CHÍnh phủ Số: 482



tải về 90.28 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu30.08.2016
Kích90.28 Kb.


CHÍNH PHỦ

______
Số: 482/BC-CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________________________________

Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2013

BÁO CÁO

Về việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn

và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3, thứ 4 và thứ 5

(do Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày

tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII)

______
Thưa các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa đồng chí, đồng bào,

Tại các kỳ họp thứ 3, thứ 4 và thứ 5, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 30/2012/QH13, Nghị quyết số 40/2012/QH13 và Nghị quyết số 52/2013/QH13 về chất vấn và trả lời chất vấn.

Nghiêm túc chấp hành các Nghị quyết của Quốc hội, ngay sau mỗi kỳ họp, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ đã khẩn trương cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện đồng bộ với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Trước và trong các kỳ họp thứ 4, thứ 5 và thứ 6, từng bộ ngành liên quan đã gửi đến Quốc hội các báo cáo việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn1 với các nội dung theo yêu cầu thuộc các lĩnh vực kế hoạch và đầu tư, tín dụng, ngân hàng, công thương, xây dựng, tài nguyên và môi trường, y tế, nông nghiệp và phát triển nông thôn, văn hóa thể thao và du lịch, lao động thương binh và xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, phòng chống tội phạm. Các thành viên Chính phủ đã trả lời bằng văn bản, trực tiếp báo cáo giải trình, trả lời chất vấn và phát biểu làm rõ những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm, thảo luận, chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội và các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đồng thời, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ ngành nghiêm túc tiếp thu, xem xét xử lý các ý kiến của cử tri cả nước trong quá trình chỉ đạo điều hành.

Tại phiên khai mạc của mỗi kỳ họp, Chính phủ đã báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, trong đó đề cập đến kết quả tổng hợp việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội. Tại kỳ họp thứ 4 và thứ 5, hai Phó Thủ tướng thay mặt Chính phủ đã trình bày trước Quốc hội báo cáo về việc thực hiện Nghị quyết số 30/2012/QH13 và Nghị quyết số 40/2012/QH13 về chất vấn và trả lời chất vấn.

Tại kỳ họp này, theo yêu cầu của Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ ngành cập nhật tình hình thực hiện các Nghị quyết nêu trên, thể hiện trong 11 báo cáo2 đã gửi tới các vị đại biểu Quốc hội về thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế; việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; kiểm điểm và xử lý trách nhiệm đối với các sai phạm trong quản lý, sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ; nợ đọng xây dựng cơ bản; kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; rà soát quy hoạch tổng thể về thủy điện; công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm; phòng, chống tham nhũng; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông… Đến nay, các nội dung trong Nghị quyết số 30/2012/QH13 và Nghị quyết số 40/2012/QH13 đã cơ bản được thực hiện nghiêm túc, từng bước đạt được những kết quả quan trọng, góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ mà Quốc hội đề ra.

Tuy nhiên, có nhiều nội dung đòi hỏi việc triển khai phải có thời gian, nguồn lực và phải tiếp tục thực hiện quyết liệt, kiên trì như: quản lý và sử dụng đất đai, ô nhiễm môi trường; thực hiện lộ trình giá thị trường đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu; xử lý nợ xấu, tái cơ cấu các tổ chức tín dụng; quản lý thủy điện; chống buôn lậu và gian lận thương mại; thu hút đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, tiêu thụ nông sản; nhà ở xã hội, tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản; quá tải bệnh viện, y đức, an toàn vệ sinh thực phẩm; phòng chống tham nhũng, xử lý khiếu kiện đông người, trật tự an toàn giao thông...

Được sự phân công của đồng chí Thủ tướng, thay mặt Chính phủ, tôi xin tập trung báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội tại kỳ họp thứ 5 về chất vấn và trả lời chất vấn (Nghị quyết số 52/2013/QH13) gồm các lĩnh vực sau:



1. Lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn

Về công tác quy hoạch và tái cơ cấu ngành, sản phẩm:

Thực hiện quy hoạch tổng thể sản xuất nông nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 124/2012/QĐ-TTg ngày 02 tháng 02 năm 2012), ngành nông nghiệp và các địa phương đã tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản phù hợp với thị trường và phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng địa phương gắn với bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm; bảo đảm công khai minh bạch, liên kết với quy hoạch vùng, ngành, lĩnh vực và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch.

Đã phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững (Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2013). Đề ra các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu tái cơ cấu toàn diện về trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, sản xuất muối, công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới. Hoàn thiện thể chế cho phát triển nông nghiệp theo hướng thị trường; đổi mới và phát triển hệ thống quản lý và hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, hỗ trợ tiêu thụ nông sản. Tăng cường hợp tác liên kết, bảo đảm hài hòa lợi ích, nhất là lợi ích của người sản xuất. Xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh quy mô lớn, khu nông nghiệp công nghệ cao, đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, gắn kết giữa sản xuất, công nghiệp chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm với chuỗi giá trị toàn cầu. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều quyết định về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch (Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg, Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg và Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14 tháng 11 năm 2013).

Để tháo gỡ khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, thủy sản, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần làm việc với các tỉnh, nhất là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ động phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương hướng dẫn, tổ chức sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, thủy sản. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc mua tạm trữ lúa gạo. Tổ chức tổng kết đánh giá các mô hình, hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích phát triển liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ nông sản.

Phong trào xây dựng cánh đồng mẫu lớn đến nay đã nhận được sự hưởng ứng tích cực của nhiều địa phương, doanh nghiệp và nông dân, bước đầu đã mang lại kết quả thiết thực. Thu nhập của nông dân được nâng lên, chất lượng sản phẩm khá đồng đều, tạo nguồn cung ổn định hơn cho chế biến và xuất khẩu. Việc cung ứng các yếu tố đầu vào như phân bón, giống đã dần đi vào ổn định. Mô hình cánh đồng mẫu lớn được nhân rộng ở hầu hết các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long và đang được triển khai ở một số tỉnh miền Trung và miền Bắc. Mô hình này không chỉ đối với cây lúa mà còn đang được nghiên cứu áp dụng đối với một số cây trồng chủ lực khác.

Ngày 25 tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg để khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn.

Đã chỉ đạo Bộ Công Thương phê duyệt và triển khai Quy hoạch thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo theo hướng ưu tiên cho doanh nghiệp có vùng nguyên liệu hoặc hợp tác, đặt hàng, liên kết với người sản xuất lúa gạo. Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo trước mắt là các Tổng công ty Lương thực Nhà nước có lộ trình cụ thể để triển khai hiệu quả chủ trương này. Xây dựng Đề án phát triển sản xuất chế biến lúa gạo như một sản phẩm chủ lực của quốc gia, tập trung nguồn lực nghiên cứu chọn tạo các giống có giá trị thương phẩm, tính ổn định cao, áp dụng quy trình canh tác tiên tiến...

Về quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm:

Đã chỉ đạo tập trung hoàn thiện và triển khai các cơ chế chính sách, pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp và an toàn vệ sinh thực phẩm. Chính phủ đã trình Quốc hội dự án Luật bảo vệ và Kiểm dịch thực vật; đang khẩn trương hoàn thiện để trình dự án Luật thú y; ban hành các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y, bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản; rà soát, tăng cường các biện pháp quản lý giá vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp.

Đã chỉ đạo hoàn thiện Đề án "Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn trên phạm vi toàn quốc", Đề án “Bảo đảm an toàn thực phẩm trong giết mổ, vận chuyển gia súc, gia cầm”, Đề án “Phát triển sản xuất, tiêu thụ rau an toàn”. Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ áp dụng thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) trong chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản. Hỗ trợ một số tỉnh trọng điểm xây dựng mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn. Đến nay đã hoàn thành việc khảo sát lựa chọn, thiết kế mô hình và tổ chức tập huấn cho các địa phương.

Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản từ trung ương đến địa phương tiếp tục được củng cố và kiện toàn. Hiện nay, ngoài Chi cục an toàn thực phẩm thuộc ngành y tế và các Chi cục thú y, bảo vệ thực vật, thủy sản, đã có 61/63 tỉnh, thành phố thành lập Chi cục quản lý chất lượng nông lâm thủy sản để cùng tham gia quản lý vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm.

Đã tổ chức thanh tra vi phạm về vật tư nông nghiệp diện rộng tại 29 tỉnh, thành phố, xử phạt số tiền 1,4 tỷ đồng. Tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra về an toàn vệ sinh thực phẩm, trong 10 tháng năm 2013, ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể giảm 8,7% số vụ, giảm 4,5% số người bị ngộ độc, giảm 4% số người phải đi bệnh viện.

Công tác thống kê, dự báo, thông tin về sản xuất và thị trường đã có chuyển biến. Tiếp tục rà soát, đánh giá việc xây dựng và phát triển thương hiệu cho các nông sản chủ lực để có nhiều sản phẩm chất lượng cao, thương hiệu mạnh nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững trong xuất khẩu, trước mắt là đối với mặt hàng gạo, thủy sản.

Đã tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28 của Bộ Chính trị về sắp xếp đổi mới nông lâm trường quốc doanh. Tổ chức nhiều đoàn kiểm tra, kịp thời chỉ đạo và tháo gỡ khó khăn để làm tốt hơn công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng. Hoàn thành công tác rà soát các dự án chuyển đổi rừng trên địa bàn một số tỉnh Đông Nam bộ và các tỉnh Tây Nguyên. Tổ chức kiểm tra việc thực hiện trồng rừng thay thế khi chuyển đổi đất lâm nghiệp sang mục đích khác tại các tỉnh miền núi phía Bắc, duyên hải Trung bộ và Tây Nguyên. Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng tiếp tục có nhiều tiến bộ so với cùng kỳ năm 2012. Trong 9 tháng, cả nước đã trồng 152 nghìn ha rừng tập trung, tăng 25%; diện tích rừng bị thiệt hại do cháy là 885 ha, giảm 411 ha; do phá rừng là 667 ha, giảm 273 ha.

Về xây dựng nông thôn mới:

Chương trình xây dựng nông thôn mới được tích cực triển khai trên phạm vi cả nước. Cơ chế chính sách tiếp tục được hoàn thiện. Đã sửa đổi bổ sung và hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Chuẩn bị để ban hành quy định công nhận xã, huyện, tỉnh đạt tiêu chí nông thôn mới. Sửa đổi cơ chế quản lý đầu tư, xây dựng công trình. Triển khai sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình để rút kinh nghiệm cho giai đoạn tới.

Phong trào xây dựng nông thôn mới đã được nhân dân đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia. Trong 3 năm 2011 - 2013, đã huy động 105 nghìn tỷ đồng từ các nguồn lực xã hội, trong đó ngân sách trung ương hỗ trợ khoảng 5 nghìn tỷ đồng; các địa phương đã lồng ghép và bố trí khoảng 31 nghìn tỷ đồng. Đến nay, đã có 93,1% số xã trong cả nước hoàn thành quy hoạch, 79,2% số xã hoàn thành việc xây dựng đề án nông thôn mới. Hạ tầng nông thôn nhiều nơi được cải thiện rõ rệt, nhất là về giao thông (trong 03 năm đã làm mới được 38.000 km đường).

Tuy nhiên, lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn những khó khăn, hạn chế, yếu kém. Công tác quy hoạch, kế hoạch, dự báo thị trường, quản lý chất lượng và giá cả vật tư đầu vào còn chưa tốt. Năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều nông sản còn thấp; tổn thất sau thu hoạch còn lớn, an toàn vệ sinh thực phẩm còn nhiều bất cập. Việc tiêu thụ nông sản còn khó khăn, chưa hài hòa được lợi ích của người sản xuất. Chưa có nhiều nông sản thương hiệu mạnh. Việc huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới còn khó khăn, chưa tạo được chuyển biến rõ nét trong việc tăng năng lực, hiệu quả sản xuất để nâng cao thu nhập và đời sống nông dân. Công tác bảo vệ môi trường ở nông thôn còn hạn chế. Việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp, nông lâm trường quốc doanh còn chậm. Đời sống nông dân tuy có cải thiện nhưng nhìn chung còn nhiều khó khăn. An toàn thực phẩm tuy đã có những giải pháp nhưng còn nhiều bất cập, trách nhiệm của từng bộ ngành chưa cụ thể, vẫn còn nhiều trường hợp bị ngộ độc thực phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo các ngành, các cấp tập trung khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên.



2. Lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch

Về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc:

Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên cả ba phương diện hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa. Đã tổng kết Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nhiều cuộc vận động, phong trào văn hóa được tích cực triển khai thực hiện như “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Gia đình văn hóa, làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa”, “Người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến”. Quan tâm phát triển, có cơ chế đặc thù để phát huy đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, người hoạt động văn hóa tài năng. Đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa.

Tổ chức tốt hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn. Công tác quản lý, tổ chức và thực hiện nếp sống văn minh trong các lễ hội có chuyển biến tích cực. Các hoạt động Năm Gia đình Việt Nam 2013, kỷ niệm Ngày Gia đình Việt Nam 28/6 được các tổ chức đoàn thể và nhân dân hưởng ứng và tham gia. Tăng cường lưu diễn phục vụ nhân dân trước, trong và sau Tết, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng kháng chiến cũ, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.

Công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm được tăng cường, nhất là đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, hoạt động biểu diễn nghệ thuật.

Về nâng cao chất lượng, đa dạng hóa các loại hình sản phẩm du lịch:

Chính phủ đã phê duyệt và triển khai Chiến lược, Quy hoạch và Chương trình hành động quốc gia về du lịch đến năm 2020. Tăng cường công tác quản lý, cải thiện môi trường du lịch. Giới thiệu hình ảnh Việt Nam với bạn bè quốc tế. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ du khách.

Đã chỉ đạo đẩy mạnh phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử văn hóa. Cùng với những công trình đã được trùng tu nâng cấp, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị di tích Thành Nhà Hồ; ban hành cơ chế, chính sách đặc thù cho các dự án đầu tư tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng v.v.

Tuy có nhiều khó khăn nhưng lĩnh vực du lịch vẫn duy trì đà tăng trưởng. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam 10 tháng đầu năm 2013 đạt khoảng 6,1 triệu lượt, tăng 10,4%, ước cả năm 7,5 triệu, tăng 9,5%; khách nội địa đạt 32,5 triệu lượt, tăng 10%; ước cả năm 35 triệu, tăng 7,7%.

Đã kiện toàn Ban chỉ đạo Nhà nước và Ban chỉ đạo phát triển du lịch tại các tỉnh, thành phố; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2013 nhằm nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền, tăng cường công tác quản lý môi trường du lịch, bảo đảm an ninh, an toàn, ngăn chặn hành vi chèn ép, lừa đảo khách du lịch. Tăng cường công tác truyền thông, nâng cao nhận thức xã hội về xây dựng môi trường du lịch.

Về phát triển thể dục, thể thao:

Tiếp tục thực hiện Chiến lược và Chương trình hành động về phát triển thể dục, thể thao. Đã phê duyệt Quy hoạch hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục, thể thao quốc gia. Thể thao quần chúng được quan tâm phát triển với nhiều nội dung hoạt động sôi nổi, thiết thực. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Tổ chức tốt Đại hội thể thao học sinh Đông Nam Á lần thứ 5 năm 2013 và Đại hội Thể dục thể thao các cấp, tiến tới tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc lần thứ 7, năm 2014.

Từng bước hoàn thiện hệ thống đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao. Hầu hết các địa phương và nhiều ngành có cơ sở đào tạo vận động viên. Đang hoàn thiện Đề án đào tạo vận động viên chuẩn bị cho Asiad 18 được tổ chức tại Việt Nam năm 2019. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo rà soát để sử dụng hiệu quả các công trình thể thao hiện có và xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực trong thể thao.

Tuy nhiên, tổ chức lễ hội vẫn còn lãng phí, công tác quản lý văn hóa, thể thao và du lịch vẫn còn hạn chế. Chính phủ sẽ tiếp tục tăng cường chỉ đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong lĩnh vực này.



3. Lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội

Về đào tạo nghề:

Chính phủ đã tổ chức sơ kết 3 năm thực hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Chỉ đạo sắp xếp, sáp nhập trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp cấp huyện thành một trung tâm. Phân định rõ Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý nhà nước về lĩnh vực đào tạo, hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý nhà nước về lĩnh vực dạy nghề và giới thiệu việc làm.

Tích cực thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia, các bộ ngành, địa phương, trong đó xác định rõ nhu cầu nhân lực ở các trình độ đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Triển khai Đề án “Chuyển giao các bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề; đào tạo thí điểm các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN, quốc tế” để tiến tới công nhận kỹ năng nghề giữa các nước ASEAN vào năm 2015.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2012/NĐ-CP về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục, trong đó có các quy định khuyến khích các tổ chức, cá nhân có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác, đầu tư vào lĩnh vực đào tạo nghề. Triển khai các thỏa thuận về hợp tác đào tạo nhân lực tại Việt Nam với Hiệp hội doanh nghiệp của Đức, Nhật Bản và Hàn Quốc. Đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực đào tạo nghề, khoảng 40% nguồn lực cho đào tạo nghề là từ ngoài ngân sách nhà nước3. Bước đầu đã gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo nghề thông qua hợp đồng.

Ưu tiên đào tạo nghề, hỗ trợ giải quyết việc làm đối với người bị thu hồi đất nông nghiệp, hỗ trợ đào tạo để chuyển đổi nghề đối với đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo ở các vùng đặc biệt khó khăn. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành và chỉ đạo thực hiện chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. Tập trung hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ tạo việc làm trong nước, trong đó có hỗ trợ về học phí, tín dụng, tư vấn việc làm, đất đai, thuế... Có nhiều chính sách hỗ trợ cho người đi xuất khẩu lao động. Thực hiện hỗ trợ đào tạo để chuyển đổi nghề cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn đặc biệt khó khăn trong thực hiện tổng thể chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất. Phát triển giáo dục, đào tạo, dạy nghề tại các tỉnh vùng trung du, miền núi phía Bắc và các huyện phía Tây Thanh Hóa và Nghệ An.

Về công tác quản lý hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của các doanh nghiệp đưa người đi làm việc ở nước ngoài. Đã xử lý vi phạm đối với 08 doanh nghiệp. Đã phối hợp với Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam và Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức thông tin, tuyên truyền về xuất khẩu lao động đến tận cơ sở. Tại thị trường Hàn Quốc, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các cơ quan chức năng của Bạn tổ chức nhiều hoạt động phổ biến thông tin trực tiếp đến hàng nghìn lao động.

Chính phủ đã chỉ đạo tăng cường đào tạo, giáo dục nâng cao tay nghề, ngoại ngữ, kiến thức pháp luật và văn hóa của nước sở tại, ý thức kỷ luật cho người lao động...

Chú trọng công tác mở rộng thị trường lao động ngoài nước, vận động các nước ký kết các thỏa thuận và tiếp nhận lao động Việt Nam. Đã mở thêm các hình thức hợp tác lao động mới như chương trình thí điểm đưa điều dưỡng viên đi làm việc tại Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, lao động kỳ nghỉ với Niu Di-lân, Úc. Tiếp tục thực hiện Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động theo Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.



Về triển khai thực hiện chính sách, pháp luật đối với người có công:

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, Nghị định số 101/2013/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng, theo đó mức chuẩn được điều chỉnh tăng từ 1.110.000 đồng lên 1.220.000 đồng và thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.

Để đẩy nhanh tiến độ xét duyệt hồ sơ còn tồn đọng, hướng dẫn lập hồ sơ đối với các trường hợp mất hồ sơ gốc, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2013 về tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trong 2 năm 2014 - 2015; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT hướng dẫn xác nhận liệt sỹ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh trong chiến tranh, không còn giấy tờ. Chỉ đạo các Bộ Y tế, Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành trong tháng 11 năm 2013 Thông tư liên tịch hướng dẫn khám, giám định đối với người hoạt động kháng chiến có liên quan đến phơi nhiễm chất độc hóa học/dioxin.

Công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm chính sách người có công được tăng cường. Từ năm 2008 đến năm 2013, đã phát hiện, đình chỉ trợ cấp 7.085 trường hợp4, thu hồi nộp ngân sách nhà nước trên 75,5 tỷ đồng. Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự 1.762 người.



Về thực hiện chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo, góp phần rút ngắn khoảng cách giàu nghèo:

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động với 18 nhiệm vụ trọng tâm và thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương do một Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng Ban. Qua một năm triển khai thực hiện đã đạt được một số kết quả tích cực. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm còn 7,8%.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số hạn chế, yếu kém trong thực hiện chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo. Chính sách còn dàn trải, chồng chéo, hiệu quả chưa cao. Hiện nay, có khoảng trên 70 chính sách hỗ trợ đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, người nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, việc hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung chính sách còn chưa kịp thời đã gây khó khăn trong tổ chức thực hiện.

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng các chương trình, đề án, chính sách trợ giúp cụ thể như xem xét điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp xã hội, thủ tục xét hưởng trợ cấp cho các đối tượng; phát huy vai trò và chăm sóc người cao tuổi; trợ cấp một lần cho phụ nữ nghèo sinh con đúng chính sách dân số; đổi mới công tác trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất; cơ chế chi trả trực tiếp cho học sinh, sinh viên; quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội...

Về chính sách giảm nghèo, tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi cơ chế, chính sách theo hướng giảm dần các chính sách hỗ trợ trực tiếp "cho không" đối với một số nhóm cụ thể đồng thời tăng dần các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, học nghề, tạo việc làm khuyến khích người nghèo chủ động vươn lên thoát nghèo. Mở rộng chính sách hỗ trợ đối với hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo. Chính sách hỗ trợ giảm nghèo phải gắn với hỗ trợ sản xuất, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới nhằm giảm nghèo bền vững.

Nghiên cứu, bổ sung chính sách trợ giúp trực tiếp cho hộ nghèo giáp biên giới; người nghèo thuộc đối tượng bảo trợ xã hội không có khả năng tạo sinh kế thoát nghèo; chính sách hỗ trợ đồng bộ đối với học sinh bán trú người dân tộc thiểu số; chính sách hỗ trợ sinh kế phù hợp với đặc điểm của từng vùng bao gồm đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ tư liệu sản xuất, vay vốn và tiếp cận thị trường.



Về việc thực hiện lộ trình điều chỉnh lương tối thiểu theo quy định của pháp luật về lao động:

Thực hiện quy định của Bộ luật Lao động và Kết luận Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về một số vấn đề cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020 và Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động (Nghị định số 182/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013).



Kính thưa Quốc hội,

Trên đây là báo cáo về tình hình thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn. Trong thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết liệt, có những việc đã đạt kết quả bước đầu và cũng có nhiều việc cần tiếp tục tập trung giải quyết trong thời gian tới.



Chính phủ trân trọng tiếp thu ý kiến của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước, đồng thời rất mong nhận được sự ủng hộ, phối hợp giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân và đồng chí, đồng bào.

Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội, đồng chí, đồng bào./.


1 Các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công Thương, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Lao động - Thương binh và Xã hội, Y tế, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Công an, Ngân hàng Nhà nước đã gửi báo cáo về việc thực hiện Nghị quyết số 30/2012/QH13, Nghị quyết số 40/2012/QH13 và Nghị quyết số 52/2013/QH13.

2 Các báo cáo: (1) Báo cáo thực hiện kế hoạch phát triển KTXH năm 2013; kế hoạch phát triển KTXH năm 2014 (số 417/BC-CP ngày 18/10/2013); (2) Báo cáo về việc thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế (số 422/BC-CP ngày 19/10/2013); (3) Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 - 2015 (số 415/BC-CP ngày 18/10/2013); (4) Báo cáo kiểm điểm và xử lý trách nhiệm đối với các sai phạm trong quản lý, sử dụng vốn trái phiếu CP giai đoạn 2006 - 2012 (số 458/BC-CP ngày 31/10/2013); (5) Báo cáo kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (số 451/BC-CP ngày 28/10/2013); (6) Báo cáo về tình hình rà soát quy hoạch tổng thể về thủy điện (số 369/BC-CP ngày 04/10/2013); (7) Báo cáo công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm năm 2013 và kết quả thực hiện Nghị quyết số 37/2012/QH13 của Quốc hội (số 436/BC-CP ngày 22/10/2013); (8) Báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng năm 2013 (số 399/BC-CP ngày 13/10/2013); (9) Báo cáo về tình hình trật tự an toàn giao thông năm 2013 (số 460/BC-CP ngày 31/10/2013); (10) Báo cáo về tình hình nợ đọng xây dựng cơ bản và biện pháp xử lý vấn đề này (số 480/BC-CP ngày 18/11/2013); (11) Báo cáo về tình hình thực hiện Luật quản lý giá, trong đó tập trung vào việc quản lý và bình ổn giá các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu liên quan đến sản xuất và đời sống của nhân dân như: xăng dầu, điện, khí dầu mỏ hóa lỏng, phân đạm, phân NPK, thuốc bảo vệ thực vật, sữa cho trẻ em dưới 6 tuổi, thuốc phong, chống bệnh (số 479/BC-CP ngày 15/11/2013).

3 Đã có 508 cơ sở ngoài công lập trong tổng số 1.333 cơ sở dạy nghề (chiếm tỷ lệ 38,1%), thu hút khoảng 30% học viên (năm 2001 có 70 cơ sở ngoài công lập trong tổng số 306 cơ sở dạy nghề, chiếm 22,88%).

4 Trong đó: Thương binh và người hưởng chính sách như thương binh: 4.016 người; người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học: 2.048 người; bệnh binh: 565 người; đối tượng hưởng trợ cấp tuất liệt sĩ: 265 người; người có công giúp đỡ cách mạng: 127 người; người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế: 38 người; người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày: 15 người; Bà mẹ Việt Nam anh hùng: 07 người; người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945: 03 người; người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945: 01 người.


: Uploaded
Uploaded -> LỜi giới thiệU
Uploaded -> Nghị quyết số 49-nq/tw ngàY 02 tháng 6 NĂM 2005 CỦa bộ chính trị VỀ chiến lưỢc cải cách tư pháP ĐẾn năM 2020
Uploaded -> BỘ giáo dục và ĐÀo tạO
Uploaded -> BỘ TÀi chính cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
Uploaded -> Chỉ thị 20-ct/tw ngày 05 tháng 11 năm 2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới
Uploaded -> BỘ TÀi chính số: 57 /2014 /tt-btc cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Uploaded -> BỘ TÀi chính cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Uploaded -> Tiểu sử 10 Công dân Ưu tú Thủ đô năm 2011 Nhà báo, nhà nghiên cứu Giang Quân
Uploaded -> THỐng kê ĐIỂm trung bình kỳ thi tuyển sinh đẠi học khối a,A1,B,C,D
Uploaded -> BỘ giáo dục và ĐÀo tạo viện nghiên cứu phát triểN giáo dụC




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương