Giới thiệu chung Kết quả Kinh tế của Việt Nam



tải về 1.02 Mb.
trang7/9
Chuyển đổi dữ liệu06.07.2016
Kích1.02 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9

Năng lực cạnh tranh vi mô

3.3.1 Chất lượng môi trường kinh doanh

Trong một khuôn khổ kinh tế vĩ mô nhất định, năng suất của doanh nghiệp phụ thuộc vào tập hợp các nhân tố vi mô cấu thành nên môi trường kinh doanh. Môi trường kinh doanh hình thành nên bối cảnh (và động lực) cho chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp và hình thành mối liên kết giữa các doanh nghiệp. Và khi các doanh nghiệp phản ứng lại với các yếu tố của môi trường, họ cũng tạo ra những thay đổi trong môi trường kinh doanh. Bởi vậy, NLCT vi mô là kết quả của mối quan hệ tương tác phức tạp giữa các nhân tố và chủ thể công và tư. Vì vậy, để xây dựng được các chiến lược hiệu quả nhằm nâng cao NLCT đòi hỏi phải hiểu được các quan hệ tương tác này và tác động của chúng tới sự sáng tạo và năng suất.


Mô hình Kim cương của Michael Porter khái quát hoá các quan hệ tương tác quyết định NLCT ở tầm vi mô (Porter 1990). Bốn góc của viên kim cương mô tả bốn khía cạnh của môi trường kinh doanh - đó là các điều kiện về nhân tố đầu vào, bối cảnh chiến lược và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, các điều kiện cầu và sự hình thành các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan.

3.3.1.1. Các điều kiện về nhân tố đầu vào

3.3.1.1.1. Cơ sở hạ tầng


- Đầu tư tăng đáng kể trong những năm qua đã tạo ra những kết nối hạ tầng cơ bản
Trong những năm gần đây, nhà nước đã quan tâm đầu tư hệ thống đường quốc lộ trục Bắc Nam, củng cố đường giao thông nội thị, nhất là ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM, nhiều công trình trọng điểm đã và đang khởi công nhằm cải thiện giao thông ở các đầu mối, các trục chính ở các vùng kinh tế trọng điểm. Đầu tư cơ sở hạ tầng của Việt Nam đã ở mức rất cao trong GDP, khoảng hơn 10%. Trong khi đó, khuyến cáo của Ngân hàng thế giới về đầu tư cơ sở hạ tầng chỉ là 7% để đảm bảo mức tăng trưởng cao và bền vững. Tỷ lệ đầu tư cơ sở hạ tầng trong GDP của Thái Lan và Trung Quốc hiện nay là 7 – 8% GDP – gần hơn với mức khuyến cáo của WB (Chương trình Kinh tế Fulbright 2008, 3). Trong lĩnh vực này, đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước là chủ yếu, chiếm khoảng ba phần tư tổng đầu tư cơ sở hạ tầng. Mặc dù với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, nhu cầu đầu tư hạ tầng cao là điều bình thường, nhưng hiệu quả và chất lượng của đầu tư không nhất thiết đi đôi với quy mô đầu tư.


  1. Đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt Nam, 2000 - 2006

 

2000

2006

GDP (tỷ USD)

31.2

61.0

Đầu tư CSHT (tỷ USD)

2.6

6.5

Đầu tư công cho CSHT (tỷ USD)

2.4

4.8

Đầu tư CSHT trên GDP (%)

8%

11%

Đầu tư công cho CSHT trên tổng đầu tư CSHT (%)

94%

74%

Nguồn: Thách thức về CSHT ở Việt Nam, Chương trình kinh tế Fulbright, 2008




  • Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư còn thấp và kém dần, chất lượng và hiệu quả của các dự án cơ sở hạ tầng là vấn đề cần được xem xét.




  1. So sánh hiệu quả đầu tư của một số công trình đường sắt
    tại Việt Nam và Trung Quốc





 

Hà Nội - Vinh

Bắc Kinh - Thượng Hải

Thanh Hải - Tây Tạng

Chiều dài

334 km

1,318 km

1,142 km

Tốc độ

200 km/h

300-350 km/h

120 km/h

Thời gian

1.5 h

5 h

-

Chi phí

12.9 tỷ $

$22.6 tỷ $

3.68 tỷ $

Triệu USD/km

38.6

17.1

3.2

Nguồn: Thách thức về CSHT ở Việt Nam, Chương trình Kinh tế Fulbright, 2008

Tuy nhiên, theo khảo sát ý kiến doanh nghiệp của Diễn đàn kinh tế thế giới, mặc dù mức độ đầu tư cho hạ tầng rất lớn, nhưng năng lực hạ tầng vẫn còn thiếu và chất lượng hạ tầng của Việt Nam vẫn còn rất thấp.




  1. Xếp hạng về chất lượng cơ sở hạ tầng theo chỉ số CCI 2009




Nước

Xếp hạng

Đường bộ

Đường sắt

Đường biển

Đường hàng không

Việt Nam

96

51

85

79

Trung Quốc

55

28

70

80

Xingapo

1

8

1

2

Malaixia

25

21

33

32

Inđônêxia

87

61

92

67

Ấn Độ

92

20

91

71

Thái Lan

34

54

41

25

Phi-lip-pin

110

99

128

119

Campuchia

69

100

97

91

Hàn Quốc

16

10

27

18

Nhật Bản

21

3

36

50

Nguồn: Khảo sát ý kiến doanh nghiệp toàn cầu của WEF, Học viện Chiến lược và NLCT Harvard tổng hợp

Theo điều tra NLCT cấp tỉnh (PCI), 71% doanh nghiệp chế tạo nói rằng sản phẩm của họ bị hỏng khi vận chuyển do chất lượng đường xá kém, gây thiệt hại trung bình khoảng 43 triệu đồng cho một doanh nghiệp mỗi năm.




  • Hiệu quả dịch vụ logistics tương đối thấp so với các nước trong khu vực

Hình 3.12 so sánh Chỉ số hiệu quả dịch vụ logistics (LPI) của các nước theo cách tính điểm của WB. Chỉ số LPI là một chỉ số phức hợp, kết hợp 7 chỉ số theo thang điểm từ 0 đến 5. Trong số các nước được so sánh, Việt Nam chỉ đứng trên Campuchia và xếp sau tất cả các nước trong khu vực.




  1. Chỉ số hiệu quả dịch vụ logistics (LPI), Việt Nam so với các nước






  • Cơ sở hạ tầng và các dịch vụ tiện ích (điện, nước) không theo kịp tốc độ tăng trưởng và đô thị hoá

Hệ thống kết cấu hạ tầng còn lạc hậu và chưa đáp ứng được nhu cầu đang là vấn đề rất lớn cản trở phát triển kinh tế - xã hội. Hiện tượng tắc nghẽn giao thông ngày càng phổ biến hơn, các phương tiện giao thông ngày càng tốn nhiều thời gian trên đường, nhiều con đường xuống cấp nhưng lại thiếu được duy tu bảo dưỡng. Theo Khảo sát ý kiến doanh nghiệp toàn cầu của WEF, cơ sở hạ tầng yếu kém luôn là một trong những yếu tố gây cản trở nhiều nhất đối với sản xuất kinh doanh ở Việt Nam (là yếu tố đứng đầu trong năm 2009 và đứng thứ hai trong năm 2010).


Việt Nam có tổng chiều dài đường sắt là 2.600 km, nhưng hệ thống hạ tầng đường sắt quá lạc hậu và thị trường này hoàn toàn do nhà nước nắm giữ, không đáp ứng nhu cầu. Mật độ đường sắt là 0,8 km/100 km2, trong đó đường sắt Bắc Nam dài 1726 km, tuyến Hà Nội – Lào Cai 230 km, Hà Nội – Hải Phòng 100 km. Hai tuyến quốc tế Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh, Hà Nội- Đồng Đăng- Bắc Kinh. Tuyến đường sắt Bắc Nam đang được củng cố, nâng cấp nhưng hệ thống này đang ở vào thế độc tuyến, chỉ cần một ách tắc nhỏ tại một địa điểm sẽ làm cho cả hệ thống phải tạm ngừng hoạt động, thiếu những tuyến đường dẫn đến các khu kinh tế, khu công nghiệp, cảng biển, nối với các nước bạn Lào và Campuchia, chưa kể chất lượng đường sắt của ta quá kém, khổ hẹp không thể đi với tốc độ cao, giao cắt với đường dân sinh lại quá nhiều, tai nạn thường xuyên xảy ra dọc tuyến.
Mặc dù đã có những hải cảng Quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận các tàu lớn, song dịch vụ của các cảng này chưa đáp ứng yêu cầu, chi phí dịch vụ cao, thời gian thông quan lâu từ 3 đến 7 ngày, có khi lên tới 1 tháng trong khi ở Xingapo là 10 phút, chưa có cảng container trung chuyển quốc tế. Không có đường sắt và đường bộ kết nối liên tuyến với hệ thống cảng. Phát triển của cơ sở hạ tầng không theo kịp tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.
Cảng chính của Việt Nam là cảng thành phố Hồ Chí Minh, được xếp thứ 36 trong số các cảng container nhộn nhịp nhất thế giới. Từ năm 2004, vận tải qua cảng ngày càng tăng, với mức tăng trung bình 4,2% hàng năm, nhưng vẫn chưa theo kịp tốc độ tăng về nhu cầu vận tải container đường biển trên thế giới như được chỉ ra trong Hình 3.13. Tỷ lệ vận tải container qua cảng thành phố Hồ Chí Minh (trong tổng khối lượng vận chuyển qua 40 cảng biển lớn nhất thế giới) giảm từ 1,3% năm 2004 xuống còn 1,0% năm 2008.


  1. Vận tải container qua cảng thành phố Hồ Chí Minh 2004-2008



Hệ thống cảng hàng không cũng quá tải, đặc biệt là các cảng hàng không quốc tế, khả năng tiếp nhận hành khách thấp, chất lượng dịch vụ thấp, máy bay các tuyến nội địa của Việt Nam thường xuyên bị trễ giờ. Đến nay, dung lượng thị trường hàng không nội địa của Việt Nam mới chỉ đạt 9-10 triệu khách/năm.


  1. Năng lực cảng hàng không Việt Nam so với một số nước châu Á



Cảng hàng không

Tổng số hành khách (triệu người)

Tốc độ tăng trưởng, 2005-2006 (%)

Hồng Kông

43.3

8.70%

Singapore

33.4

8.60%

Bangkok

29.6

10.30%

Incheon – Hàn Quốc

27.7

8.10%

Narita – Nhật Bản

27.5

1.70%

Thượng Hải

16.1

10.40%

Kuala Lumpur

15.1

6.80%

Tân Sơn Nhất

4.26

2.10%

Nguồn: Thách thức về CSHT ở Việt Nam, Chương trình Kinh tế Fulbright, 2008

Nhu cầu điện hàng năm hiện tăng 16-17%, tăng gấp 2 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Sản xuất điện trong nước hiện nay không đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, điện phải nhập khẩu từ Lào, Trung Quốc, ngành điện phải áp dụng triệt để các biện pháp tiết kiệm điện. Theo điều tra PCI năm 2009, một doanh nghiệp trung bình bị cắt điện 50 tiếng/tuần, so với 44 tiếng trong năm 2008, và 50% số các doanh nghiệp bị cắt điện không được thông báo trước về việc cắt điện.

Tỷ lệ cấp nước đô thị vẫn ở mức thấp, đô thị loại 1 và 2 tỷ lệ cấp nước đạt 70-80%, đô thị loại trung bình đạt 50-55%, đô thị loại 4 và 5 chỉ đạt 15-20%. Công suất thiết kế các nhà máy không phù hợp, nơi thừa, nơi thiếu, cá biệt có nơi chỉ khai thác 15-20% công suất thiết kế. Tỷ lệ thất thoát nước cao từ 30-40%, có nơi 50%. Chất lượng nước chưa đạt tiêu chuẩn cho phép. Cơ chế chính sách vẫn còn nhiều bất cập nhất là giá nước.
Các đô thị của Việt Nam nhìn chung chưa có hệ thống nước thải riêng mà chung cho cả thoát nước mưa và nước thải. Hệ thống thoát nước đầu tư qua nhiều thời kỳ khác nhau, không hoàn chỉnh, đồng bộ, nhiều tuyến cống xuống cấp nên khả năng thoát nước kém. Đặc biệt nước thải của các KCN gây ô nhiễm nặng nề các dòng sông lớn như sông Đồng Nai, Sài Gòn, Thị Vải, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tô Lịch, sông Cầu,... Hiện tượng ngập úng ở các đô thị lớn vẫn thường xuyên xảy ra ở các đô thị lớn mỗi khi có mưa lớn hay triều cường. Có thể nói thoát nước và xử lý nước thải đang là thách thức lớn đối với lĩnh vực thoát nước.


  • Nhu cầu đầu tư lớn, nhưng thiếu trọng tâm và ưu tiên; lợi ích của nhà tài trợ ảnh hưởng tới các quyết định đầu tư

Theo quy hoạch, nhu cầu đầu tư của riêng bốn ngành điện, đường bộ, đường sắt, cảng biển, trong 10 năm tới lên tới 120-150 tỷ USD (điện 40 tỷ, đường bộ 53 tỷ USD, đường sắt 3 tỷ USD chưa kể đường sắt trên cao và tàu điện ngầm, cảng biển 25 tỷ USD). Như vậy, mỗi năm cần 12-15 tỷ USD. Với khả năng huy động vốn như hiện nay, các nguồn vốn nhà nước truyền thống như NSNN, DNNN, ODA, trái phiếu chính phủ cũng chỉ đáp ứng được tối đa 50% nhu cầu đầu tư, trong khi huy động vốn đầu tư tư nhân chiếm chưa tới 5% trong thời gian qua. Nhà nước kêu gọi vốn tư nhân tham gia theo mô hình hợp tác công - tư (Public Private Partnerships - PPP) trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Do đó, mô hình PPP sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển hạ tầng trong những năm tới. Việt Nam đã áp dụng mô hình PPP cho một số dự án phát triển đường cao tốc. Đến nay đã có khoảng 80 dự án PPP được triển khai dưới dạng BOT, với tổng vốn đầu tư khoảng 90.000 tỷ đồng (Theo báo điện tử Tổ quốc, 2009). Mới đây, Chính phủ đã có dự thảo quy chế cho phép tiến hành thí điểm một số dự án hạ tầng theo mô hình PPP. Theo đó, Chính phủ có thể tài trợ tới 30% số vốn cần có, hoặc thậm chí 50% đối với một số dự án có thời gian hoạt động dài và mức thu hồi vốn cao.


Trong khi đó, quy hoạch phát triển hạ tầng còn dàn trải, thiếu trọng tâm trọng điểm và thiếu tính chiến lược. Chẳng hạn như, trong 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch phát triển 39 cảng biển với 108 bến được xây dựng mới và nâng cấp, (trong đó 32 cảng biển có kế hoạch xây dựng mới). Trong khi đó, ở Mỹ, dọc bờ biển phía Tây (dài hơn 1900km) cũng chỉ có 3 cảng chính. Ở Malaixia, từ năm 1970, chỉ có 2 cảng chính, nhưng sau đó Chính phủ quyết định mở rộng thêm 4 cảng quốc gia và 3 cảng nội địa, điều đó dẫn tới tình trạng dư thừa năng lực và cạnh tranh gay gắt giữa các cảng.
Trong nhiều trường hợp, việc lựa chọn dự án bị chi phối bởi lợi ích của các nhà tài trợ hơn là dựa trên nhu cầu thực tế.



Hộp 3.2: Dự án đường cao tốc Bắc - Nam
Dự án đường cao tốc Bắc – Nam hiện đang gây ra nhiều tranh luận về tính khả thi và hiệu quả. Với chiều dài dự kiến là 1570km, ước tính chi phí cho dự án là 56 tỷ USD (tính theo giá hiện hành) – tương đương hơn 50% GDP của Việt Nam. Hiện nay trên thế giới chỉ có 11 nước có hệ thống đường cao tốc và đều là nước phát triển (trừ Trung Quốc) và chiều dài phổ biến của hệ thống đường là 100 – 400km, đó là chiều dài tối ưu đảm bảo hiệu quả và độ an toàn đối với một hệ thống đường cao tốc (Theo các chuyên gia của Hiệp hội xây dựng Việt Nam, với chiều dài hơn 800km, vận tải đường không sẽ hiệu quả hơn so với vận tải đường sắt).
Chi phí đầu tư hàng năm ước tính là 2,63 tỷ USD, trong đó 2/3 số vốn đầu tư dự kiến được vay bên ngoài từ các nhà tài trợ (với điều kiện chi phí dự án vẫn không thay đổi và tốc độ tăng GDP hàng năm được giữ ổn định ở mức 6,4% trong thời kỳ 25 năm). Điều này dẫn tới nhiều lo ngại, ngay cả trong cộng đồng các nhà tài trợ, về tính khả thi trong việc huy động vốn và tính bền vững của dự án trong bối cảnh mức độ thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài quá cao như hiện nay. Tác động của dự án hiện vẫn cần phải xem xét vì đường cao tốc có thể chỉ phục vụ vận chuyển một bộ phận nhỏ hành khách có khả năng chi trả giá cước tương đối cao so với vận chuyển bằng phương tiện công cộng dành cho hành khách thu nhập thấp và hàng hoá. Các chuyên gia của Hiệp hội Bảo vệ Môi trường cũng ước tính rằng để xây dựng một hệ thống như vậy sẽ buộc phải phá huỷ 1383 ha rừng tự nhiên và ảnh hưởng tới cuộc sống của 16.592 hộ gia đình phải di dời.
Nguồn: Tổng hợp từ VietnamNet, Dan tri, VnExpress




3.3.1.1.2 Hạ tầng thông tin liên lạc




  • Tỷ lệ thâm nhập của Internet cao và tăng nhanh, được hỗ trợ bởi cơ cấu dân số trẻ

Cho đến năm 1997, Việt Nam bắt đầu có dịch vụ Internet. Tuy nhiên, từ đó cho đến nay việc sử dụng internet phát triển nhanh chóng. Theo mô tả trong Hình 3.14, số liệu mới nhất (quý 2 năm 2009) cho thấy khoảng 25% dân số có truy cập Internet. Trong năm 2006, Chính phủ thông báo kế hoạch tăng tỷ lệ truy cập internet lên 35% vào năm 2010. Để đạt mục tiêu này, đòi hỏi số người sử dụng interent phải tăng rất nhanh mỗi năm, một chỉ tiêu không dễ đạt được.


Hình 3.14 cho thấy tỷ lệ thâm nhập Internet của Việt Nam so với một số nước. Tỷ lệ truy cập Internet của sáu nước được so sánh, từ Hàn Quốc tới Malaixia, nằm trong khoảng 65-77%. Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ truy cập internet thấp hơn, gồm Trung Quốc, Philippin và Thái Lan, với tỷ lệ truy cập từ 24-27%. Inđônexia đang tụt lại sau với tỷ lệ truy cập là 12,5%.


  1. Tỷ lệ truy cập Internet của Việt Nam và các nước so sánh (Q II 2009)



Tương tự như Internet, dịch vụ viễn thông nhìn chung cũng có một điểm xuất phát chậm, nhưng sau đó đã có một giai đoạn bắt kịp mạnh mẽ. Ban đầu việc phát triển dịch vụ viễn thông ở Việt Nam không đáp ứng được mục tiêu tăng trưởng tham vọng của Chính phủ. Sau đó, Chính phủ theo đuổi một cách tiếp cận mới với việc mở rộng cạnh tranh trên thị trường này. Trong đó điện thoại di động là thị trường năng động nhất.


  1. Tỷ lệ thâm nhập của dịch vụ điện thoại tại Việt Nam, 1990 - 2008


Hình 3.15 cho thấy, trong năm 1990 Việt Nam chỉ có 100.000 thuê bao điện thoại, tương đương 100 dân có 0,14 người sử dụng điện thoại cố định. Đây là mức thấp nhất trên thế giới. Nhưng đến năm 2000 đã có khoảng 3 triệu thuê bao điện thoại cố định, tương đương 100 dân có 4 người sử dụng điện thoại. Năm 2008, số liệu cho thấy có 34,32 thuê bao dịch vụ điện thoại cố định trên 100 dân và 81,2 thuê bao dịch vụ điện thoại di động trên 100 dân.


  • Cấu trúc thị trường viễn thông28: Thị trường viễn thông Việt Nam là một ví dụ điển hình về lợi ích đem lại từ tự do hóa và cạnh tranh. Giá cước viễn thông giảm và số người sử dụng tăng lên nhanh chóng qua thời gian.

Viễn thông là một trong vài khu vực ở Việt Nam có sở hữu nhà nước lớn với tầm quan trọng về “chiến lược” và “an ninh”, do đó tự do hóa trong ngành này được thực hiện dần dần và thận trọng. Nhận thức được rằng viễn thông là một yếu tố hạ tầng then chốt cần thiết cho sự phát triển kinh tế của quốc gia, Chính phủ đã đầu tư đáng kể vào khu vực này và từng bước nới lỏng kiểm soát, mở rộng và nâng cao năng lực viễn thông. Năm 1990, khu vực này hoạt động dưới sự giám sát chặt chẽ của nhà nước và chỉ có một doanh nghiệp nhà nước cung ứng dịch vụ viễn thông.

Tuy nhiên, sau đó các công ty nước ngoài đã được phép sản xuất linh kiện và thiết bị viễn thông hoặc được phép hỗ trợ doanh nghiệp trong nước cung ứng dịch vụ này. Từ năm 1995, các doanh nghiệp trong nước cũng được phép cung cấp dịch vụ viễn thông để cạnh tranh với độc quyền nhà nước và do đó nhiều dịch vụ mới được đưa ra. Cuối những năm 1990, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được quyền linh hoạt trong thiết lập giá cước, các cơ quan có thẩm quyền cố gắng xây dựng các quy định về viễn thông rõ ràng hơn, và các công ty viễn thông của nhà nước cố gắng huy động vốn đầu tư cho ngành này từ khu vực tư nhân. Trong những lĩnh vực có cạnh tranh mạnh, các nhà cung cấp được quyền thiết lập mức cước và phí dịch vụ. Trong những lĩnh vực có độc quyền nhà nước, mặc dù doanh nghiệp nhà nước nắm quyền kiểm soát về cước và phí dịch vụ trong lĩnh vực mà họ độc quyền, nhưng vẫn hướng tới mục tiêu giảm cước và phí dịch vụ cho đến khi bằng mức cước phí bình quân trong khu vực.
Những thay đổi trên đây đã làm tăng trưởng nhanh chóng số lượng thuê bao điện thoại cố định và điện thoại di động cũng như mở rộng mạng lưới phủ sóng. Khu vực viễn thông của Việt Nam hàng năm tăng trưởng khoảng 25%, gấp đôi so với mức tăng trong khu vực châu Á và gấp ba lần mức tăng trung bình trên thế giới.

3.3.1.1.3 Hạ tầng tài chính29


- Khu vực tài chính mở rộng mạnh mẽ, nhưng chưa phát triển sâu và mức độ tinh vi phức tạp chưa cao
Từ Hình 3.16 cho thấy, từ giữa những năm 1990, tín dụng ngân hàng tương đương khoảng 20% GDP, nhưng sau đó tăng gần bằng các nước so sánh.


  1. Tín dụng trong nước của Việt Nam so với các nước so sánh


Thị trường tài chính đã đa dạng hơn, nhưng chủ yếu vẫn là sự hiện diện chi phối của dịch vụ ngân hàng, trong khi mức độ vốn hoá của thị trường chứng khoán cũng tăng nhanh chóng. Thị trường trái phiếu và bảo hiểm chỉ mới được hình thành, quy mô còn tương đối nhỏ. Mặc dù các ngân hàng có vai trò thống lĩnh trên thị trường chính thức, nhưng tỷ lệ tiếp cận tín dụng ngân hàng trong dân ước tính chỉ khoảng 10% (Leung 2009, 47), và tín dụng phi chính quy vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.


  • Tiếp cận vốn trên thực tế vẫn còn hạn chế và có sự không công bằng trong tiếp cận tín dụng giữa các thành phần kinh tế; Các ngân hàng thương mại quốc doanh đóng vai trò chi phối trên thị trường

Khu vực tài chính của Việt Nam tăng trưởng nhanh nhưng chưa đem lại lợi ích công bằng cho tất cả các thành phần trong nền kinh tế. Chẳng hạn như các ngân hàng thương mại (NHTM) quốc doanh vẫn có xu hướng ưu tiên các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Tuy nhiên, hiện nay có xu hướng giảm cho vay đối với DNNN. Theo một vài ước tính, trong những năm gần đây, các DNNN chiếm dưới 30% tăng trưởng tín dụng. Một số quy định (được cho là có mục đích kiểm soát rủi ro thận trọng trong cho vay) có thể được sử dụng để các NHTM quốc doanh tiếp tục ưu tiên các DNNN và có những phân biệt đối xử trong cho vay đối với khu vực tư nhân. Chẳng hạn như yêu cầu về cho vay không thế chấp chỉ được áp dụng đối với doanh nghiệp tư nhân có ít nhất 2 năm liên tục có lãi; doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn trong tiếp cận đất đai và sử dụng đất để thế chấp (Leung 2009, 47). Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là khu vực tạo việc làm chủ yếu cho nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận tín dụng.


Mặc dù số lượng các NHTM ngoài quốc doanh tăng nhanh từ năm 2005 trở lại đây và hiện tại có 37 NHTM cổ phần, nhưng các NHTM quốc doanh vẫn chiếm vị thế chi phối trên thị trường tín dụng. Tính đến tháng 9/2009, chỉ riêng 4 NHTM quốc doanh (Agribank, BIDV, Vietcombank, Vietinbank) đã chiếm 51% tổng tài sản và 2/3 các khoản cho vay thuộc chương trình hỗ trợ lãi suất của hệ thống ngân hàng (Fitch Ratings 2009).


  • Tính lành mạnh và hiệu quả của các ngân hàng còn yếu; tín dụng cho đầu tư bất động sản và các lĩnh vực mang tính đầu cơ có xu hướng gia tăng

Trong 2 năm 2006 và 2007, tỷ suất sinh lợi trên tài sản trung bình của 3 trong số 4 NHTM quốc doanh lớn dưới mức trung bình của các ngân hàng ở châu Á, và tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng này mặc dù đáp ứng yêu cầu quốc tế là 8% nhưng vẫn dưới mức trung bình trong khu vực 13,1% ở châu Á và Thái Bình Dương, và 12,3% ở Đông Á (Leung 2009, 48).


Đối với các NHTM, theo quy định tại Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2006, tất cả NHTM phải đạt 3000 tỷ động vốn điều lệ. Tuy nhiên, trên thực tế, trong số 37 NHTM, chỉ có 7 ngân hàng có vốn điều lệ từ 5000 tỷ VND trở lên, 7 NHTM có vốn điều lệ từ 3000-4000 tỷ VND, trong khi 23 ngân hàng còn lại có vốn điều lệ thấp hơn 3000 tỷ VND. Như vậy, phần lớn NHTM của Việt Nam có vốn điều lệ thấp. Điều này hạn chế tính thanh khoản, nhất là trong hai năm 2008-2009 khi chính sách thắt chặt tiền tệ được áp dụng nhằm chống lạm phá và hạn chế khả năng cạnh tranh của các ngân hàng này. Để củng cố hệ thống ngân hàng và giảm rủi ro về thanh khoản, các ngân hàng sẽ phải tăng vốn điều lệ theo lộ trình và cần đạt 3000 tỷ VND trước ngày 31/12/2010. Những điều kiện thành lập mới cũng khắt khe hơn, phù hợp với cam kết WTO về mở cửa thị trường tài chính.
Một yếu điểm nữa của cả hệ thống ngân hàng là tỷ lệ nợ xấu vẫn còn cao và kéo dài dai dẳng, ước tính đạt 2,52% tổng dư nợ tín dụng vào thời điểm cuối tháng 6 năm 2009 (Báo Điện tử Tổ quốc 2009).Theo NHNN, đến ngày 27-9-2010, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng30 là 19,27% so với cùng kỳ năm trước (Sài Gòn Giải Phóng 2010). Bong bóng thị trường bất động sản trong năm 2008 có một phần là do xu hướng cho vay của ngân hàng, trong khi thiếu sự theo dõi, giám sát thị trường tín dụng. Điều đó cũng đồng nghĩa cơ hội tiếp cận tín dụng chính thức đối với các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trở nên khó khăn hơn. Bên cạnh đó, cơ cấu thời hạn sai lệch (the maturity mismatch), gây rủi ro cho ngân hàng và doanh nghiệp cũng ít thay đổi. Hệ quả là các doanh nghiệp phải vay vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn, không những phải trả chi phí vốn cao, mà còn làm tăng rủi ro cho hoạt động sản xuất kinh doanh.


  • Khung pháp lý trong quản lý các ngân hàng còn lỏng lẻo, năng lực quản lý và giám sát rủi ro yếu

Quy định còn khá lỏng đối với hoạt động ngân hàng làm tăng những rủi ro mang tính hệ thống của khu vực ngân hàng. Năm 2007, Ngân hàng Nhà nước cấp phép dễ dàng cho các tổ chức tín dụng nông thôn để nâng cấp lên thành các NHTM , do đó dẫn tới tín dụng mở rộng nhanh chóng và đẩy lạm phát tăng mạnh. Năm 2005, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân cung cấp đầy đủ hệ thống phân loại tín dụng trong vòng ba năm, nhưng cho đến cuối năm 2008, chỉ có 2 trong số hơn 80 NHTM hoàn thành thủ tục này (Leung 2009, 48).


Tương tự như vậy, các DNNN có xu hướng mở rộng đầu tư vào khu vực tài chính thông qua việc thành lập các ngân hàng cổ phần liên kết hoặc đầu tư vào các ngân hàng cổ phần hiện có. Cho đến nay, có 15 hồ sơ xin cấp phép hoạt động ngân hàng của các DNNN lớn và 3 trong số đó đã được cấp năm 2008. Điều này gây khó khăn hơn cho các nhà quản lý trong việc giám sát tín dụng luân chuyển giữa các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn và tăng rủi ro hệ thống.


  • Tính bất ổn cao của thị trường chứng khoán là dấu hiệu của một thị trường non trẻ, chưa trưởng thành

Thị trường chứng khoán tăng nhanh trong những năm gần đây, từ khoảng 5,5% năm 2009 lên đỉnh điểm 43% trong thời kỳ bong bóng năm 2007 trước khi giảm xuống 15% vào cuối năm 2008. Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động này đã được xây dựng, nhưng tính bền vững của thể chế thị trường và năng lực quản lý vẫn còn yếu.


Tính bất ổn và đầu cơ nhìn chung được xem là đặc trưng của thị trường chứng khoán Việt Nam. Năm 2007, chỉ số P/E của 20 doanh nghiệp đứng đầu thị trường chứng khoán là 73, trong khi đó tỷ lệ này ở các thị trường Đông Nam Á trong khoảng 10-20 (Leung 2009, 50). Tính minh bạch và công khai của các doanh nghiệp niêm yết rất thấp, vẫn phổ biến là thông tin giao dịch nội bộ. Các quy chuẩn về quản trị doanh nghiệp và các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư chưa được thực thi hiệu quả. Thị trường gần đây mất hơn 60% giá trị do tăng bong bóng trong năm 2007. Đầu cơ làm ngăn cản thị trường vốn hoạt động như một kênh tăng vốn hiệu quả cho nền kinh tế.
3.3.1.1.4 Hạ tầng nhân lực


- Các chỉ tiêu về giáo dục trung học tương đối tốt so với trình độ phát triển hiện nay
Việt Nam được xếp hạng tương đối cao so với các nước châu Á về các chỉ số giáo dục bậc trung học như nhập học bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông và truy cập Internet. Sinh viên Việt Nam cũng năng động trong việc nắm bắt cơ hội học tập ở nước ngoài. Ví dụ, Việt Nam là một trong 10 quốc gia có số lượng sinh viên lớn nhất đang học tập tại Mỹ.


  1. Một số chỉ tiêu về giáo dục: Việt Nam so với các nước châu Á khác




Chỉ tiêu

Việt Nam

Inđônêxia

Philippin

Malaixia

Thái Lan

Trung Quốc

Ấn Độ

Năm, nguồn

Nhập học bậc trung học (%)

76

63

85

76

71

74

56

2005, ADB

Nhập học bậc đại học (%)

16

17

28

32

43

20

11

2005, ADB

Truy cập Internet (trên 100 dân)

24

8

6

56

24

22

5

2008, WDI

Sinh viên học tập tại Mỹ (trên 100.000 dân)

15

3

<10

22

13

7

9

2008 a

Ghi chú: Số liệu từ Institute of International Education (IIE), xem tại www.opendoors.iienetwork.org.



  • Gần đây nhiều chương trình và các cơ sở giáo dục đào tạo mới được mở ra, nhưng chất lượng và tính phù hợp của giáo dục nói chung còn đáng quan ngại31

Tính đến tháng 9/2009, cả nước có 412 trường đại học (ĐH) và cao đẳng (CĐ), trong đó có 78 trường ngoài công lập. Tổng quy mô đào tạo ĐH, CĐ năm học 2008 - 2009 là 1.719.499 sinh viên (SV), tăng 13 lần so với năm 1987; tỷ lệ SV/số dân năm 1997 là 80 SV/1vạn dân thì đến năm 2009 là 195 SV/1 vạn dân, và năm 2010 có thể đạt 200 SV/1 vạn dân. Đặc biệt chỉ trong năm năm gần đây (2005-2009), đã có tới 195 trường ĐH, CĐ được thành lập và nâng cấp, trong đó có 139 trường công lập và 56 trường ngoài công lập. Trong số đó, chỉ có 4 trường ĐH, CĐ có vốn đầu tư nước ngoài được phép thành lập và mới có1 trường đã đi vào hoạt động. Trong khi việc thành lập các trường đại học nước ngoài còn hạn chế, thì việc cho phép thành lập mới các trường ĐH, CĐ trong nước cũng như nâng cấp các trường CĐ, dạy nghề lên thành đại học lại tỏ ra dễ dãi, các điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật và đội ngũ giáo viên không bảo đảm đã ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, nhất là ở các trường ngoài công lập và các trường địa phương.


Nhiều trường ngoài công lập được thành lập với quy mô nhỏ, hoàn toàn vì mục đích lợi nhuận, chạy theo việc mở rộng quy mô tuyển sinh trong khi năng lực đào tạo chưa đáp ứng được, dẫn tới chất lượng đào tạo không đảm bảo. Ví dụ, còn 15/78 trường ngoài công lập mới thành lập (khoảng 20%) chưa thực hiện xây dựng trường tại địa điểm đăng ký, còn phải thuê mướn cơ sở để tổ chức đào tạo và hầu hết là thiếu diện tích cho sinh viên vui chơi và hoạt động thể dục thể thao.
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD & ĐT), từ năm 1987 đến năm 2009, số SV cả nước tăng 13 lần, nhưng số giáo viên chỉ tăng 3 lần, do đó tỷ lệ sinh viên/giáo viên quá cao so với quy định (trong năm học 2008 - 2009 là 28 sinh viên/giáo viên). Nhiều giáo viên dạy tới 1000 tiết/năm trong khi quy định là 260 tiết/năm.
Nội dung, phương pháp đào tạo chưa được đầu tư và cập nhật đúng mức. Nội dung đào tạo của các trường đều phải tuân thủ chương trình khung của Bộ GD&ĐT đã được xây dựng và ban hành từ đầu những năm 2000, cho tới nay đã có nhiều chương trình trở nên thiếu tính cập nhật, không theo kịp yêu cầu của thực tiễn.
Chưa có một hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục ĐH bài bản, hoạt động kiểm định chất lượng mới chỉ mang tính chất thử nghiệm. Cho đến nay, chất lượng giáo dục ĐH mới chỉ được đánh giá thông qua điểm số của SV trong các kỳ thi. Từ năm 2006 đã khởi động công tác kiểm định chất lượng các trường ĐH, CĐ nhưng tính đến thời điểm này, mới có 169/412 trường (gồm 92 trường ĐH, 77 trường CĐ) gửi báo cáo tự đánh giá, và Hội đồng Quốc gia Kiểm định chất lượng GD mới tiến hành thẩm định được 20 trường đại học và kết quả này cho đến nay vẫn chưa được công bố.
Chính sách giáo dục của Chính phủ tập trung cao và định hướng kiểm soát chặt chẽ. Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định số lượng sinh viên nhập học và mức lượng trả cho giảng viên (đối với trường đại học công lập). Thậm chí các quyết định hành chính và hoạt động cũng do Bộ kiểm soát, ví dụ như mở rộng thêm các khoa đào tạo. Hệ thống này ngăn cản các trường đại học và các viện nghiên cứu có động lực cạnh tranh và đổi mới. Thù lao được tính dựa trên thâm niên và mức lương chính thức quá thấp, do đó giảng viên đại học phải làm thêm để tăng thu nhập. Các liên kết quốc tế còn thiếu, hệ thống giáo dục vẫn bó hẹp theo tiêu chuẩn trong nước, không tự đánh giá theo những chuẩn mực quốc tế (Thomas Vallely và Ben Wilkinson 2009, 3-4).


  • Cộng đồng kinh doanh ngày càng lo ngại về tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng

Giữa các cơ sở giáo dục đào tạo với các doanh nghiệp và các đơn vị sử dụng lao động nói chung chưa có sự gắn kết, do đó sinh viên tốt nghiệp thường không đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Theo kết quả khảo sát của Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam, khoảng 50% SV Việt Nam ra trường không tìm được việc làm trong lĩnh vực chuyên môn của mình, tỷ lệ SV phải đào tạo lại sau khi ra trường rất lớn. Trong báo cáo thảo luận của Amcham tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam tháng 6/2010, khoảng 65% LLLĐ Việt Nam không có kỹ năng và khoảng 78% dân số trong độ tuổi 20-24 không được đào tạo hoặc thiếu các kỹ năng cần thiết (Amcham 2010).


Kết quả từ các cuộc điều tra của JICA Nhật Bản về các doanh nghiệp chế tạo liên kết với Nhật cho thấy tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng ở Việt Nam nghiêm trọng hơn so với các nước ASEAN có cùng mức độ phát triển (Hình 3.17), và khó khăn này có xu hướng ngày càng tăng theo thời gian ở Việt Nam (Hình 3.18).


  1. Thiếu hụt lao động có kỹ năng – Việt Nam so với các nước ASEAN, 2007





  1. Khó khăn trong tuyển dụng lao động ở Việt Nam, 2003 - 2007


Những nỗ lực của Intel trong việc thuê kỹ sư làm việc cho nhà máy chế tạo của Intel ở thành phố Hồ Chí Minh là một minh chứng cho thực tế này. Khi công ty thực hiện kiểm tra đánh giá tiêu chuẩn đối với 2.000 sinh viên công nghệ thông tin Việt nam, chỉ có 90 ứng viên, tương đương 5%, vượt qua được kiểm tra, và trong nhóm này chỉ có 40 ứng viên đáp ứng đủ trình độ tiếng Anh. Các nhà đầu tư quốc tế và Việt Nam đều cho rằng tình trạng thiếu hụt lao động và quản lý có kỹ năng là một rào cản lớn đối với việc mở rộng đầu tư (Thomas Vallely và Ben Wilkinson 2009, 2).
Ngoài thực tế là giáo dục và đào tạo chính quy không đáp ứng được những yêu cầu thị trường, một nguyên nhân khác của tình trạng thiếu lao động có kỹ năng là do công tác đào tạo nghề chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Hệ thống quản lý đào tạo nghề manh mún và phân tán, dưới sự quản lý của nhiều cơ quan quản lý khác nhau (Bộ Lao động thương binh và xã hội, Bộ GD & ĐT, các cơ quan quản lý chuyên ngành). Trang thiết bị đào tạo nghề và cán bộ giảng dạy không nhận được thu nhập thích đáng; và tâm lý xã hội vẫn còn coi nhẹ đào tạo nghề và những người tốt nghiệp các trường nghề.


  • Sự cứng nhắc và không hiệu quả của thị trường lao động

Liên quan đến thị trường lao động, vấn đề chủ yếu vẫn là phát triển các giải pháp hiệu quả để nhanh chóng nâng cao kỹ năng cho LLLĐ. Hình 3.19 cho thấy một số cản trở về mặt pháp lý đối với thị trường lao động theo tiếp cận của Điều tra xếp hạng về môi trường kinh doanh của WB (“Tuyển dụng lao động”).




  1. Chỉ số “Tuyển dụng lao động” của Điều tra xếp hạng về môi trường kinh doanh của WB - Việt Nam và các nước so sánh (2009)



Về chỉ số này, điểm của Việt Nam cao hơn so với Trung Quốc, Hàn Quốc và Inđônexia, nhưng đứng sau Malaixia và Thái Lan. Việc xây dựng chỉ số “Tuyển dụng lao động” phụ thuộc nhiều vào chi phí sa thải lao động (“chi phí cho lao động dôi dư”) và các hạn chế về thuê và xử phạt lao động thể hiện trong chỉ số về “tính cứng nhắc của việc làm”: điểm số cao hơn có nghĩa là hiệu quả kém hơn.
Có thể nêu ra những nguyên nhân chính của tình trạng kém linh hoạt trong tuyển dụng lao động ở Việt Nam. Một là, mất cân đối cung cầu trên thị trường lao động vẫn dai dẳng và ngày càng nặng nề hơn. Trên thực tế, thất nghiệp ở khu vực thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn có thể cao hơn so với số liệu thống kê do khu vực phi chính quy của Việt Nam còn rộng lớn và do tính chất thời vụ của việc làm cũng như hành vi của doanh nghiệp nhằm giảm chi phí liên quan đến lao động như đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Hai là, cung lao động có kỹ năng thấp, trong khi nhu cầu loại này tăng liên tục theo thời gian, ở hầu hết doanh nghiệp, tất cả các ngành, vùng kinh tế và ở cả thành thị lẫn nông thôn. Tức là, phạm vi và qui mô của thiếu lao động có trình độ trở nên toàn diện hơn và với mức độ cao hơn. Điều này có thể dẫn đến tình trạng cạnh tranh lao động có trình độ và đẩy chi phí lao động lên cao, xét ở góc độ NLCT là bất lợi. Ba là, bản thân giá cả của sức lao động có xu hướng tăng cũng gây khó khăn cho cung cầu gặp nhau. Báo cáo khảo sát lương năm 2008 của Navigos Vietnam thực hiện trên 64.905 nhân viên của 206 công ty cho thấy mức lương chung tăng 19,5% và là mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Nhìn chung, tiền lương và thu nhập của người lao động có xu hướng tăng cũng là một tín hiệu cho biết khả năng cạnh tranh của các ngành sử dụng nhiều lao động sẽ giảm dần trong tương lai gần nếu như những ngành đó không có thay đổi về chất để tăng NSLĐ.
3.3.1.1.5. Hạ tầng hành chính


- Chất lượng tổng thể của môi trường hành chính được đánh giá chưa cao
Xếp hạng Môi trường kinh doanh của WB xét tới hiệu quả về hạ tầng hành chính của quốc gia. Trong 10 chỉ số được sử dụng, có 6 chỉ số thể hiện hiệu quả hành chính, bao gồm cả thực thi hợp đồng. Hình 3.20 so sánh hiệu quả hành chính của Việt Nam với 3 nước khác. Nhìn chung, Trung Quốc có xếp hạng thấp nhất, đặc biệt trong cấp phép xây dựng, Việt Nam đứng sau Malaixia và đặc biệt là còn khoảng cách khá xa với Thái Lan.


  1. Các chỉ số về hiệu quả hạ tầng hành chính theo Điều tra xếp hạng về môi trường kinh doanh, 2009





  • Thủ tục hành chính rườm rà đang gây ra những gánh nặng chi phí đối với doanh nghiệp và người dân

Trung bình, một doanh nghiệp ở Việt Nam phải dành 1.050 giờ một năm để giải quyết các thủ tục hành chính liên quan tới nộp thuế, trong khi con số này ở Xingapo chỉ là 84 giờ. Thời gian làm thủ tục đóng cửa doanh nghiệp ở Việt Nam cần đến 5 năm, trong khi Hồng Kông chỉ cần 1 năm (Theo Điều tra xếp hạng về môi trường kinh doanh của WB). Chính phủ ước tính nếu giảm được 30% chi phí hành chính (như cam kết của Đề án 30) thì có thể tiết kiệm được 6.000 tỷ đồng (tương đương 300 triệu USD) cho xã hội.
Số lượng các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh ở Việt Nam tăng nhanh chóng từ năm 2005. Trong vòng 4 năm (2005-2008), Việt Nam ban hành 17.164 VBQPPL về doanh nghiệp, nhiều hơn số lượng văn bản của 18 năm trước (1987-2004). Ngoài ra, trong giai đoạn 2005 – 2008, số lượng công văn tăng gấp 3 lần so với 18 năm trước. (xem Hình 3.21) (Quang Phan Vinh và Bentley 2009).


  1. Số lượng văn bản pháp luật32 do các cơ quan trung ương ban hành



Một số lượng lớn các quy định chưa được rà soát hiện cũng là một vấn đề đáng lo ngại. Sự không chắc chắn của các quy định pháp lý (tính thống nhất, khả năng áp dụng hoặc sự cần thiết) có thể gây ra những chi phí không cần thiết cho người dân và doanh nghiệp khi họ phải cố gắng tìm kiếm đúng các quy định để tuân thủ cũng như tạo cho các quan chức cơ hội tham nhũng. Một môi trường không chắc chắn như vậy không tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân.


  • Một số nỗ lực cải cách thể chế và hành chính đang được thực hiện:




  1. Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước – Đề án 30

Việc rà soát được thực hiện toàn diện với mục tiêu đơn giản hoá ít nhất 30% thủ tục hành chính vào năm 2010. Hơn 5.700 thủ tục hành chính ở bốn cấp chính quyền của tất cả 63 tỉnh thành phố đã được tổng hợp vào cơ sở dữ liệu điện tử, sẽ được rà soát và sau đó hoặc bãi bỏ, đơn giản hoá hoặc giữ nguyên. Quá trình rà soát áp dụng nguyên tắc phân tích tác động để đánh giá tính hợp pháp, sự cần thiết và tính hợp lý của các thủ tục hành chính. Đề án 30 do Tổ công tác đặc biệt của Văn phòng Chính phủ thực hiện trên cơ sở phối hợp với các tổ chức quốc tế (chủ yếu là USAID) và khu vực tư nhân thông qua Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính. Cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính trực thuộc Văn phòng chính phủ đã được thành lập để tiếp tục thực hiện Đề án 30 và cũng để quản lý các thủ tục hành chính mới ban hành.




  1. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008

Quy trình soạn thảo VBQPPL mới được cải tiến với yêu cầu trong quá trình soạn thảo cần lấy ý kiến góp ý của công chúng và phân tích tác động của văn bản. Những yêu cầu này làm tăng tính minh bạch và các quyết định được đưa ra gắn với thực tế hơn. Tuy nhiên, những yêu cầu này được quy định rõ ràng đối với việc ban hành Luật, Pháp lệnh và Nghị định, nhưng đối với các văn bản cấp thấp hơn và các quy định hành chính thì không nhất thiết phải tuân thủ33.


Thành công của các chương trình như Đề án 30 rất quan trọng đối với Việt Nam trong việc cải thiện môi trường pháp lý và hành chính nhằm tăng NLCT.
3.3.1.1.6. Hạ tầng đổi mới, sáng tạo


- Nhìn chung, năng lực công nghệ và sáng tạo còn yếu:
Có nhiều chỉ số đo lường năng lực đổi mới sáng tạo của các nước, dưới đây là một vài chỉ số:

World Economic Forum— Chỉ số năng lực sáng tạo quốc gia: được xây dựng dựa trên đánh giá môi trường chính sách và thể chế về sáng tạo. Năm 2009, Việt Nam xếp thứ 73, sau nhiều nước cùng mức độ phát triển trong khu vực – Trung Quốc (42), Thái Lan (49), Malaixia (29) và Ấn Độ (33);


World Bank— Chỉ số kinh tế tri thức: đây là chỉ số có tính linh hoạt cao, dựa trên một số yếu tố (Việt Nam xếp thứ 100 trong 146 nước được xếp hạng);

INSEAD – Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu: chỉ số này đánh giá các khía cạnh của môi trường cần thiết để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong một quốc gia và các kết quả của đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế. Theo chỉ số năm 2009-2010, Việt Nam xếp thứ 71 trong 132 nước.


Một trong những điểm đáng quan ngại nhất đối với Việt Nam là mặc dù mức độ mở cửa của nền kinh tế rất cao, nhưng tác dụng lan toả từ khu vực FDI đối với nền kinh tế nội địa lại hạn chế. Nghiên cứu gần đây của TS. Tuệ Anh 2009 cho rằng tác động tràn về tri thức kỳ vọng từ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ ở mức độ khiêm tốn, và cần có một chính sách tích cực hơn nhằm thúc đẩy những tác động tràn đó trong bối cảnh một hệ thống quốc gia về nghiên cứu công nghệ.
Việt Nam còn thiếu một cơ chế rõ ràng để khuyến khích đổi mới và nghiên cứu công nghệ. Một trong những cơ quan đang tham gia quá trình này là Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia (NISTPASS) trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ. NISTPASS tuy có chức năng phù hợp, nhưng chưa rõ ràng về việc Viện có thực sự đủ nguồn lực và tầm ảnh hưởng để đi đầu trong quá trình chuyển từ giai đoạn “tiếp thu FDI một cách thụ động” sang một giai đoạn cao hơn, và cuối cùng là một hệ thống đổi mới tự thân hay không?
Cơ sở hạ tầng cho sự đổi mới và sáng tạo không có những bước phát triển đáng kể trong những năm trở lại đây. Đầu năm 2007, Việt Nam có 1200 tổ chức khoa học và công nghệ (viện, trung tâm nghiên cứu và các trường đại học), cao gấp 2,5 so với năm 1995 (www.most.gov.vn); trong đó 60% thuộc sở hữu Nhà nước. Mặc dù số lượng các tổ chức khoa học công nghệ tăng lên đáng kể, nhưng chất lượng hoạt động và năng lực sáng tạo công nghệ của các tổ chức này còn thấp và số tổ chức KHCN trong các trường đại học và khu vực ngoài nhà nước còn rất thấp. Đầu tư hàng năm cho hoạt động khoa học và công nghệ chỉ chiếm 2% tổng chi ngân sách nhà nước, nhưng kết quả nghiên cứu khoa học được ứng dụng vào thực tiễn chỉ rất ít do lỗi thời hoặc không còn phù hợp.
Số lượng lao động tham gia các hoạt động chuyên môn, khoa học, công nghệ, chỉ chiếm 1,3% tổng số lao động trong các tổ chức kinh tế, hành chính sự nghiệp, và theo số liệu năm 2007, chỉ có 65,5% tổng số lao động sử dụng máy tính. Trong tổng số các tổ chức khoa học công nghệ và nghề nghiệp, chỉ có 28,5% kết nối và sử dụng internet; và chỉ 0,2% sử dụng các giao dịch thương mại điện tử. Việc thiếu các tổ chức đào tạo trong nước, các hoạt động nghiên cứu trong các cơ sở đào tạo, trong khi các mối liên kết giữa trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp lại kém và đang hạn chế nhiều đến cải thiện năng lực sáng tạo của Việt Nam, nhất là khả năng ứng vào sản xuất, và ảnh hưởng đến NLCT của đất nước.
- Hệ thống luật pháp bảo hộ sở hữu trí tuệ yếu, làm mất động lực cho sáng tạo
Động lực tìm kiếm tri thức của các doanh nghiệp Việt Nam thường bị thui chột. Họ thường chấp nhận những công nghệ đã có thuộc dạng “ở trong giới hạn sáng tạo” vốn đang sẵn có, và trong bối cảnh thiếu thể chế pháp lý bảo vệ sở hữu trí tuệ. Do đó, một doanh nghiệp đi tiên phong thường dễ bị các doanh nghiệp khác bắt chước và sao chép những sáng kiến của mình, làm nhụt ý chí sáng tạo.
Thực tế cho thấy có rất nhiều vi phạm liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ nhưng chế tài xử lý quá nhẹ hoặc không kiểm soát được đã và đang hạn chế doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Theo Cục Sở hữu trí tuệ quốc gia, năm 2008, chỉ có 2,766 trường hợp vi phạm sở hữu trí tuệ bị phát hiện, tăng 300 trường hợp so với 2007. Tuy nhiên, con số này chỉ là phần nổi của tảng băng vì rất nhiều sáng kiến không được đăng ký. Trong Báo cáo thực thi Quyền sở hữu trí tuệ của Ủy ban Châu Âu năm 2009, Việt Nam được xếp là một trong các nước hàng đầu đáng lo ngại về thực trạng thực thi và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Báo cáo chỉ ra một số lý do của những vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nghiêm trọng ở Việt Nam, trong đó có sự yếu kém trong thực thi luật sở hữu trí tuệ, thiếu các quan chức sở hữu trí tuệ được đào tạo, và các thủ tục đăng ký, tố tụng dân sự và hình sự phiền hà phức tạp, các quy định và biện pháp chế tài, đặc biệt là thủ tục hải quan, không đầy đủ hoặc thiếu hiệu lực thi hành.


  • Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển rất hạn chế.

Số liệu tính toán từ điều tra doanh nghiệp năm 2008 của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong tổng số 205.529 doanh nghiệp được điều tra thì có 1340 DN hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ (chiếm khoảng 0,65%), trong số này khu vực nhà nước chiếm 26,3%, khu vực tư nhân là 63,3%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 10,4%. Ở các doanh nghiệp này, chi cho đầu tư, nghiên cứu và phát triển KHCN năm 2008 ước bằng 1,15% lợi nhuận trước thuế, trong đó chi cho hoạt động R&D là 0,4% và chi cho đổi mới công nghệ chiếm 0,69%. Nếu tính cho cả khu vực doanh nghiệp thì chi phí đầu tư, nghiên cứu và phát triển KHCN còn thấp nữa, chỉ bằng 0,27% so với lợi nhuận trước thuế, trong đó chi cho hoạt động R&D là 0,1% và cho đổi mới công nghệ là 0,16%.


1   2   3   4   5   6   7   8   9


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương