Chương 1 khái quáT ĐẶC ĐIỂM ĐỊa lý TỰ nhiên vị trí địa lý



tải về 3.14 Mb.
trang9/15
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích3.14 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   15

Bảng 1.41: Số ngày mưa đá trung bình tháng và năm (ngày)

Trạm

I

II

III

IV

V

VI

VII

VIII

IX

X

XI

XII

Năm

Tuyên Hóa

0

0

0

0.04

0.04

0

0

0

0

0

0

0

0.1

Ba Đồn

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

Đồng Hới

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

b) Lốc tố

Lốc tố thường xảy vào thời kỳ chuyển tiếp giao nhau của các hệ thống thời tiết. Trong những năm gần đây, hiện tượng thời tiết nguy hiểm như lốc tố, mưa đá xảy ra ngày càng nhiều hơn, gây hậu quả khá nghiêm trọng cho xã hội. Loại hình thời tiết này xảy ra trên phạm vi nhỏ và thời gian tồn tại rất ngắn, với sức gió giật mạnh và đổi hướng đột ngột, có khi có cả mưa đá.



1.4.6.4. Sương mù và sương muối

Số ngày có sương mù trung bình tháng, năm ở một số nơi được thể hiện trong bảng 1.42.



Bảng 1.42: Số ngày có sương mù trung bình tháng, năm

Trạm đo

I

II

III

IV

V

VI

VII

VIII

IX

X

XI

XII

Năm

Tuyên Hóa

4.0

4.3

3.9

3.3

2.6

0.7

1.8

3.5

6.8

6.7

3.5

5.8

46.9

Ba Đồn

1.9

1.8

3.6

2.0

0.1

0.0

0.1

0.0

0.3

1.0

0.5

2.1

13.4

Đồng Hới

1.2

1.9

2.6

2.9

0.2

0.0

0.0

0.0

0.0

0.0

0.0

0.0

8.8

Quảng Bình nhìn chung không có nhiều sương mù, song số ngày sương mù phân hóa khá rõ theo lãnh thổ. Mỗi năm quan trắc được từ 8 - 15 ngày sương mù ở vùng thấp ven biển, khoảng 40 - 50 ngày ở khu vực đồi núi phía Tây. Sương mù có thể quan trắc rải rác trong năm, nhưng chủ yếu trong mùa đông với khoảng 2 - 5 ngày/tháng ở khu vực ven biển phía Đông và từ 3 - 7 ngày/tháng ở khu vực đồi núi phía Tây.

Sương muối là hiện tượng thời tiết đặc biệt được hình thành ở những vùng núi cao trong môi trường thời tiết khô, lặng gió và nhiệt độ thấp xấp xỉ 0C. Ở Quảng Bình hầu như không quan trắc được sương muối.



1.4.6.5. Mây

Quảng Bình có khá nhiều mây. Lượng mây tổng quan dao động trong khoảng 7,4 - 7,9/10 bầu trời (bảng 1.43). Ngược lại với số giờ nắng, khu vực Ba Đồn, huyện Quảng Trạch có ít mây nhất tỉnh.

Lượng mây tổng quan phân hóa không nhiều trong năm. Tuy nhiên, thời kỳ nửa cuối mùa đông và thời kỳ mùa mưa chính (từ tháng VIII đến tháng III năm sau) có nhiều mây hơn cả, đạt 7,6 - 8,5/10 bầu trời.

Thời kỳ có ít mây nhất là các tháng IV - V và VII, đây là những tháng chịu ảnh hưởng nặng nề của thời tiết khô nóng. Lượng mây tổng quan vào thời kỳ này dao động trong khoảng 6,7 - 6,9/10 bầu trời ở khu vực huyện Quảng Trạch, đạt khoảng 7,1 - 7,7 ở các khu vực khác trong tỉnh.



Bảng 1.43: Lượng mây tổng quan trung bình tháng
và năm(/10 bầu trời)


Trạm

I

II

III

IV

V

VI

VII

VIII

IX

X

XI

XII

Năm

Tuyên Hóa

8.5

8.7

8.2

7.2

7.1

7.9

7.2

7.9

7.9

7.9

8.4

8.4

7.9

Ba Đồn

7.7

8.3

7.9

6.9

6.7

7.5

6.9

7.7

7.2

7.0

7.6

7.7

7.4

Đồng Hới

8.0

8.5

8.0

7.2

7.5

8.2

7.7

8.4

8.0

7.7

7.9

7.8

7.9

1.4.6.6. Mưa phùn

Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên hàng năm Quảng Bình vẫn quan trắc được mưa phùn. Tính trung bình mỗi năm có từ 9 - 18 ngày mưa phùn (bảng 1.44).

Mưa phùn có thể xuất hiện vào thời kỳ từ tháng XI đến tháng IV năm sau, song nhiều hơn cả vào thời kỳ nửa cuối mùa đông. Hai tháng có nhiều mưa phùn nhất là tháng II và III với khoảng từ 2 - 6 ngày/tháng. Trong những ngày mưa phùn, trời đầy mây ẩm ướt, lượng mưa tuy không đáng kể nhưng có tác dụng làm tăng độ ẩm đất, giảm mức độ khô hạn trong thời kỳ nửa cuối mùa đông.

Bảng 1.44: Số ngày mưa phùn trung bình tháng
và năm (ngày)


Trạm


I

II

III

IV

V

VI

VII

VIII

IX

X

XI

XII

Năm

Tuyên Hóa

3.1

5.3

6.0

2.1

0.2

0

0

0

0

0

0.3

1.1

18.1

Ba Đồn

1.5

2.4

3.8

1.0

0.04

0

0

0

0

0.04

0.2

0.3

9.3

Đồng Hới

1.7

4.3

6.0

1.6

0

0

0

0

0

0.1

0.7

1.6

15.0

1.4.7. Biến động và biến đổi khí hậu

1.4.7.1. Elnino và Lanina

Elnino là kết quả tương tác giữa khí quyển và đại dương mà thể hiện chủ yếu là hoàn lưu khí quyển với nước biển bề mặt ở khu vực xích đạo Thái Bình Dương, sự thay đổi của một phía sẽ gây ra phản ứng của phía kia, làm xảy ra hiện tượng ấm hơn của nước biển.

Chu kỳ hoạt động của hiện tượng Elnino từ 2 đến 7 năm, có khi trên 10 năm. Thời gian kéo dài trung bình của một lần xuất hiện Elnino là 11 tháng, dài nhất đến 18 tháng, chẳng hạn Elnino xuất hiện năm 1982 - 1983.

Ngược lại với hiện tượng Elnino, Lanina là hiện tượng nhiệt độ bề mặt nước biển đại dương lạnh hơn bình thường.

Chu kỳ hoạt động của hiện tượng Lanina thường kéo dài hơn chu kỳ Elnino, nhưng dao động nhiệt độ nhỏ hơn. Thời gian kéo dài trung bình của một lần xuất hiện Lanina là 14 tháng, nhiều nhất là 26 tháng.

Trong hơn 50 năm qua, hiện tượng Elnino có ảnh hưởng mạnh đến thời tiết nước ta nói chung và Quảng Bình nói riêng là các năm: 1963, 1965, 1969, 1972-1973, 1976-1977, 1982-1983 và 1997-1998. Cũng trong khoảng thời gian đó Lanina xuất hiện vào các năm: 1964, 1970, 1971, 1973, 1975, 1988 và 1995.

Ở Quảng Bình do ảnh hưởng của Elnino trong các năm 1976-1977, 1982-1983 và 1997-1998 đã xảy ra hạn hán trên diện rộng làm thiệt hại rất lớn cho nông nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ sản và nhiều ngành kinh tế khác nữa.

1.4.7.2. Phân vùng khí hậu

Yếu tố được chọn làm chỉ tiêu phân chia các vùng khí hậu là tổng nhiệt độ năm, thời gian xuất hiện và kết thúc mùa mưa, thời gian xuất hiện nhiệt độ (350C) và chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng miền trong thời gian đầu hoạt động của áp thấp nóng phía Tây, hướng gió thịnh hành trong mùa đông, số ngày mưa trung bình năm, mức độ ảnh hưởng của gió trong bão.

Căn cứ vào hệ thống chỉ tiêu trên, có thể phân vùng khí hậu Quảng Bình thành 4 vùng cơ bản:

a) Vùng khí hậu đồng bằng ven biển phía Bắc tỉnh (vùng I)

Vùng này gồm toàn bộ huyện Quảng Trạch và các xã Liên Trạch, Mỹ Trạch, Hạ Trạch, Bắc Trạch và Thanh Trạch của huyện Bố Trạch.

- Diện tích toàn vùng: 703.8 km2

- Tổng nhiệt độ năm: 8.968.

- Tổng số giờ nắng năm: 1.880 giờ.

- Tổng lượng bốc hơi năm: 1.005,7mm.

- Tổng lượng mưa năm phổ biến từ 1.900 - 2.100mm.

Đặc điểm riêng của khí hậu vùng này là tổng lượng mưa TBNN nhỏ, hướng gió Đông Bắc trong mùa đông khi thổi đến vùng này do sự chi phối của địa hình nên chuyển thành hướng Tây (nhưng bản chất của gió không thay đổi). Trong vùng khí hậu này có một số xã sát phía Nam đèo Ngang như: Quảng Châu, Quảng Đông, Quảng Xuân, Quảng Hưng, Quảng Thọ, Cảnh Dương, Quảng Thạch, Quảng Long, Quảng Lưu, Quảng Tiến có tổng lượng mưa trung bình nhiều năm nhỏ hơn 2.000mm/năm. Đây là nơi có tổng lượng mưa năm thấp nhất tỉnh với một tâm thấp tại Roòn có tổng lượng mưa trung bình nhiều năm chỉ đạt 1.838mm.

b) Vùng khí hậu đồng bằng ven biển phía Nam tỉnh (vùng II)

Ranh giới của vùng khí hậu này được chia một cách tương đối như sau: phía Bắc là dãy núi đâm ngang ra biển tạo nên đèo Lý Hòa, phía Nam giáp Quảng Trị, phía Tây lấy đường Hồ Chí Minh (nhánh Đông) làm ranh giới.

- Diện tích toàn vùng: 987.5km2

- Tổng nhiệt độ năm: 8.954.

- Tổng số giờ nắng năm: 1.786 giờ.

- Tổng lượng bốc hơi năm: 1.212,4 mm.

- Tổng lượng mưa năm phổ biến từ 2.200 - 2.300mm.

Đặc điểm riêng của khí hậu vùng này là hướng gió Đông Bắc trong mùa đông khi thổi đến vùng này do sự chi phối của địa hình nên chuyển thành hướng Tây Bắc (nhưng bản chất của gió không thay đổi). Mặt khác, do phụ thuộc vào thời gian hoạt động của các loại khí đoàn nên ở phần phía Bắc của vùng khí hậu này (II) mùa mưa đến và kết thúc sớm hơn ở phần phía Nam của vùng. Phía Nam của vùng khí hậu này có số ngày mưa trung bình năm thấp nhất tỉnh.

c) Vùng khí hậu miền núi phía Tây Bắc tỉnh (vùng III)

Bao gồm toàn bộ huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa và các xã miền núi của huyện Bố Trạch như: Xuân Trạch, Phúc Trạch, Lâm Trạch, Sơn Trạch, Hưng Trạch, Tân Trạch, Thượng Trạch.

- Diện tích toàn vùng: 4.056km2

- Tổng nhiệt độ năm: 8.771.

- Tổng số giờ nắng năm: 1.689 giờ.

- Tổng lượng bốc hơi năm: 963.4mm.

- Tổng lượng mưa năm phổ biến từ 2.000 - 2.600mm.

Đặc điểm riêng của khí hậu vùng này là mùa mưa xuất hiện sớm, số giờ nắng và lượng bốc hơi nhỏ hơn các vùng khác, chịu ảnh hưởng mạnh và sớm của áp thấp nóng phía Tây.

d) Vùng khí hậu miền núi phía Nam tỉnh (Vùng IV)

- Diện tích toàn vùng: 2.252km2

Vùng khí hậu này bao gồm chủ yếu vùng núi của hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy. Cũng như vùng núi phía Tây Bắc, đây là vùng có tổng lượng mưa trung bình năm lớn, phần lớn khu vực này đều có lượng mưa trung bình năm lớn hơn 2.400mm. Đặc điểm riêng của vùng khí hậu này là mùa mưa kết thúc muộn hơn các địa phương khác trong tỉnh, thường từ 15 - 20 tháng 12 vẫn còn xảy ra mưa lũ cuối vụ. Vùng này có một trung tâm mưa lớn bao gồm các xã sau: Xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh; Kim Thuỷ, Lâm Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ với tổng lượng mưa trung bình năm lớn hơn 2.500mm.

1.5. Đặc điểm thuỷ văn

1.5.1. Đặc điểm thủy văn chung

Do lãnh thổ Quảng Bình hẹp về bề ngang, độ dốc lớn nên sông ngòi thường ngắn, dốc, có hiện tượng đào lòng mạnh chảy theo hướng từ Tây sang Đông. Lượng dòng chảy trong năm tương đối phong phú với mô đun dòng chảy trung bình là 57 lít/s/km2 (tương đương 4 tỷ m3 năm). Thủy chế cũng theo 2 mùa rõ rệt, tương ứng với mùa mưa và khô. Trong mùa mưa, ở vùng đồi núi, sông suối có khả năng tập trung nước rất nhanh, nhưng lũ không kéo dài do khả năng thoát nước tốt.

Quảng Bình có mạng lưới thuỷ văn khá dày, có tiềm năng lớn về thuỷ điện, thuỷ lợi, thuỷ sản và giao thông vận tải.

Mật độ sông suối Quảng Bình đạt khoảng 0,6 - 1,85 km/km2 (Mật độ sông ngòi trung bình toàn quốc là 0,82 km/km2). Mạng lưới sông suối phân bố không đều, mật độ sông suối có xu hướng giảm dần từ Tây sang Đông. Vùng núi mật độ sông suối đạt 1 km/km2, vùng ven biển từ 0,45 - 0,5 km/km2. Lãnh thổ Quảng Bình có 5 lưu vực sông chính, diện tích lưu vực 7.980km2, tổng chiều dài 343km và đều đổ ra biển Đông. Tính từ Bắc vào Nam có các lưu vực: sông Roòn, sông Gianh, sông Lý Hoà, sông Dinh và sông Nhật Lệ. Trong đó, sông lớn nhất là sông Gianh có chiều dài 158km, diện tích lưu vực 4.680km2; sông Nhật Lệ có 2.650km2 diện tích lưu vực. Cả 2 lưu vực sông này chiếm 92% tổng diện tích toàn lưu vực (trong đó sông Gianh chiếm 58,6%, sông Nhật Lệ chiếm 33,2%). Đặc điểm hình thái sông ngòi tỉnh Quảng Bình được mô tả ở bảng 1.45.



Bảng 1.45: Đặc điểm hình thái sông ngòi tỉnh Quảng Bình

STT

Tên sông

Chiều dài

(km)


Diện tích

Lưu vực


(km2)

Độ cao bình quân lưu vực

(m)


Mật độ

sông suối bình quân

(km/km2)


Độ dốc bình quân

lưu vưc


(m)

Lưu lượng dòng chảy Qo(m3/s)

Lượng nước cấp Wo (106m3)

1

Sông Roòn

30

261

138

0,88

17,2

19,3

607,6

2

Sông Gianh

158

4.680

360

1,04

19,2

346,4

10.895,0

3

Sông Lý Hoà

22

177

130

0,70

15

10,14

318,0

4

Sông Dinh

37

212

203

0,93

16

12,15

382,0

5

Sông Nhật Lệ

96

2.650

234

0,84

20,7

151,73

4.772,0

Cộng

343

7.980




0,8  1,1




539,72

16.974,6

Đặc điểm nổi bật của chế độ mưa và dòng chảy ở Quảng Bình là đường phân phối dòng chảy trong năm có hai đỉnh rõ rệt. Đỉnh chính xuất hiện vào tháng IX, X; đỉnh phụ tiểu mãn xuất hiện vào tháng V, VI. Mùa lũ tập trung vào các tháng X, XI, XII và chiếm 60 - 80% tổng lượng dòng chảy cả năm. Vào mùa này, sông ngòi thường có lũ đột ngột gây úng lụt trầm trọng vùng cửa sông. Trong mùa khô, nhiều đoạn sông bị cạn dòng và vùng cửa sông bị thủy triều tăng cường xâm nhập mặn vào đất liền. Dòng chảy kiệt kéo dài trung bình 8 - 9 tháng. Trong mùa kiệt vẫn có mưa và lũ tiểu mãn, thường lũ tiểu mãn chiếm 1,72 - 5,75% lượng dòng chảy năm.

Dòng chảy lũ trên các sông của Quảng Bình chiếm phần lớn lượng dòng chảy trong năm, vì vậy dòng chảy lũ là đặc trưng quan trọng trong chế độ thuỷ văn tỉnh Quảng Bình.

Dòng chảy cạn ở Quảng Bình, ngoài lượng nước ngầm gia nhập dòng chảy sông còn phải tính đến lượng mưa, đặc biệt là mưa tiểu mãn. Những tháng chuyển tiếp từ mùa lũ sang mùa cạn lượng mưa còn khá lớn, xấp xỉ 100mm. Thời kỳ chuyển tiếp từ mùa cạn sang mùa lũ lượng mưa đạt khoảng 100 - 300mm. Độ dài mùa cạn của các sông suối trong tỉnh trung bình 8 - 9 tháng, dài nhất là 10 tháng, ngắn nhất là 7 tháng. Lượng dòng chảy mùa cạn chiếm 21 - 39% tổng lượng mưa năm. Tổng lượng 3 tháng nhỏ nhất chiếm khoảng 4 - 6% so với tổng lượng dòng chảy năm.

1.5.2. Hệ thống sông ngòi và hồ chứa

1.5.2.1. Hệ thống sông ngòi

Tính từ Bắc vào Nam, Quảng Bình có 5 hệ thống sông chính đổ ra các cửa biển, bao gồm: sông Roòn, sông Gianh, sông Lý Hoà, sông Dinh và sông Nhật Lệ.



a) Sông Roòn

Sông Roòn dài 30km bắt nguồn từ Thượng Thọ, có toạ độ 1753’0” vĩ độ Bắc, 10616’00” kinh độ Đông với độ cao 100m, diện tích lưu vực là 275km2 và chảy ra biển Đông ở cửa Bắc Hà. Sông có 3 phụ lưu cấp 1 đều ngắn và nhỏ.

Sông đón nước từ các nguồn suối ở chân núi phía Nam của dãy Hoành Sơn chảy len lõi giữa một vùng rừng núi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và phía xã Quảng Châu dòng chảy đi vòng lên phía Bắc rồi quặt sang hướng Đông đổ nước ra cửa Roòn. Sông có diện tích lưu vực 261km2, mật độ sông suối trong lưu vực 0,8km/km2.

b) Sông Gianh

Sông Gianh bắt nguồn từ Phucopi có toạ độ 1749’20” vĩ độ Bắc và 10541’30” độ kinh Đông với độ cao 1.350m. Đây là hệ thống sông lớn nhất tỉnh Quảng Bình. Nó là hợp lưu của 3 con sông vào loại trung bình của tỉnh: sông Rào Nậy, sông Rào Nan và sông Son (còn gọi là sông Troóc).

Sông có chiều dài 158km, chiều rộng bình quân lưu vực 38,8km, chiều dài lưu vực 121km, lưu vực sông rộng 4.680km2, bao gồm hầu hết diện tích các huyện Tuyên Hóa, Minh Hoá, Quảng Trạch và một phần của huyện Bố Trạch. Mật độ sông suối trong lưu vực là 1,04km/km2. Sông có 16 phụ lưu cấp 1, 20 phụ lưu cấp 2 và 10 phụ lưu cấp 3. Lòng sông không đồng đều, thượng nguồn hẹp, càng về xuôi càng rộng. Phần thượng nguồn do dòng sông có nhiều đoạn uốn khúc nên có bờ lồi, bờ lỡ, phần hạ lưu có những cồn nổi ở giữa dòng sông (Cồn Vượn, Cồn Sẻ...). Thuỷ chế của dòng sông thất thường, nhất là thượng nguồn. Mùa nước cạn vào khoảng tháng XII đến tháng VIII, mùa nước lớn vào các tháng IX, X, XI, đây cũng là mùa lũ lụt.

- Sông Rào Nậy:

Đây là nguồn chính của sông Gianh phát nguồn từ sườn phía Đông của dãy núi Giăng Màn gần vùng núi Phucopi. Không kể các suối nhỏ, từ Bãi Dinh về đến xã Thanh Hoá (Tuyên Hoá), sông chảy theo hướng Nam - Bắc. Từ xã Thanh Hoá sông chảy theo một hướng duy nhất là Tây Bắc - Đông Nam rồi đổ ra cửa Gianh. Vì đó là dòng chính nên suốt trên đường đi, sông đón nước từ rất nhiều phụ lưu của 2 bờ tả và hữu ngạn. Sông chảy qua nhiều vùng địa hình đa dạng. Về mùa mưa lũ, lượng nước lớn cuốn theo nhiều phù sa, nên gần về cuối có nhiều cồn cát nổi lên ở giữa sông.

- Sông Rào Nan:

Ở phía Nam của sông Gianh, phát nguyên từ vùng núi Cao Mại, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam về đến Quảng Minh (Quảng Trạch) thì gặp nước của nguồn sông Son chảy về. Cùng với sông Son, nước của 2 sông này đổ vào nguồn Rào Nậy hoà chung chảy ra cửa Gianh. Sông có chiều dài 35km.

- Sông Son (còn có tên gọi là sông Troóc):

Phát nguyên từ vùng núi Kẻ Bàng - Khe Ngang (Bố Trạch), đón nước từ các sông suối có nước chảy tràn lên mặt và các sông ngầm trong vùng chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc và đến ngã ba Minh Lệ (Quảng Trạch) đón thêm nước sông Rào Nan rồi đổ vào Rào Nậy thoát ra cửa Gianh. Sông có chiều dài 45km (không tính các dòng ngầm trong hang động).

c) Sông Lý Hòa

Đây là con sông ngắn nhất tỉnh, chỉ dài 22km, bắt nguồn từ toạ độ 1731’30” vĩ độ Bắc, 10626’50” kinh độ Đông (rìa núi phía Tây của huyện Bố Trạch) với độ cao 400m, chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc về đến xóm Rẫy, sau đó uốn khúc chạy theo hướng Đông ra cửa Lý Hoà. Lưu vực sông có diện tích 177kmvà mật độ sông suối 0,70 km/km2. Sông có 3 phụ lưu cấp 1 đều ngắn và nhỏ chảy gọn trong phần đất phía Nam của huyện Bố Trạch.

d) Sông Dinh

Đây là con sông hẹp nhất trong 5 con sông chính của tỉnh, sông có chiều dài 37,5km, có 3 phụ lưu nhỏ.

Sông phát nguyên từ vùng núi Ba Rền - Bố Trạch, có toạ độ 1731’30” vĩ độ Bắc, 10625’20” kinh độ Đông, ở độ cao 200m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam về đến Phú Định - Bố Trạch chảy quặt theo hướng Tây Nam - Đông Bắc đến Phương Hạ (xã Đại Trạch, Bố Trạch) thì chuyển sang hướng Đông chảy ra cửa Dinh (xã Nhân Trạch, Bố Trạch). Sông có lưu vực 212km2, bề rộng trung bình của lưu vực 8,5km, sông ngắn, dốc, nên ít nước cả mùa đông và mùa hè (chỉ có một số ngày có lũ lụt mới có lượng nước đáng kể). Mật độ sông suối 0,93 km/km2.

e) Sông Nhật Lệ

Đây là hệ thống sông lớn thứ 2 của tỉnh Quảng Bình, sau hệ thống sông Gianh. Sông Nhật Lệ nhận nước từ 2 con sông chính là sông Kiến Giang và sông Long Đại. Đoạn sông mang tên Nhật Lệ được tính từ ngã 3 sông Long Đại (cách cầu Long Đại 1,5km) về đến cửa nhật Lệ (Đồng Hới) dài 17km. Nếu tính từ nguồn Kiến Giang về đến cửa Nhật Lệ có chiều dài 96km. Hệ thống sông Nhật Lệ có lưu vực rộng 2.647km2. Hệ thống sông bao gồm 24 phụ lưu lớn nhỏ, độ rộng bình quân của lưu vực 45km2, bình quân sông, suối trong lưu vực có chiều dài 0,84 km/km2.

- Sông Kiến Giang:

Là hợp lưu của nhiều nguồn sông suối phát nguyên từ vùng núi phía Tây Nam huyện Lệ Thuỷ đổ về Luật Sơn (xã Trường Thuỷ, Lệ Thuỷ) chảy theo hướng Nam - Bắc. Từ đây, sông chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, về đến ngã ba Thượng Phong, sông chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, đến đoạn ngã ba Phú Thọ (An Thuỷ, Lệ Thuỷ), sông đón nhận thêm nước của sông Cẩm Ly (chảy từ hướng Tây đổ về), tiếp tục chảy theo hướng trên, băng qua cánh đồng trũng huyện Lệ Thuỷ (đoạn này sông rất hẹp) sắp hết đoạn đồng trũng huyện Lệ Thuỷ để vào địa phận huyện Quảng Ninh, sông được mở rộng và chảy băng qua phá Hạc Hải (có chiều dài gần 2km) về đến xã Duy Ninh (Quảng Ninh), sông tiếp tục chảy ngược về hướng Tây đến ngã ba Trần Xá thì hợp lưu với sông Long Đại đổ nước vào sông Nhật Lệ (chỉ tính riêng chiều dài sông Kiến Giang đo được 69km). Sông Kiến Giang có độ dốc nhỏ, trước lúc chưa đắp đập chắn mặn ở Mỹ Trung, về mùa hè nhiều năm nước mặn ở biển do thuỷ triều đẩy lên đã vượt quá cầu Mỹ Trạch (cách cửa biển Nhật Lệ trên 40km).

- Sông Long Đại:

Đây là hợp lưu của 3 phụ lưu chính: nhánh phía Bắc phát nguyên từ vùng núi Côtarun trên biên giới Việt - Lào chảy trọn trong vùng địa hình Karst của huyện Bố Trạch và đến động Hiềm (gần Bến Tiêm huyện Quảng Ninh) thì gặp sông Long Đại; nhánh thứ 2 phát nguyên từ vùng núi Lèn Mụ - biên giới cực Tây của hai huyện Quảng Ninh và Bố Trạch chảy về gặp sông Long Đại ở phía Động Hiềm; nhánh thứ 3 phát nguyên từ vùng núi Vít Thù Lù của huyện Lệ Thuỷ chảy băng về rừng núi của huyện Quảng Ninh, về đến Bến Tiêm thì gặp sông Long Đại. Từ đây, sông Long Đại chảy dọc theo biên giới hai huyện Quảng Ninh và Bố Trạch theo hướng Tây Nam - Đông Bắc vượt qua nhiều thác ghềnh hiểm trở (thác Bồng, thác Ong, thác Tam Lu...). Trước khi đổ nước vào sông Nhật Lệ, sông Long Đại còn đón thêm nước ở 2 phụ lưu là Rào Trù và Rào Đá (xã Trường Xuân, Quảng Ninh).

Chỉ tính riêng chiều dài sông Long Đại đo từ nguồn chính (nhánh phát nguồn từ Vít Thù Lù) dài 35km. Sông Long Đại có độ dốc lớn hơn sông Kiến Giang, vì thế mỗi lúc có nước mặn (do thuỷ triều đẩy lên) sông Long Đại bị ảnh hưởng rất ít. Ba nhánh sông đầu nguồn của sông Long Đại nằm trong một vùng núi có lượng mưa lớn, nên về mùa lũ, con sông này nước lên rất hỗn (những tai nạn đối với người đi rừng trong mùa mưa lũ đại bộ phận cũng xảy ra ở thượng nguồn con sông này). Sông Long Đại không lớn bằng sông Gianh nhưng cường độ cấp nước lũ lớn ngang với sông Gianh (từ 70 - 85 m3/s/km2).

Các sông Quảng Bình có trữ năng thuỷ điện tổng cộng khoảng 4.770,9 x 106KWh. Kết quả tính toán trữ năng thủy điện lý thuyết cho các sông chính của tỉnh Quảng Bình được trình bày tại bảng 1.46.

1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   15


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương