Giới thiệu chung Kết quả Kinh tế của Việt Nam



tải về 1.02 Mb.
trang9/9
Chuyển đổi dữ liệu06.07.2016
Kích1.02 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9

Đánh giá

Nền kinh tế Việt Nam thể hiện khá rõ đặc điểm của một nền kinh tế chuyển đổi đang cố gắng vươn lên để bắt kịp các nước có thu nhập trung bình và cao. Nhưng những nỗ lực hiện nay nhằm nâng cao NLCT thường mang tính phản ứng đối phó và không đủ để bắt kịp với yêu cầu của một nền kinh tế đang tăng trưởng. Đánh giá nền tảng NLCT của Việt Nam cho thấy chiến lược hiện nay mới giúp khai thác các lợi thế so sánh sẵn có để giúp Việt Nam tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, nhưng chưa xác định được vai trò phù hợp cho Chính phủ trong việc tạo dựng các lợi thế cạnh tranh mới một cách có hệ thống.


.1. NLCT vĩ mô tương đồng với trình độ phát triển của Việt Nam hiện nay nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu cho bước phát triển cao hơn.
.2. NLCT vi mô được hình thành bởi một nền kinh tế đang chuyển đổi theo hướng hội nhập và những nỗ lực riêng lẻ nhằm nâng cao NLCT nhưng chưa có sự phối hợp đồng bộ và thứ tự ưu tiên rõ ràng.
.3. Tóm lại, Việt Nam còn đang thiếu một cách tiếp cận chiến lược trong việc định hình các yếu tố NLCT mà Việt Nam cần xây dựng là gì cũng như đề ra một lộ trình để thực hiện xây dựng và nâng cấp các yếu tố đó.
Hình 3.30 và 3.31 dưới đây tóm tắt các nền tảng kinh tế vĩ mô và vi mô của NLCT Việt Nam.


  1. Nền tảng Năng lực Cạnh tranh của Việt Nam





  1. Mô hình Kim cương – Môi trường Kinh doanh của Việt Nam



    1. Tóm tắt


Tăng trưởng của Việt Nam từ giữa những năm 1980 được dẫn dắt bởi sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và chuyển dịch cơ cấu. Quá trình chuyển đổi này đã làm thay đổi phương thức điều hành nền kinh tế từ kế hoạch hoá sang vận hành theo thị trường, mở cửa cho hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Chuyển dịch cơ cấu đã làm thay đổi cấu trúc của nền kinh tế, dịch chuyển hàng triệu người từ khu vực nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Cả hai sự chuyển dịch này đã cho phép các lợi thế cạnh tranh tiềm ẩn, đặc biệt là lực lượng lao động rẻ, được bộc lộ và phát huy. Tăng trưởng, do đó, được kích hoạt bởi những thay đổi vĩ mô tác động tới toàn hệ thống này. Gần đây, phản ứng chính sách chủ yếu dựa trên gia tăng đầu tư, nhất là đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước và cơ sở hạ tầng, để tạo ra tăng trưởng hơn là dựa trên năng suất và hiệu quả.
Tuy nhiên, tăng trưởng hiện tại của Việt Nam đang dựa trên một mô hình kinh tế mà tiềm năng còn lại là có hạn. Với mô hình này, mức độ phồn thịnh cao nhất mà Việt Nam có thể đạt tới sẽ bị giới hạn bởi mức năng suất mà các lao động thiếu kỹ năng có thể có được trong các hoạt động sản xuất chế biến, chế tạo. Nếu Việt Nam không vượt qua được cách thức tăng trưởng hiện nay, quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước thu nhập thấp hơn mới trỗi dậy. Hơn nữa, việc quá phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài để gia tăng đầu tư nhằm tạo tăng trưởng sẽ tạo ra các mất cân đối vĩ mô nguy hiểm và có thể dẫn tới khủng hoảng.
Tóm lại, mô hình tăng trưởng kinh tế hiện nay của Việt Nam mang những đặc trưng sau:


  • Vai trò của các thành phần kinh tế: Khu vực doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chi phối, trong khi ngày càng có nhiều quan ngại về hiệu quả hoạt động của khu vực này. Khu vực FDI giữ vai trò động lực trong lĩnh vực xuất khẩu, nhưng ngoài ra, chưa thấy rõ vai trò của khu vực này trong việc nâng cao năng suất và kích thích đổi mới sáng tạo của toàn nền kinh tế. Khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước tăng trưởng nhanh nhưng năng lực của khu vực này trong nền kinh tế còn hạn chế.




  • Tăng trưởng dựa vào đầu tư: Mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư vốn, trong khi tỷ lệ tiết kiệm nội địa (đặc biệt là tiết kiệm của khu vực công) đang giảm nhanh, do đó mức độ phụ thuộc vào các nguồn vốn từ bên ngoài như FDI, ODA, kiều hối ngày càng cao. Chính sách tăng trưởng tập trung vào phát triển theo chiều rộng thay vì phát triển theo chiều sâu, tập trung vào số lượng thay vì vào chất lượng, do đó có thể tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh, nhưng về lâu dài là không bền vững, và không giúp nâng cao năng suất và hiệu quả.




  • Chuyển đổi cơ cấu kinh tế: Tăng trưởng được dẫn dắt bởi quá trình chuyển dịch theo chiều ngang từ nông nghiệp sang chế tác thâm dụng vốn và dịch vụ, thay vì dựa vào nâng cao năng suất trong nội bộ ngành. Năng suất của khu vực chế tác ở mức thấp, không những làm cản trở tốc độ tăng trưởng của khu vực này mà còn hạn chế tác động lan toả để nâng cao năng suất của toàn bộ nền kinh tế.




  • Cơ cấu kinh tế có giá trị gia tăng thấp: Mặc dù đạt được tốc độ tăng trưởng ấn tượng và những thành tích trong hoạt động xuất khẩu, giá trị gia tăng của toàn nền kinh tế vẫn ở mức thấp, thậm chí cả trong khu vực xuất khẩu. Lao động giá rẻ là một lợi thế giúp tăng trưởng xuất khẩu, trong khi đa số máy móc và nguyên liệu thô vẫn phải nhập khẩu. Các công ty FDI mang vốn từ nước ngoài vào kết hợp với lao động giá rẻ để sản xuất phục vụ chuỗi giá trị của họ, nhưng lại có rất ít liên kết với khu vực kinh tế trong nước. Do không có sự liên kết cả ở khâu đầu vào và đầu ra với khu vực FDI, các công ty trong nước khó có thể tham gia sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu.




  • Cơ sở hạ tầng thể chế và xã hội không theo kịp với sự năng động và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Mặc dù đạt được những thành tựu trong giáo dục phổ cập và chăm sóc sức khoẻ cơ bản, đã xuất hiện nhiều dấu hiệu đáng lo ngại về chất lượng và khả năng tiếp cận với giáo dục đại học và các dịch vụ y tế bậc cao. Năng lực thể chế không theo kịp với mức độ phát triển phức tạp của kinh tế thị trường và môi trường bên ngoài.




  • Phát triển của các địa phương: Các hoạt động kinh tế chủ yếu tập trung ở hai trung tâm kinh tế lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu của chính sách phát triển vùng là giảm thiểu sự mất cân đối giữa các khu vực, tuy nhiên, cách tiếp cận chính sách thực tế lại không khuyến khích các địa phương tạo ra những lợi thế riêng và nâng cao NLCT. Mức độ tập trung quá cao ở hai thành phố lớn gây ra những vấn đề đô thị nghiêm trọng như tắc đường, kẹt xe, ô nhiễm và những nút thắt cổ chai vi mô khác.




  • Chính sách phát triển ngành: Chính sách phát triển ngành tập trung chủ yếu vào các biện pháp can thiệp, bảo hộ và trợ cấp thay vì nâng cao năng suất và tăng cường liên kết ngành. Các khu công nghiệp và các ưu đãi về tài chính được sử dụng phổ biến như một công cụ của chính sách ngành, nhưng lại ít chú trọng tới nâng cấp kỹ năng cho LLLĐ, cải thiện năng suất, kích thích đổi mới sáng tạo và xây dựng các liên kết cụm ngành.




  • Hội nhập sâu hơn vào kinh tế thế giới: Với việc gia nhập WTO và ký kết các thoả thuận thương mại song phương và đa phương, Việt Nam đã hội nhập sâu hơn vào kinh tế thế giới và thu được những lợi ích đáng kể từ quá trình này. Tuy nhiên, những dấu hiệu bất ổn và dễ tổn thương trước các cú sốc và biến động bên ngoài đang không ngừng gia tăng đòi hỏi Việt Nam phải có một cách tiếp cận chủ động và dài hạn hơn để không những đối phó mà còn có thể dự báo và kiểm soát được các yếu tố bên ngoài một cách hiệu quả.

Sự cần thiết phải thay đổi không chỉ do những yếu tố nội tại bên trong dẫn dắt. Khi hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam cần nhìn nhận được những thay đổi và chuyển dịch của môi trường bên ngoài mà mình phải đối mặt. Một số thay đổi và chuyển dịch sẽ mở ra cơ hội cho Việt Nam, trong khi một số khác sẽ là thách thức phải giải quyết:




  • Sự trỗi dậy của châu Á mở ra những cơ hội cho Việt Nam tiếp cận thị trường của các nước trong khu vực. Nhu cầu trên các thị trường này sẽ tương đồng hơn với nhu cầu thị trường trong nước của Việt Nam so với các thị trường truyền thống ở Hoa Kỳ và châu Âu mà Việt Nam hiện đang xuất khẩu sang. Tuy nhiên, để có thể nắm bắt cơ hội này, Việt Nam cần cải thiện cơ bản sự hấp dẫn của mình trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài để họ lấy Việt Nam làm trung tâm sản xuất phục vụ thị trường khu vực. Và Việt Nam cần tạo dựng một môi trường giúp các công ty trong nước có thể vươn lên để xây dựng những sản phẩm, nhãn hiệu và kênh phân phối phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khu vực châu Á.




  • Sự sắp xếp lại các hoạt động sản xuất toàn cầu cũng mở ra cơ hội cho Việt Nam. Các công ty toàn cầu đang phải đối mặt với áp lực giảm chi phí, và nhiều công ty cũng đang tìm cách giảm bớt sự phụ thuộc vào Trung Quốc. Trong cuộc đua này, Việt Nam là một ứng cử viên cạnh tranh so với các địa điểm khác, nếu Việt Nam có thể cải thiện năng suất trong các hoạt động sản xuất xuất khẩu, qua đó hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Mặt trái của quá trình này là nguy cơ Việt Nam sẽ trở thành nơi tiếp nhận các khâu sản xuất có giá trị gia tăng thấp và thâm dụng lao động dịch chuyển từ các nước đi trước, như Trung Quốc, sang.




  • Cạnh tranh toàn cầu ngày càng quyết liệt, đây là một xu hướng mà Việt Nam chưa tận dụng được và giờ đây đang trở thành một thách thức nhiều hơn là cơ hội. Những đối thủ cạnh tranh mới với chi phí nhân công thấp hơn hoặc môi trường kinh doanh hấp dẫn hơn đang đe doạ vị trí của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Tự do hoá thương mại trong khu vực ASEAN đang đặt thị trường Việt Nam đối mặt với cạnh tranh ngày càng cao. Các hiệp định tự do thương mại của ASEAN với các quốc gia và khu vực khác cũng làm tăng áp lực cạnh tranh. Điều này tốt cho người tiêu dùng Việt Nam nhưng là một thách thức đối với các công ty hoạt động tại Việt Nam. Trong khi đó, các cam kết của Việt Nam trong WTO và ASEAN cũng không cho phép Việt Nam sử dụng các biện pháp bảo hộ để tránh áp lực cạnh tranh.




  • Các rủi ro của hệ thống thương mại toàn cầu cho tới nay đã phần nào được chế ngự nhưng vẫn có nguy cơ bùng phát dễ dàng và có thể để lại những hậu quả nghiêm trọng cho Việt Nam. Những mất cân đối trong dịch chuyển vốn toàn cầu đã làm khuấy động chủ đề về một cuộc chiến tranh tiền tệ. Chủ nghĩa bảo hộ dù tạm thời chưa trở lại mạnh mẽ nhưng có thể là một yếu tố tác động quan trọng. Những suy giảm trong thương mại và đầu tư toàn cầu sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ tới Việt Nam khi nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu hơn. Việt Nam cũng sẽ bị tác động trước nguy cơ khủng hoảng kinh tế ở các nền kinh tế khác như suy thoái kép của Hoa Kỳ hay tăng trưởng quá nóng dẫn tới nguy cơ kinh tế bong bóng ở Trung Quốc.




  • Biến đổi khí hậu, khủng hoảng năng lượng, an ninh lương thực là những vấn đề đang nổi lên. Đây là những vấn đề mang tính toàn cầu nhưng có tác động đặc biệt đối với Việt Nam. Những xu hướng này có thể làm suy giảm vị thế cạnh tranh của Việt Nam trên một số lĩnh vực kinh tế quan trọng, ví dụ như nông nghiệp, và có thể ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống và thu nhập của người dân.


Đã có sự thống nhất quan điểm rằng Việt Nam cần chuyển dịch mô hình tăng trưởng hiện nay – mô hình dựa trên lao động giá rẻ và đầu tư vốn lớn - sang dựa trên năng suất và sức cạnh tranh. Tăng trưởng tương lai của Việt Nam không chỉ dựa trên việc khai thác những lợi thế sẵn có mà phải dựa trên việc liên tục nâng cấp các lợi thế này và tạo dựng những lợi thế mới. Điều này đỏi hỏi phải thay đổi toàn diện các điều kiện vĩ mô và vi mô dẫn dắt năng suất. Quan điểm và cách tiếp cận mới đối với mô hình tăng trưởng này là điều kiện tiên quyết để Việt nam có thể bước lên một nấc thang phát triển mới một cách bền vững.
Tài liệu tham khảo Chương 3:
Acemoglu, Daron, Simon Johnson, James Robinson, and Yunyong Thaicharoen (2003). “Institutional Causes, Macroeconomic Symptoms: Volatility, Crises and Growth”, Journal of Monetary Economics, 50: 49–123.

AmCham (2010). Bài phát biểu tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam, Hà Nội, 26 tháng 5 năm 2010, http://www.vbf.org.vn/downloads/VBF%20book%20May%2010_ENG.pdf

Bùi Trinh (2010). “Đánh giá hiệu quả đầu tư”, bài viết chưa công bố.

Dasgupta, S. Laplante, B. Meisner, C. Wheeler, D. Yan, J. (2007). “The Impact of Sea Level Rise on Developing Countries: A Comparative Analysis”, World Bank Policy Research Working Paper.

DFID (2010). “Measuring the Economic Impact of Competition: Findings from Vietnam”.

Dost, Najim, Jaime Frias, Irene Liu, Ziang Tony Ngo và Markus Taussig (2008). “Analysis and Recommendations on the Development of Vietnam’s Electronic Cluster” .

Easterly, William (2005). “National Policies and Economic Growth: A Reappraisal.” In the Handbook of Economic Growth, edited by Philippe Aghion and Steve Durlauf, North Holland.

European Comission (2009). IPR Enforcement Report.

Fitch Ratings (2009). “Outlook on Vietnamese Banks - Another year of high growth adds to concern”.

Chương trình Kinh tế Fulbright (2008). “Thách thức về cơ sở hạ tầng ở Việt Nam”.

Fulbright Economic Teaching Program (2008). “Surviving a Crisis, Returning to Reform”.

Tổng cục Thống kê (2007). Điều tra các cơ sở sự nghiệp 2007.

Gordon, Roger and Wei Li (2009). “Tax structures in developing countries: Many puzzles and a possible explanation”, Journal of Public Economics, Vol. 93, pp. 855–866.

Harvard Kennedy School’s Vietnam Program and Fulbright Economics Teaching Program (2008). “Choosing Success: The Lessons of East and Southeast Asia and Vietnam’s Future - A Policy Framework for Vietnam’s Socioeconomic Development, 2011-2020.”), Policy Discussion Paper Series.

IDE-JETRO (2005). “Industrial Clusters in Asia – Analyses of Their Competition and Cooperation.”

IMF (2010). “Vietnam – Informal Mid-year Consultative Group Meeting,” statement by IMF staff representative, Kien Giang, June 9-10, 2010.

Lê Xuân Nghĩa (2010), “Kinh tế vĩ mô và rủi ro tài chính vĩ mô”. Bài trình bày tại Hội nghị do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Ngân hàng Thế giới tổ chức tại Hà Nội, tháng 8/2010.

Leung, Suiwah (2009). “Banking and Financial Sector Reforms in Vietnam.”

Mori, Junichi, Nguyen Thi Xuan Thuy, and Pham Truong Hoang (2009). “Skill Development for Vietnam’s Industrialization: Promotion of Technology Transfer by Partnership between TVET Institutions and FDI Enterprises.”

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2010). Báo cáo về Chất lượng giáo dục đại học tại kỳ họp thứ 7

Đề tài nghiên cứu quốc gia (2009) No. KX.04.17/06-10

Nguyễn Đình Cung, “Cơ cấu nền kinh tế: thực trạng, vấn đề và kiến nghị giải pháp,” trình bày tại buổi tọa đàm ngày 17/5/2009 tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.

Ohno, Kenichi (2009). “Avoiding the Middle-income Trap: Renovating Industrial Policy Formulation in Vietnam,” ASEAN Economic Bulletin Vol. 26, No. 1, 25-43.

Porter, Michael E. (1990). The Competitive Advantage of Nations.

Quang, Phan Vinh and John Bentley (2009), “Codification: A New Approach to Reforming Vietnam’s Legal System.”

Báo Sài gòn Giải phóng Online (2010). “Phát triển cơ sở hạ tầng để nâng cao năng lực cạnh tranh,” www.sggp.org.vn.

Báo Sài gòn Giải phóng (2010). Phỏng vấn thống đốc Nguyễn Văn Giàu ngày 30 tháng 9 năm 2010.

Báo điện tử Tổ quốc (2009). “Nợ xấu ngày càng đáng lo” http://www.toquoc.gov.vn

Báo điện tử Tổ quốc (2009). “Khó khăn trong huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông,” http://www.toquoc.gov.vn.

Website Bộ Khoa học công nghệ. http://www.most.gov.vn.

Tue Anh N.T. (2009). “Foreign Direct Investment and Technology Transfer in Vietnam: A case study in Que Vo Industrial Park,” A Paper prepared for the World Bank Institute.

Vallely, Thomas and Ben Wilkinson (2008). Vietnamese Higher Education – Crisis and Response,” Harvard Kennedy School of Government, Ash Institute.

Vietnam Energy Portal, http://www.vietnamep.com/energy.

Vietnam’s Achievement Against 2015 MDG Goals, http://www.mdgmonitor.org/country_progress.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Báo cáo tóm tắt kết quả giám sát, "Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước” 4/11/2009.

VnEconomy (2010). Phỏng vấn ông Đặng Quyết Tiến, Phó Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài chính ngày 20 tháng 1 năm 2010 http://vneconomy.vn/20100120093926128P0C5/co-phan-hoa-cham-do-khach-quan.htm.

Vu Thanh Tu Anh et al. (2007). “Provincial Extralegal Investment Incentives in the Context of Decentralisation in Viet Nam: Mutually Beneficial or a Race to the Bottom?”

Vũ Thành Tự Anh (2009). “Global Financial Crisis and Its Implications for Vietnam,” in From Crisis to Restructuring, Ho Chi Minh City National University Publication, 3-18.

Vũ Thành Tự Anh (2010). “Vietnam’s Macroeconomy and Fiscal Policy in 2010,” presented at a conference held by The Institute of Financial Training, Vietnam Ministry of Finance: “Financial Policy Making in the Period of Post-crisis,” January 26, 2010. Hanoi.

Vũ Thành Tự Anh (2010). “Structural Reforms as the Means to Vietnam’s Development and Poverty Reduction,” presented at a conference held by The State Bank of Vietnam and The International Monetary Fund: “Post-Crisis Growth and Poverty Reduction in Developing Asia,” March 22, 2010, Hanoi.




1 Tỷ lệ nghèo căn cứ vào mức do Tổng cục Thống kê (TCTK) và Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra với mức chi tiêu bình quân đầu người hàng tháng là 216.000 VND.

2 Chuẩn nghèo của Chính phủ cho giai đoạn 2006-2010 là chi tiêu bình quân đầu người 200.000 VND ở nông thôn và 220 nghìn VND ở thành thị.

3 Trung tâm công nghiệp lưu vực sông Cầu gồm các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương và Vĩnh Phúc.

4 Trong kinh tế học, nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) là một biến số đo lường phần tăng trưởng đầu ra được tạo ra bởi các yếu tố đầu vào không phải là yếu tố truyền thống như vốn hay lao động. TFP bao gồm nhiều yếu tố nhưng chủ yếu là tiến bộ công nghệ.

5 Kết quả điều tra dân số sơ bộ năm 2009 (Tổng cục Thống kê)

6 Số liệu so sánh giữa các nước cho các năm gần đây không có.

7 Đầu tư từ “các nguồn khác” chủ yếu là trái phiếu, được hạch toán ngoài ngân sách.


8 Năm 2008, tổng đầu tư xã hội tăng 10,2% trong khi đầu tư của khu vực công giảm 15,7% so với năm 2007, chủ yếu là do tác động của các biện pháp kiềm chế lạm phát.

9 Khu công nghệ cao luôn phải đối mặt với sự chậm tiến độ trong giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng.

10 Phần này sử dụng một số phân tích và số liệu do Tiến sỹ Manuel Albaladejo (UNIDO) cung cấp. Xin tham khảo tài liệu Albaladejo, M. 2010, “So sánh khả năng cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam”, tài liệu của UNIDO đóng góp cho Báo cáo NLCT Việt Nam 2010, Viên (Áo).

11 Tuy nhiên, cần thận trọng khi căn cứ vào những con số về vốn điều lệ này để đánh giá tình hình vì các con số này được đưa ra chỉ nhằm mục đích đăng ký thành lập doanh nghiệp.

12 Tổng sản lượng khai thác hàng năm của các mỏ than đá phía Bắc Việt Nam là khoảng 40 triệu tấn và phần lớn để xuất khẩu, chủ yếu là sang Trung Quốc. Năm 2009, tốn khối lượng than đá xuất khẩu của Việt Nam vào khoảng 24 triệu tấn, không kể than xuất lậu theo đường tiểu ngạch. Trong khi đó, Bộ Công thương dự kiến từ năm 2012, Việt Nam sẽ phải nhập than với khối lượng lớn làm nhiên liệu đầu vào cho sản xuất. Lượng nhập khẩu có thể lên tới 34 triệu tấn vào năm 2015 và 114 triệu tấn vào năm 2020 (Nguồn: Công Thông tin Năng lượng Việt Nam – http://www.vietnamep.com/energy)


13 Chỉ số CCI do Giáo sư Michael Porter và nhóm cộng sự gồm Mercedes Delgado, Christian Ketels và Scott Stern xây dựng, sử dụng số liệu của Khảo sát ý kiến doanh nghiệp của Diễn đàn Kinh tế Thế giới cũng như các nguồn số liệu khác. Xem thêm phần giới thiệu về CCI trong Báo cáo NLCT Toàn cầu 2008.

14 Từ 2002-2007 đã có hơn 120 dự án luật, pháp lệnh được trình Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội. Ước tính sơ bộ đã có 42 luật, 462 nghị định, 12 pháp lệnh, 245 chỉ thị, 957 thông tư, 168 nghị quyết và hàng nghìn các văn bản quy phạm khác được ban hành. Nhiều bộ luật quan trọng đã được ban hành trong giai đoạn này như Luật sở hữu trí tuệ, Luật thực hành, chống lãng phí, Luật phòng chống tham nhũng và sửa đổi, bổ sung nhiều bộ luật kinh tế như Luật Doanh nghiệp, Luật Ngân sách, Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Bảo vệ môi trường, Luật bảo hiểm xã hội, Luật Lao động sửa đổi.

15 Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa X) đã ban hành các nghị quyết số 45/1998, số 55/1998 và số 60/1998 giao cho Chính phủ ban hành các Nghị định về thực hiện Quy chế Dân chủ ở 3 loại hình cơ sở. Chính phủ đã ban hành 3 nghị định là: Nghị định số 29/1998/NĐ-CP Quy chế thực hiện Dân chủ ở xã (11-5-1998); Nghị định số 71/1998/NĐ-CP Quy chế thực hiện Dân chủ trong hoạt động của các cơ quan (8-9-1998); và Nghị định số 07/1999/NĐ-CP Quy chế thực hiện Dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước (13-2-1999).

16 Phần này tham khảo và sử dụng phân tích của GS. Ohno (2009) có hiệu đính và cập nhật, với sự đồng thuận của ông, trích "Tránh bẫy thu nhập trung bình: Đổi mới chính sách phát triển công nghiệp ở Việt Nam” ASEAN Economic Bulletin, 26-1, pp.25-43, Ohno, Kenichi 2009

17 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ổn định ở mức một con số, thâm hụt ngân sách ở dưới mức 3%, thâm hụt thương mại dưới 5%, và dự trữ ngoại hối vào khoảng 4 tháng nhập khẩu.

18 Theo định nghĩa của Bộ Tài chính, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.


19 Theo “Bản tin Nợ nước ngoài” của Bộ Tài chính. Nếu theo Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính (DMFAS) của UNCTAD, nợ công còn bao gồm các nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc chính phủ, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở tất cả các cấp chính quyền, thì nợ công của Việt Nam còn cao hơn nhiều. Ví dụ, theo Economist Intelligence Unit (EIU) thì nợ công của Việt Nam tính đến cuối 2009 lên tới 51% GDP so với mức 44,7% theo công bố của Bộ Tài chính.

20 Nếu nhìn vào một số dự án đầu tư dự kiến như đường sắt cao tốc Bắc Nam (56 tỷ đô-la), dự án xây dựng thủ đô (90 tỷ đô-la), nhà máy điện nguyên tử ở Ninh Thuận (hơn 10 tỷ đô-la) v.v. từ nay đến 2030, trong đó nguồn tài trợ chủ yếu là từ ngân sách và nợ công, thì có thể thấy gánh nặng nợ công sẽ tiếp tục tăng rất nhanh trong những năm tới.


21 Bên cạnh tốc độ tăng GDP, lạm phát và lãi suất, mức độ rủi ro của nợ công cũng phụ thuộc vào một số biến số vĩ mô khác, chẳng hạn như mức thâm hụt tài khoản vãng lai và dự trữ ngoại hối của quốc gia. Trên những phương diện này, Việt Nam cũng đang có những bất lợi đáng kể so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực.

22 Đứng thứ nhì là Malaysia có tỷ lệ thu ngân sách khoảng 22% GDP.

23 Dòng vốn chảy vào Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2008 ước tính là 45 tỷ USD, trong đó gồm 13 tỷ USD kiều hối, 23 tỷ USD vốn tư nhân (FDI, FPI, tín dụng thương mại), 3 tỷ USD vốn ODA và 6 tỷ USD chi tiêu của khách quốc tế.

24 Một số hệ quả khác của tình trạng “quá nhiều tiền nhưng quá ít hàng” là bong bóng tài sản (đặc biệt là bất động sản và chứng khoán) và thâm hụt thương mại tăng vọt trần.

25 Song song với chính sách thắt chặt tiền tệ, chính phủ cũng cắt giảm chi tiêu công, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước nhằm hạn chế thâm hụt ngân sách. Với chính sách này, đầu tư của khu vực nhà nước trong năm 2008 (theo giá cố định) đã giảm 16,4% so với năm 2007. Kết quả của chính sách tài khóa và tiền tệ là lạm phát, sau một thời gian trễ khoảng 6 tháng, đã trở lại mức một con số vào đầu năm 2009.

26 Đến thời điểm này, ngay cả sau khi giảm giá VND so với USD 5% vào tháng 11/2009, 3,3% vào tháng 2/2010, và thêm 2,1% trong tháng 8/2010 thì VND vẫn bị định giá cao khoảng 13% so với USD tính từ mốc 2000. Xem Lê Xuân Nghĩa (2010), “Kinh tế vĩ mô và rủi ro tài chính vĩ mô”.


27 Cuối tháng 7/2010 Fitch đã giảm xếp hạng tín dụng của Việt Nam từ “BB-“ xuống “B+” (tức là thấp hơn “mức đầu tư” (investment grade) bốn bậc). Nguyên nhân chính là do thâm hụt ngân sách rất cao của Việt Nam được tài trợ chủ yếu thông qua phát hành nợ bằng đồng ngoại tệ, trong khi dự trữ ngoại hối lại đang suy giảm và cán cân vãng lai tiếp tục xấu đi.

28 Phần này có tham khảo và trích dẫn một số nghiên cứu và số liệu của nghiên cứu của DFID “Đo lường tác động kinh tế của cạnh tranh: Các phát hiện tại Việt Nam”, 2010, trang 16

29 Phần này có tham khảo và sử dụng một số phân tích và số liệu của Suiwah Leung (2009), có cập nhật và bổ sung , “Cải cách Khu vực Tài chính và Ngân hàng ở Việt Nam”, ASEAN Economic Bulletin, Volume 26, Number 1, tháng 4/2009, trang 44 - 57

30 Trả lời phỏng vấn báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 30/9/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu

31 Phần này sử dụng các số liệu và kết quả được trình bày trong “Báo cáo Kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học” của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tại Kỳ họp 7 (5-6/2010)

32 “Văn bản pháp luật” bao gồm cả VBQPPL theo định nghĩa trong Luật ban hành VBQPPL 2008 và các công văn và các văn bản khác không phải là VBQPPL, nhưng chứa đựng yếu tố pháp quy - ví dụ các quy định và thủ tục hành chính.

33 Luật ban hành VBQPPL không có yêu cầu cụ thể về đánh giá tác động và tham vấn công khai đối với các quyết định hành chính. Các quy định về đánh giá tác động chỉ áp dụng chính thức đối với các văn bản luật, pháp lệnh, nghị định trong khi các văn bản pháp quy khác không phải tuân thủ các đòi hỏi chặt chẽ và chính thức về đánh giá tác động.

34 Cuối năm 2005, Bộ Tài chính làn đầu tiên đại diện cho Chính phủ phát hành 750 triệu USD trái phiếu Việt Nam ra nước ngoài, khoản tiền này được dùng cho tập đoàn Vinashin vay lại với sự bảo lãnh của Chính phủ. Năm tiếp theo Vinashin tự đứng ra cam kết vay từ các ngân hàng nuớc ngoài thêm 600 triệu USD. Trong năm này, tập đoàn lên kế hoạch phát hành 400 tỷ VND trái phiếu ra thị trường quốc tế (tương đương 20 triệu USD) ngay trước khi phải tái cấu trúc. Tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu của tập đoàn tại thời điểm tái cấu trúc lên đến 11 lần, Với tổng số nợ ước tính là 86 000 tỷ VND (tương đương 4.3 tỷ USD) trong khi tổng số vốn là 104 000 tỷ (khoảng 5,2 tỷ USD). Nợ của Vinashin bao gồm cả 750 triệu USD trái phiếu phát hành ra nước ngoài do Chính phủ bảo lãnh và các khoản nợ các tổ chức tài chính khác.

35 Tỷ lệ vốn trên người lao động của khu vực Nhà nước năm 2007 là 1.11 đồng/người, gấp 3 lần khu vực ngoài quốc doanh, (0.35 tỷ/người) và gấp 2.5 lần khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (0.45 tỷ/người). Để tao ra 1 đơn vị lợi nhuận, các DNNN cần 1,8 đơn vị vốn, khu vực ngoài quốc doanh là 1.13 và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 1.03 (số liệu Tổng cục thống kê).

36 Theo ước tính của Viện Chiến lược và Chính sách Công nghiệp, Bộ Công thương

1   2   3   4   5   6   7   8   9


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương