐIỆN BIÊN

TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐIỆN BIÊN

--------------o0o--------------



GIÁO ÁN

KỸ THUẬT LÂM SINH (HỌC PHẦN I)

Số tiết: 90 tiết

Giáo viên: Trần Thị Hồng Hạnh

Đơn vị: Khoa khoa học kỹ thuật

Năm học: ……………………..


GIỚI THIỆU TÓM TẮT MÔN HOC (Dành cho GV)

- KHÁI NIỆM: Môn học KTLS nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật từ khi gây tạo rừng mới hoặc phục hồi lại rừng cũ đến khi có thể khai thác lợi dụng được nhằm xúc tiến quá trình sản xuất tự nhiên của rừng sớm đem lại năng suất, chất lượng sản phẩm theo yêu cầu kinh doanh, phát huy tác dụng phòng hộ, bảo vệ môi sinh.



- NỘI DUNG KHÁI QUÁT MÔN HỌC.

HỌC PHẦN I: 90 Tiết (60 tiết lý thuyết + 30 tiết thực hành)

Chương I: Giống trồng rừng.

Chương II: Sản xuất cây con.

Chương III: Trồng rừng.



HỌC PHẦN II: 60 Tiết (30 tiết lý thuyết + 30 tiết thực hành)

Chương IV: Nuôi dưỡng rừng.

Chương V: Khai thác chính.

Chương VI: Kỹ thuật trồng một số loại cây rừng.



Chương I: GIỐNG TRỒNG RỪNG

Số tiết: 19 tiết
MỤC TIÊU

- Cung cấp cho học sinh các kiến thức về công tác giống trồng rừng, các phương pháp nhận biết quả chín, phương pháp thu hoạch, bảo quản và cất trữ hạt giống.

- Từ các kiến thức đã truyền đạt, học sinh có khả năng áp dụng các phương pháp thu hái, bảo quản và cất trữ hạt giống trong sản xuất lâm nghiệp.

- Học sinh có thái độ tích cực trong việc tiếp thu tri thức, vận dụng thực tế, tôn trọng thầy cô bạn bè.

NỘI DUNG

I- TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC GIỐNG TRỒNG RỪNG

- Khái niệm: Giống trồng rừng là tư liệu sản xuất đặc biệt quyết định sự thành bại của công tác giống trồng rừng.

- Tầm quan trọng của công tác giống: Phải thoả mãn về số lượng, chất lượng và hạ giá thành cho một đơn vị hạt giống.

- Nhiệm vụ:

+ Nhanh chóng khoanh nuôi, chuyển hoá các khu rừng tự nhiên có sẵn thành rừng giống, chủ động xây dựng vườn giống, rừng bảo tồn gen.

+ Kết hợp sản xuất với nghiên cứu thử nghiệm để chọn và tạo giống thuần chủng phẩm chất di truyền tốt.

+ Thu hái, chế biến đúng kỹ thuật để nâng cao phẩm chất giống trồng rừng.

II- KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA CÂY RỪNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

1. Khả năng sinh sản của cây rừng

* Giáo viên: (1) Thực vật nói chung có những hình thức sinh sản nào?

(2) Khả năng ra hoa kết quả của cây lâm nghiệp có điểm gì khác với cây nông nghiệp?

- Khả năng sinh sản của cây rừng là khả năng ra hoa kết quả nhiều lần, nhưng phải có khoảng thời gian để sinh trưởng và hoàn thiện cơ quan sinh sản, tích luỹ dinh dưỡng (thường từ 2 năm trở lên).

* Giáo viên: Khả năng ra hoa quả của cây rừng không đồng đều. Hầu hết các loài cây sau 1 năm ra hoa quả nhiều (năm được mùa) thì sau 1 thời gian (1 – 3 năm) mới lại cho hoa quả nhiều đó là chu kỳ sai qủa của cây rừng.

- Chu kỳ sai quả của cây rừng là khoảng thời gian giữa hai lần được mùa thường từ 1 đến 3 năm.

* Giáo viên: Nói chung chu kỳ sai quả phụ thuộc vào loài cây và điều kiện dinh dưỡng. Nói chung cây hạt nhỏ, điều kiện dinh dưỡng tốt chu kỳ sai quả ngắn hơn cây hạt to, điều kiện dinh dưỡng kém.

- Về mặt sản xuất chia khả năng sinh sản của cây rừng của cây rừng thành 4 giai đoạn theo quá trình phát triển:

+ Giai đoạn non trẻ: Tính từ khi hạt nảy mầm đến trước lúc ra hoa quả lần đầu hay cây chưa có biểu hiện ra hoa.

+ Giai đoạn gần thành thục: Tính từ khi cây ra hoa quả lần đầu đến sau đó 3 -5 năm. Giai đoạn này hoa quả ít và chưa tốt.

+ Giai đoạn thành thục: Từ khi cây ra hoa được 3 -5 năm trở đi. Giai đoạn này các cơ quan dinh dưỡng sinh trưởng chậm lại, năng lực ra hoa quả mạnh nhất, lượng hoa quả ổn định. Đây là thời kỳ kinh doanh giống tốt nhất.

+ Giai đoạn già cỗi: Cây tầng cao ngừng trệ sinh trưởng, ra hoa quả ít, chống đỡ bệnh tật kém, có hiện tượng rỗng ruột và dễ dàng gãy đổ.

* Giáo viên: Việc chia các giai đoạn chỉ là tương đối khó xác định ranh giới cụ thể. Dựa vào các giai đoạn có thể tác động bằng cách bón phân, chăm sóc để rút ngắn thời kỳ non trẻ kéo dài thời kỳ thành thục.

2. Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của cây rừng

2.1. Nhóm nhân tố bên trong

- Loài cây khác nhau thì tuổi ra hoa, quả, chu kỳ sai quả, số lần ra hoa quả và sản lượng hoa quả mỗi lần khác nhau.

- Quá trình sinh trưởng, tích luỹ dinh dưỡng khác nhau thì khả năng ra hoa quả khác nhau.

2.2. Nhóm nhân tố bên ngoài

- Khí hậu: Gồm ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa .v.v. Nếu chúng phù hợp với loài cây thì hoa quả nhiều, chất lượng tốt, chu kỳ sai quả ngắn và ngược lại.

- Thời tiết: Gồm mưa nắng, nóng, lạnh, gió bão, sương muối ... ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên từ khi hình thành mầm hoa đến khi quả hạt chín, nên thời tiết thuận lợi thì năng xuất cao và ngược lại.

- Đất: Đất tốt thì cây mau ra hoa quả, sản lượng, phẩm chất hạt tốt. Còn đất xấu cây vẫn ra hoa quả sớm nhưng chất lượng, phẩm chất không cao.

- Sinh vật:

+ Có lợi: Làm tăng quá trình thụ phấn cho cây, nhất là cây đơn tính.

+ Có hại: Làm giảm sức sinh sản, giảm khả năng ra hoa quả và giảm năng xuất của hạt như một số loài sâu ăn lá, đục thân và chim thú ăn hạt.

- Con người:

+ Có lợi: Làm tăng khả năng ra hoa kết quả như bón phân, làm cỏ, xới đất v.v.

+ Có hại: Làm giảm khả năng sinh sản như chặt phá bừa bãi v.v.



III- RỪNG GIỐNG, VƯỜN GIỐNG

1. Rừng giống

1.1. Khái niệm: Rừng giống là rừng gồm các cây giống được nhân từ cây mẹ và trồng không theo sơ đồ, hoặc được chuyển hoá từ rừng tự nhiên, rừng trồng đã qua chọn lựa và được công nhận.

1.2. Các loại rừng giống: Gồm

- Rừng giống trồng là rừng giống được trồng không theo sơ đồ bằng cây hạt thu từ các cây mẹ (cây trội).

- Rừng giống chuyển hoá từ rừng tự nhiên là những lâm phần tốt nhất được chọn từ rừng tự nhiên, có diện tích ít nhất 3 ha, loài được chọn phải có ít nhất 50 cây đủ tiêu chuẩn lấy giống và đã được tác động các biện pháp kỹ thuật theo quy định.

- Rừng giống chuyển hoá từ rừng trồng là khu rừng trồng (từ 5 - 7 tuổi cho cây mọc nhanh, 10 - 15 tuổi cho cây mọc chậm) có sinh trưởng tốt và đồng đều, có diện tích ít nhất 3 ha đạt tiêu chuẩn cây giống.

GV: Rừng giống chỉ giải quyết yêu cầu cấp thiết về hạt giống, còn về lâu dài và cơ bản phải xây dựng vườn giống.

2. Vườn giống.

2.1. Khái niệm: Vườn giống là vườn được trồng theo sơ đồ nhất định từ các dòng vô tính (vườn giống vô tính) hoặc từ hạt của cây mẹ (vườn giống hữu tính) đã được tuyển chọn và công nhận.

2.2. Các loại vườn giống.

- Vườn giống lấy hạt: Là vườn giống được xây dựng bằng cây con từ sinh sản hữu tính, hoặc sinh sản vô tính của những cây trội đã được tuyển chọn, cùng được trồng trong một hoàn cảnh và chăm sóc như nhau để sản xuất hạt giống tốt cung cấp cho trồng rừng.

- Vườn giống lấy hạt trồng bằng cây con: Là vườn giống được tạo ra từ hạt giống của các cây trội đã được kiểm tra hậu thế (cây ưu việt). Hạt giống của cây ưu việt được gieo riêng ở vườn ươm theo cụm 3-5 cây của một cây mẹ, loại bỏ các cây xấu mỗi cụm để lại một cây tốt nhất. Bố trí các cụm theo sơ đồ sao cho không được gần nhau số cụm tham gia vào vườn giống ít nhất là 20 cụm.

GV: Coi mỗi cụm là 1 gia đình để việc bố trí các cụm không gần nhau

- Vườn lấy hạt giống trồng bằng cây sinh sản sinh dưỡng. Trong các loại vườn này, vườn giống bằng cây ghép hiện được sử dụng rộng rãi trong lâm nghiệp.

- Vườn lấy giống vô tính:



3. Biện pháp kỹ thuật nâng cao sản lượng phẩm chất rừng giống, vườn giống.

3.1. Làm cỏ xới đất.

- Tác dụng: Cải thiện tính chất vật lý của đất, tăng cường sự hoạt động của vi sinh vật, giảm cạnh tranh của cỏ dại.

- Biện pháp:

+ Căn cứ vào tính chất đất đai, thực bì và sự phát triển của bộ rễ mà quy định số lần và cách phát xới. Thường xới đất quanh gốc có đường kính 1 – 1,5m, sâu 5 - 15cm không làm tổn thương đến rễ cây.

+ Rừng gây tạo từ đầu, việc làm cỏ xới đất khi rừng chưa khép tán thực hiện trong năm thường nhiều hơn so với rừng trồng bình thường.

+ Tiến hành trồng xen cây nông nghiệp để hạn chế cỏ dại, quá trình chăm sóc cây nông nghiệp là gián tiếp chăm sóc cây lâm nghiệp.



3.2. Bón phân.

- Tác dụng: Cung cấp chất dinh dưỡng cho cây giống và cải thiện tính chất đất, giúp cho hạt trắc mẩy.

- Biện pháp:

+ Bón phân được thực hiện vào các thời kỳ mới gây trồng, trước khi hình thành mầm hoa và trước lúc ra quả.

+ Khi bón nên kết hợp giữa phân hữu cơ và phân vô cơ.

+ Bón ở lớp đất mặt và bón xung quanh gốc theo hình chiếu của tán cây.

+ Khi bón phân vô cơ thì rải đều trên mặt đất rồi xới đất trộn đều với phân.

3.3. Tỉa thưa.

- Tác dụng: Điều chỉnh tổ thành, mật độ của rừng, giữ lại những cây tốt phù hợp mục đích kinh doanh.

- Biện pháp.

+ Nguyên tắc tỉa thưa: Chặt xấu giữ tốt, không tạo những khoảng trống lớn trong lâm phần.

+ Cây giữ lại có đường kính, chiều cao lớn hơn đường kính chiều cao trung bình của lâm phần trước khi tỉa thưa. Cây thân thẳng, tán cân đối, sinh trưởng mạnh, khả năng cho hoa quả từ trung bình trở lên.

+ Việc tỉa thưa phải được thực hiện nhiều lần, với cường độ chặt vừa phải.

+ Mỗi lần chặt phải giải quyết nhu cầu ánh sáng, thúc đẩy sinh trưởng chiều cao, đường kính, sự ra hoa kết quả của cây giống.

+ Việc tỉa thưa chỉ thực hiện vào mùa cây sinh trưởng yếu hay đã ngừng sinh trưởng và khi đã đánh dấu bài cây.



3.4. Tạo tán.

- Tác dụng: Làm cho tán cân đối rộng và thấp, diện tích quang hợp nhiều, tạo điều kiện ra hoa kết quả trên khắp tán cây và thu hái quả hạt giống dễ dàng.

- Biện pháp.

+ Năm 1 -3 chặt ngọn, tỉa cành lần 1 để điều chỉnh sự phát triển của tán cây.

+ Từ năm thứ 4 trở đi tùy theo sự phát triển của tán cây mà tiến hành tỉa cành các lần tiếp theo cho phù hợp.

+ Việc chặt tỉa nên thực hiện vào mùa khô tránh sự xâm nhiễm của sâu bệnh hại.



3.5. Dùng chất điều tiết sinh trưởng.

- Tác dụng: Để khống chế, điều tiết quá trình ra hoa kết quả của thực vật nhằm nâng cao và ổn định sản lượng hạt giống, hạn chế mất mùa.

- Biện pháp: Sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng (hoocmon sinh trưởng) ở thực vật với liều lượng phù hợp với từng loài cây theo từng mục đích như:

+ Nhóm chất kích thích: Auxin, Gibberellin (GA) và Cytokinin

+ Nhóm chất ức chế: Axit absixit, Ethylen và các hợp chất phenol

VD:


+ Kích thích sinh trưởng, tăng chiều cao, tăng sinh khối và tăng năng suất: Gibberellin (GA)

+ Ngăn sự dụng nụ, hoa, quả: GA

+ Kích thích ra hoa: Auxin, GA hoặc Ethylen

+ Làm quả mau chín và chín đồng loạt: Ethylen

+ Làm quả chậm chín để kéo dài thời gian thu hoạch: GA

+ Hoa tươi lâu: Cytokinin



3.6. Quản lý bảo vệ rừng giống, vườn giống.

- Tác dụng: Duy trì diện tích rừng giống, vườn giống, nâng cao năng suất chất lượng giống và ổn định đáp ứng được yêu cầu trồng rừng.

- Biện pháp.

+ Nắm vững trên sổ sách và trên thực địa.

+ Định kỳ kiểm tra, ghi chép những diễn biến ở rừng giống, vườn giống cũng như tình hình hoa quả hàng năm.

+ Thường xuyên kiểm tra rừng giống, vườn giống để phát hiện và ngăn chặn kịp thời hiện tượng lửa rừng, sâu bệnh, chặt phá v.v.



IV- QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG TRỒNG RỪNG.

1. Điều tra dự đoán sản lượng quả hạt giống.

1.1. Ý nghĩa.

- Giúp cho việc bố trí nhân lực, dụng cụ, thời gian, kho chứa để thu hoạch giống.

- Nắm được sản lượng hạt giống để điều hoà cho năm kế hoạch và dự phòng cho những năm sau giúp cho kế hoạch trồng rừng được liên tục và ổn định.

- Qua số liệu điều tra hàng năm có thể rút ra nhận xét, quy luật ra hoa quả và mối quan hệ giữa sản lượng chất lượng hạt giống với khí hậu thời tiết hàng năm đề xuất các biện pháp kỹ thuật thích hợp xúc tiến khả năng sinh sản của cây rừng.



1.2. Phương pháp điều tra

* Phương pháp ước lượng bằng mắt (vật hậu học)

- Dùng mắt quan sát trên những cây giống rồi so sánh với biểu cấp sản lượng để xác định.

- Biểu cấp sản lượng: Gồm 6 cấp.

+ Cấp 0 (không có hoa): Cây mọc lẻ, cây bìa rừng và cây trong rừng không có hoa.

+ Cấp 1 (hoa rất ít): Cây mọc lẻ, cây bìa rừng hoa ít, cây trong rừng không hoa rất ít.

+ Cấp 2 (hoa ít): Cây mọc lẻ, cây bìa rừng hoa trung bình, cây trong rừng hoa ít.

+ Cấp 3 (hoa trung bình): Cây mọc lẻ, cây bìa rừng hoa nhiều, cây trong rừng hoa TB.

+ Cấp 4 (hoa nhiều): Cây mọc lẻ, cây bìa rừng hoa rất nhiều, cây trong rừng hoa nhiều.

+ Cấp 5 (hoa rất nhiều): Cây mọc lẻ, cây bìa rừng và cây trong rừng hoa rất nhiều.

- Để tăng độ chính xác nên quan sát ít nhất 3 lần vào lúc cây bắt đầu ra hoa, sau khi kết quả và trước lúc quả chín 1 -2 tháng.

- Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, tốn ít công.

- Nhược điểm: Độ chính xác không cao phụ thuộc nhiều vào người quan sát. Chỉ thích hợp ở những khu rừng giống và khu thu hái giống tận dụng khi thiếu hạt giống.

* Phương pháp cây tiêu chuẩn trung bình

GV: Qua nghiên cứu cho thấy sự ra hoa kết quả của cây rừng có tỷ lệ thuận với đường kính thân cây. Ví dụ cây có chiều cao, đường kính đạt chiều cao, đường kính trung bình của rừng thì khả năng ra hoa kết quả cũng vào loại trung bình. Vì vậy có thể căn cứ vào cây tiêu chuẩn trung bình để tính sản lượng hạt giống của rừng.

- Phương pháp thực hiện:

+ Lập OTC có diện tích 500 - 1.000m2.

+ Đo chiều cao, đường kính các cây trong ô rồi tính đường kính, chiều cao bình quân của toàn ô.

+ Chon 5 cây trong OCT có đường kính, chiều cao tương đương với đường kính, chiều cao bình quân của ô.

+ Thu hái toàn bộ quả của 5 cây đã chọn (có thể chặt hạ nếu cần). Tình sản lượng bình quân của 1 cây tiêu chuẩn rồi suy ra sản lượng của OTC và của toàn rừng.

- Với cây lá kim, đồng tuổi lập OTC có diện tích 0,25 - 0,5ha, thực hiện theo các bước trên rồi tính sản lượng cho 1ha theo công thức:

Z = N . B . C . F . P



5 x 10.0002

Trong đó: Z- Sản lượng hạt chắc trên 1ha (kg/ha)

N- Số cây trên 1ha.

B- Số quả thu được của 5 cây tiêu chuẩn.

C- Số hạt bình quân của một quả.

F- Độ thuần của hạt (%)

P- Trọng lượng 1000 hạt tính theo gam.

- Để tăng độ chính xác nên lập ít nhất 3 OTC ở 3 vị trí chân, sườn, đỉnh.

- Ưu điểm: Phương pháp này cho kết quả cụ thể, quá trình thực hiện khách quan.

- Nhược điểm: Quá trình thực hiện phức tạp, tốn nhiều công sức, thích hợp với rừng đồng tuổi. Sản lượng tính toán thường cao hơn sản lượng thu được 20 – 30%.

* Phương pháp OTC

- Lập OTC có diện tích 0,25 - 0,5ha, thu hoạch toàn bộ quả trong OTC (Có thể chặt hạ hoặc kết hợp khai thác để thu hoạch). Từ hạt giống của OTC suy ra sản lượng của toàn rừng.

- Ưu điểm: Cho kết quả tương đối chính xác được áp dụng trong nghiên cứu khoa học giúp tìm hiểu một số quy luật ra hoa quả của cây rừng.

- Nhược điểm: Quá trình thực hiện phức tạp, tốn công

* Phương pháp thu nhặt trên mặt đất

- Lập ô tiêu chuẩn 0.25- 0.5ha, dùng thùng hứng có kích thước quy định đặt cách đều trong ô tiêu chuẩn, 2 - 3 ngày thu nhặt quả 1 lần, căn cứ vào số lượng quả thu được trên ô tiêu chuẩn để tìm ra sản lượng của toàn khu rừng.

- Ưu điểm: Thích hợp quả to, nặng khi chín rụng ngay, được áp dụng trong nghiên cứu quan hệ giữa quy luật rơi rụng và thời tiết.

- Nhược điểm: Không áp dụng cho loại hạt nhỏ, thời kỳ rơi rụng kéo dài, dễ mất và không dự báo sản lượng ngay trong năm đó.



2. Thu hoạch hạt giống

2.1. Đặc trưng chín của hạt giống

- Khái niệm: Quá trình chín của hạt là quá trình phát triển hoàn thiện của phôi, nội nhũ và vỏ hạt. Các cơ quan của phôi rễ, thân, lá được hình thành, các chất dinh dưỡng được tích luỹ, vỏ hạt dần thay đổi màu sắc và có khả năng bảo vệ phôi.

- Các đặc trưng của quá trình chín:

+ Các chất hữu cơ và chất khoáng được chuyển vào trong hạt, các chất Gluxit, Lipít, Prôtít được hình thành.

+ Về hình thái: Trọng lượng khô tăng, lượng nước giảm tới mức thấp nhất, hạt cứng dần, mập, vỏ hạt được hình thành, thể tích quả tăng lên, mầu sắc thay đổi, phôi ngày càng hoàn thiện và có khả năng nảy mầm.

+ Quá trình chín gồm hai thời kỳ



Chín sinh lý: Là lúc phôi đã phát triển đầy đủ rễ, thân, lá, mầm nhưng quá trình tích luỹ ở nội nhũ và vỏ hạt chưa kết thúc, hoạt động sinh lý diễn ra mạnh, lượng nước nhiều. Nếu thu hoạch vào thời kỳ này thì khó cất trữ, tỷ lệ nảy mầm thấp.

Chín thu hoạch (chín hình thái): Vỏ cứng, nội nhũ tích luỹ nhiều các hợp chất hữu cơ, lượng nước thấp, hoạt động sinh lý yếu. Nếu thu hoạch vào thời kỳ này thì dễ bảo quản, tỷ lệ nảy mầm cao.

2.2. Nhận biết hạt chín

GV: Để thu hái hạt đảm bảo chất lượng và số lượng cần phải nhận biết và phân biệt được hạt chín và chưa chín. Hiện nay có một số phương pháp xác định độ chín của hạt, nhưng không có phương pháp nào là thích hợp cho tất cả các loài. Đối với những loài chưa quen biết thì cần phải nghiên cứu để tìm ra phương pháp tốt nhất hoặc kết hợp nhiều phương pháp. Một số phương pháp được dùng để xác định trực tiếp ngoài hiện trường, một số khác dùng trong phòng thí nghiệm.

- Những phương pháp trong phòng thí nghiệm

+ Hàm lượng nước của quả, hạt: Ở nhiều loài cây khi quả bắt đầu chín thì hàm lượng nước của quả giảm dần và tương quan chặt chẽ với mức độ chín của hạt.

VD: Hạt của cây Vân sam trắng (Picea glauca) được coi là đã chín nếu hàm lượng nước của chúng giảm xuống dưới 48% . Cây Thông scotland (Pinus sylvestris) 43-45% (Là cây thích hợp nhất để làm cảnh).

GV: Tuy nhiên việc xác định hàm lượng nước bằng cách sấy khô trong tủ sấy đòi hỏi nhiều thời gian.

+ Dùng tia X. quang:

GV: Dùng tia X. quang để kiểm tra sự phát triển của phôi và nội nhũ của hạt là một phương pháp đánh giá sự chín của hạt một cách nhanh chóng và tương đối dễ, tuy nhiên cần có những thiết bị thích hợp và có những cán bộ thông thạo,

Phương pháp này đòi hỏi những thiết bị đắt tiền và kết quả chịu ảnh hưởng nhiều theo nhận xét chủ quan của cán bộ phân tích.

+ Thí nghiệm nảy mầm:

GV: Lấy hạt ở các thời kỳ chín khác nhau đem thí nghiệm nảy mầm, thời kỳ nào hạt nảy mầm tỷ lệ cao nhất là thời điểm hạt chín rộ.

Phương pháp này không có ý nghĩa chỉ đạo sản xuất ngay trong năm đó, thường được áp dụng trong nghiên cứu để tìm hiểu quy luật chín của hạt và quan hệ giữa hạt chín và hình thái của quả.

- Những phương pháp ngoài hiện trường

+ Phương pháp tỷ trọng: (GV: Khi quả chín thì hàm lượng nước của chúng giảm, tỷ trọng của chúng cũng giảm). Thả chúng vào một dung dịch có tỷ trọng đã biết như: Bùn loãng, nước, muối, sun phát amôn ... Phương pháp này khó áp dụng với những loại quả, hạt có tỷ trọng rất ít thay đổi trong quá trình chín.

+ Phương pháp mổ hạt xem phôi và nội nhũ: Bổ dọc hạt ra để quan sát cụ thể Đa số hạt khi còn xanh phôi và nội nhũ thường giống như "sữa" sau đó đặc lại như bột nhào, khi hạt chín thì nội nhũ rắn lại có mầu trắng, phôi phát triển đầy đủ, rắn chắc, độ lớn tối đa, chiếm đầy khoang trong hạt.

GV: Kiểm tra độ chín của hạt bằng cách này là một phương pháp đơn giản và đáng tin cậy, nhưng những người làm công việc này đòi hỏi có nhiều kinh nghiệm.

+ Phương pháp quan sát mầu sắc:

GV: Giữa hạt và quả khi chín thường có mối tương quan nhất định do đó có thể nhận biết hạt chín thông qua hình thái đặc trưng của quả. Mỗi loại quả khi chín có những biểu hiện riêng qua màu sắc, độ cứng, độ mập, độ nứt nẻ của Vỏ quả, có thể phân thành mấy dạng sau:

.) Đối với loại quả khô (Dẻ, giổi, các loại đậu đỗ, thìa là, ké ...): Khi chín Vỏ quả thường có màu xám, nâu xám, vàng nâu, màu tro, vỏ khô cứng, nhăn nheo hoặc nứt nẻ.

.) Loại quả thịt (Đu đủ, mận, xoài, đào ...): Khi chín vỏ mền, mỏng có màu sắc sặc sỡ (xanh, đỏ, tím, vàng...)

.) Loại quả nón (ngành hạt trần – ngành thông): Khi chín Vỏ quả khô cứng màu chuyển từ màu xanh sang màu cánh dán, vàng nhạt, vàng nâu… vẩy quả hơi mở.

2.3. Thời kỳ và phương thức rơi rụng của quả hạt.

- Đa số các loài cây sau khi chín hình thái thì dần dần rơi rụng tự nhiên.

- Mỗi loài cây có thời kỳ và phương thức rơi rụng khác nhau.

+ Loại quả khô nứt (Bạch đàn, phi lao, thông...) hạt chín xong rơi ngay.

+ Loại quả thịt, quả hạch (Trám, Tếch, Long não, Quế, Mỡ,..) sau chín rơi ngay nhưng rơi cả quả.

+ Xoan, phượng, lim ... sau chín còn treo trên cây một thời gian mới rơi rụng.

- Thời kỳ rơi rụng của quả hạt chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết như thời tiết khô ráo thì quá trình rơi rụng nhanh còn trời dâm mát, ẩm ướt thì thời kỳ rơi rụng kéo dài.

2.4. Thu hoạch quả hạt giống

* Thời kỳ thu hoạch

- Đối với loại quả hạt sau chín rơi ngay (bạch đàn, phi lao, thông ...) cần thu hoạch sớm tốt nhất vào sau lúc chín thu hoạch và trước lúc hạt rơi.

- Đối với loại quả hạt dễ bị chim thú ăn cần thu ngay sau khi chín (dẻ, long não ...)

- Đối với loại quả hạt chưa rụng ngay thì có thể thu hái muộn hơn (xoan, bồ kết, tếch ...)

Chú ý: Khi xác định thời kỳ thu hoạch cần chú ý đến khí hậu, đất đai, thời tiết của khu vực. Nếu đất khô, trời nắng ráo quả chín và rơi rụng sớm phải thu hoạch xong trong thời gian ngắn và ngược lại.

* Phương pháp thu hoạch

- Nguyên tắc thu hoạch:

+ Chỉ thu hái những quả đã già, mẩy, không sâu bệnh.

+ Cần bảo vệ những quả non xanh và hoa quả của vụ sau.

+ Không bẻ cành, chặt ngọn cây giống. Chỉ hái từng quả hoặc chùm quả trên những nhánh nhỏ.

- Các phương pháp thu hoạch:

+ Thu hái trên cây:

. Áp dụng cho các loại quả hạt có kích thước rất nhỏ, hạt có cánh, dễ mất khi rơi rụng và bám lâu trên cây.

. Nếu cây thấp có thể dùng dụng cụ móc, dao, kéo cắt cành. Nếu cây cao dùng thang, câu liêm kết hợp với trèo cây để thu hái.

. Khi hái nên hái từ ngọn xuống, nếu quả to thì hái từng quả, quả nhỏ hái từng chùm, những cây quả chín không đều thì thu hái những quả chín tránh bẻ cành lớn gây tổn thương cây mẹ.

+ Thu nhặt trên mặt đất.

. Áp dụng cho những loại hạt to, nặng rơi rụng trong thời gian ngắn và không bị chim thú ăn.

. Trước khi quả rơi khoảng 2 tuần dọn sạch xung quanh gốc cây, sau khi quả rơi rụng xong thì thu nhặt những quả tốt, không bị thối, dập nát.

+ Thu nhặt trên mặt nước: Một số loài cây như Đước, Vẹt ... sau khi quả chín thì rơi và nổi trên mặt nước nên có thể thu nhặt trên mặt nước.

+ Ngoài ra ở một số nơi còn tận thu giống ở rừng khắp khai thác hoặc đang khai thác thì có thể chặt cành, hạ cây để thu hái.

- Một số yếu tố khi lựa chọn phương pháp thu hoạch:

+ Đặc điểm của quả: Kích thước, số lượng, vị trí, thời gian từ khi quả chín cho đến lúc vỏ quả mở ra.

+ Đặc điểm cây giống: Đường kính, chiều cao, đường kính và độ dầy tán lá, số lượng cành, góc phân cành và sức chịu đựng của cành.

+ Đặc điểm của lâm phần: Mật độ, sự phân bố của cây rừng và lớp thảm tươi, thảm mục rừng.

+ Điều kiện địa hình: Độ dốc, độ cao.

* Những chú ý khi tổ chức thu hoạch quả hạt giống.

- Trước khi thu hoạch phải điều tra tình hình quả hạt chín và những mặt liên quan khác để xác định thời gian thu hái cụ thể.

- Bồi dưỡng nghiệp vụ kỹ thuật, an toàn lao động, biện pháp bảo vệ cây giống và phương pháp xử lý quả hạt sau thu hoạch cho người trực tiếp thu hái giống.

- Chuẩn bị phương tiện, dụng cụ để thu hái, vận chuyển, chế biến, bảo quản giống sau thu hoạch.

- Triển khai việc thu hoạch trên hiện trường, quy định chế độ nghiệm thu và giá cả thu mua (nếu có).

- Khi thu hoạch công nhân phải có đầy đủ trang bị an toàn như dây bảo hiểm, thắt lưng, mũ ...

- Lúc thao tác phải chú ý tránh gây tai nạn cho người trên cây và dưới đất. Không thu hái khi trời mưa và gió lớn.

- Hạn chế việc chặt bẻ cành gây tổn thương cây giống.

- Quả hạt sau thu hoạch phải được nghiệm thu và để riêng theo từng lô. (Lô hạt giống bao gồm những hạt giống cùng loài, thu hái cùng thời gian trên những cây mẹ sinh trưởng trong cùng điều kiện lập địa hay trong các điều kiện lập địa tương tự nhau. Tuổi cây mẹ chênh nhau không quá 2 cấp tuổi và cùng điều kiện bảo quản).


  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương