CỤc phòng chống hiv/aids



tải về 0.85 Mb.
trang8/8
Chuyển đổi dữ liệu28.05.2018
Kích0.85 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8

3.2.2. Đánh giá việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về can thiệp bằng BKT:

Cũng tương tự như chương trình BCS, các quy định của Luật, Nghị định số 108/2007/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, Nghị định đã tạo ra hành lang pháp lý khá thuận lợi cho việc tổ chức các can thiệp bằng BKT. Điều này thể hiện rõ qua việc độ bao phủ của chương trình cung cấp BKT tăng đều qua các năm.


Bảng 12. Độ bao phủ của chương trình BKT

Năm

Số quận/huyện triển khai

chương trình (n=85)

Số xã/phường/thị trấn triển khai chương trình (n=1388)

2007

55

791

2008

59

815

2009

68

912

2010

70

1023

2011

83

1176

2012

83

1302

(Nguồn: Tổng hợp số liệu báo cáo hoạt động hằng năm của các tỉnh được khảo sát)

Việc triển khai hoạt động can thiệp bằng BKT đã được thực hiện bằng nhiều hình thức khá đa dạng thông qua nhiều mô hình khác nhau nhằm tăng tính sẵn có và tính dễ tiếp cận của BKT cho đối tượng nghiện chích ma túy. Các mô hình chính đã được xây dựng và triển khai bao gồm: Mô hình phân phát BKT thông qua nhân viên tiếp cận cộng đồng; mô hình hộp cung cấp BKT cố định; mô hình điểm phân phát BKT cố định; mô hình điểm phân phát thứ cấp qua nhà thuốc, hiệu thuốc, trạm y tế, Phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện hoặc lồng ghép tại câu lạc bộ/điểm giáo dục sức khỏe.....

Tại các tỉnh được khảo sát, mô hình phát BKT được áp dụng phổ biến nhất là thông qua mạng lưới nhân viên tiếp cận cộng đồng, hộp cung cấp BKT

Phát BKT qua mạng lưới nhân viên tiếp cận cộng đồng là kênh phát BKT chính ở hầu hết các tỉnh được khảo sát với tỷ lệ chiếm đến 90% số BKT được phát ra. Yếu tố chính quyết định sự thành công của mô hình này là do có khả năng tiếp cận đối tượng tốt. Bên cạnh việc phát BKT, nhân viên tiếp cận cộng đồng còn có nhiệm vụ tìm kiếm, tiếp cận đối tượng nghiện chích mới trên địa bàn để thực hiện việc cung cấp BKT, tài liệu truyền thông và thực hiện việc truyền thông giáo dục sức khoẻ trực tiếp cho người nghiện chích ma túy đồng thời tư vấn chuyển gửi đối tượng đến các dịch vụ hỗ trợ như tư vấn xét nghiệm tự nguyện, khám điều trị STI, phòng khám ngoại trú... Ngoài việc phát BKT trực tiếp cho người nghiện chích ma túy tại các tụ điểm tiêm chích, nhân viên tiếp cận cộng đồng còn quy ước với người NCMT về những điểm, hộp BKT bí mật đặt tại nhà NVTCCĐ, tụ điểm tiêm chích, quán nước, cửa hàng tạp hoá... để tăng khả năng tiếp cận BKT sạch cho người NCMT. Mô hình này hiện nay đã nhận được sự ủng hộ của chính quyền, ban ngành, đoàn thể và cộng đồng mà minh chứng rõ ràng nhất đó là việc toàn bộ các nhân viên tiếp cận cộng đồng đã được cấp thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng.

Tuy nhiên, mô hình này cũng đang gặp một số thách thức và hạn chế sau:

- Chất lượng hoạt động của NVTCCĐ phụ thuộc rất nhiều vào tính tự giác, nhiệt tình với công việc của bản thân họ.

- Nhiều NVTCCĐ là cán bộ kiêm nhiệm (đặc biệt là ở tuyến huyện và tuyến xã) nên không đủ thời gian cho việc giám sát, khó bao quát hết hoạt động của các tuyên truyền viên đồng đẳng trên địa bàn.

- Mạng lưới thiếu ổn định do bản thân nhiều NVTCCĐ cũng là người NCMT, họ có thể bị bắt do có những hành vi phạm pháp, nhiều người thay đổi công việc hoặc chết do mắc các bệnh liên quan đến AIDS... khi đó các chương trình, dự án lại phải tuyển dụng và đào tạo từ đầu.



- Chi phí để duy trì hoạt động của mạng lưới cao do phải trả lương và phụ cấp đi lại hàng tháng trong khi nếu không có nguồn kinh phí viện trợ mà chỉ sử dụng nguồn kinh phí của chương trình mục tiêu quốc gia và sự hỗ trợ từ nguồn ngân sách địa phương thì sẽ rất khó khăn.

Việc phát BKT qua hệ thống Trạm Y tế thường được kết hợp với hình thức hộp BKT cố định nên có ưu điểm là chi phí vận hành thấp đồng thời có thể lồng ghép cung cấp nhiều dịch vụ cho đối tượng đích như truyền thông giáo dục sức khoẻ, khám STI... và có khả năng duy trì bền vững do mô hình này tận dụng được các dịch vụ cũng như con người sẵn có của hệ thống y tế. Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhược điểm lớn là chỉ tiếp cận được đối tượng NCMT cũ, đã lộ diện mà rất hạn chế trong việc tiếp cận với đối tượng NCMT mới do đối tượng sợ bị phát hiện, e ngại sự kỳ thị từ phía cán bộ y tế và cộng đồng.

Hộp BKT đặt ở nơi kín đáo được nhiều đối tượng NCMT hưởng ứng do có thể tiếp cận lấy BKT bất cứ khi nào có nhu cầu. Hộp BKT thường được treo ở các cơ sở y tế như Trạm Y tế, điểm điều trị Methadone, cơ sở TVXNTN... và do cán bộ y tế quản lý. Mô hình này được triển khai khá thành công tại Hà Tĩnh, hộp BKT được chia làm 2 ngăn, ngăn trên đựng BKT sạch và BCS, ngăn dưới đựng BKT bẩn. Hàng ngày cán bộ Trạm y tế có trách nhiệm kiểm tra, nếu hết BKT thì đặt BKT sạch vào và thu gom BKT bẩn ở ngăn dưới của hộp và ở khu vực xung quanh.

Mô hình hộp BKT cố định có chi phí vận hành thấp và có khả năng duy trì bền vững. Tuy nhiên cũng có nhược điểm, đó là khó quản lý số lượng và mục đích sử dụng BKT của người NCMT. Do đó dễ xảy ra tình trạng “trống” BKT trong hộp, mặc dù trước đó CTV vừa mới đặt BKT vào hộp. Ngoài ra, hộp BKT có thể bị cộng đồng phản đối do kỳ thị với người NCMT, sợ mất an ninh trật tự trong khu vực và sợ ô nhiễm môi trường do BKT bẩn bị người NCMT vứt tràn lan.



Bên cạnh các khó khăn trong việc tổ chức triển khai các mô hình thì hoạt động can thiệp bằng bơm kim tiêm cũng đang gặp phải các khó khăn liên quan đến vấn đề pháp lý. Thứ nhất là do pháp luật về phòng, chống ma túy chưa có quy định rõ ràng về các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong phòng, chống ma túy nên người NCMT vẫn có tâm lý e ngại khi tiếp cận với các điểm cung cấp bơm kim tiêm cố định do sợ bị theo dõi.


Bên cạnh đó, việc quy định phải có xác nhận của công an cấp xã nơi cư trú về tình trạng pháp lý cũng là một rào cản cho việc mở rộng mạng lưới NVTCCĐ bởi nhiều người, kể cả đối tượng là cộng tác viên, cũng e ngại có sự hiểu lầm là mình thuộc nhóm đối tượng NCMT, còn đối tượng là người NCMT lại lo ngại bị tiết lộ thông tin về tình trạng nghiện của mình.


Một vấn đề nữa cũng đang là vướng mắc xuất phát từ thực tiễn đó là việc giao cho công an cấp xã xác nhận về tình trạng pháp lý bởi một số nội dung xác nhận không thuộc thẩm quyền của công an, mà cụ thể: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì người đề nghị làm NVTCCĐ phải là người không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không đang trong thời gian chấp hành bản án hình sự hoặc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn và việc xác nhận này do cơ quan công an thực hiện. Tuy nhiên, quy định này chưa phù hợp ở chỗ cơ quan công an không nắm được việc áp dụng biện pháp xử lý đối với đối tượng đề nghị do thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp này thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Bên cạnh đó, quy định về tiêu chuẩn để được làm NVTCCĐ cũng còn có điểm bất cập bởi theo quy định hiện hành thì NVTCCĐ phải người không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không đang trong thời gian chấp hành bản án hình sự hoặc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp tuy đang bị chấp hành bản án hình sự nhưng lại không liên quan đến tội phạm về ma túy hay mại dâm như người đang trong thời gian chấp hành bản án hình sự là án treo đối với các tội danh như gây tai nạn giao thông hay kinh tế cũng không được làm NVTCCĐ.





3.2.3. Chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế

Chương trình điều trị Methadone được bắt đầu triển khai thí điểm tại thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 04/2008. Đến nay, chương trình này đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, cụ thể như sau:

- Giảm tần suất sử dụng heroin: Việc sử dụng Heroin đã giảm đi đáng kể về cả tần suất và liều sử dụng ở bệnh nhân tham gia điều trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng các chất dạng thuốc phiện đã giảm từ 100% xuống còn 57% sau tháng đầu tiên điều trị, 30% sau tháng thứ 2 và còn 10% sau 3 tháng điều trị Methadone, ngay cả những bệnh nhân còn sử dụng heroin, tần suất sử dụng heroin cũng đã giảm rõ rệt (từ 60 lần/tháng xuống 2 lần/tháng), không còn tình trạng sử dụng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích ma tuý.

- Cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh: Đa số bệnh nhân tham gia điều trị đã có những cải thiện về sức khỏe, chuyển biến tích cực về thái độ cũng như cuộc sống (thang đo chất lượng cuộc sống tăng từ 69 lên 81 điểm cho sức khoẻ). Nhiều bệnh nhân trước đây chưa có việc hiện nay đã và đang tích cực tìm việc làm và dành thời gian hỗ trợ gia đình.




- Góp phần cải thiện về tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội: Tỷ lệ bệnh nhân có các hành vi vi phạm pháp luật trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị giảm một cách rất đáng kể và có ý nghĩa: với 40% bệnh nhân có hành vi vi phạm pháp luật tại thời điểm trước khi vào chương trình điều trị, thì sau 9 tháng giảm xuống còn 1,39%. Theo báo cáo của công an quận Lê Chân, chỉ sau 6 tháng triển khai chương trình Methadone, số vụ trộm cắp vặt liên quan đến nhóm người nghiện chích ma túy tại khu vực bệnh viện Việt Tiệp giảm 60-70% và số vụ vi phạm pháp luật có liên quan đến ma túy tại khu vực Chợ Sắt cũng giảm hơn 70%. Bên cạnh việc giảm các hành vi vi phạm pháp luật, những mâu thuẫn trong gia đình, xã hội cũng giảm mạnh khi bệnh nhân được điều trị bằng Methadone (từ 20% trước điều trị xuống còn 3,5% sau 9 tháng).

Tuy nhiên, hoạt động điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức:



- Người nghiện chất dạng thuốc phiện vẫn còn tâm lý e ngại khi tiếp cận với dịch vụ điều trị thay thế do sợ bị tiết lộ về tình trạng nghiện của mình. Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ việc quy trình xét chọn người bệnh tham gia điều trị thay thế chưa thực sự hợp lý bởi người nghiện ma túy không thể trực tiếp đến cơ sở điều trị mà bắt buộc phải qua khâu xét chọn từ tuyến xã.


- Thiếu sự nhất quán giữa quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy, xử lý vi phạm hành chính và pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS. Hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực phòng, chống ma túy nói chung và quản lý người nghiện ma túy nói riêng, do ngành công an và lao động, thương binh và xã hội quản lý. Hiện nay, người nghiện ma túy được hỗ trợ cai nghiện ma túy theo qua hai hình thức chủ yếu, gồm cai nghiện tự nguyện tại gia đình và cộng đồng và cai nghiện bắt buộc tại các cơ sở chữa bệnh được thành lập theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính và luật phòng, chống ma túy. Theo đó, do việc chưa thống nhất trong việc sử dụng cụm từ "người nghiện chất dạng thuốc phiện" và "người nghiện ma túy" nên khó xác định một cách cụ thể các chủ thể khi áp dụng các quy định của pháp luật, ví dụ nếu là người nghiện chất dạng thuốc phiện thì có phải áp dụng quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy hay không và ngược lại?



- Thiếu các quy định về phân loại cơ sở điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện, điều kiện hoạt động và đăng ký hoạt động điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện. Hiện nay, các quy định về điều kiện hoạt động mới chỉ được quy định trong Đề án thí điểm trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone của thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh chứ chưa phải là quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật, trong khi đó Nghị định số 108/2007/NĐ-CP lại cũng không có quy định cụ thể nên đã phần nào hạn chế việc thành lập mới các cơ sở điều trị.






CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN

1. Hệ thống văn bản về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV tuy đã bước đầu tạo ra được một hành lang pháp lý khá thông thoáng và thuận lợi cho việc tổ chức triển khai thi hành các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV nhưng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và cần phải được sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.

2. Hoạt động phổ biến các quy định của pháp luật được triển khai rộng rãi với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn mang tính hình thức và thiếu các thông điệp truyền thông phù hợp với đặc điểm của từng nhóm đối tượng.

3. Việc thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV bằng bao cao su và bao cao su được triển khai với phạm vi bao phủ ngày một rộng đã giúp tăng khả năng tiếp cận cho các đối tượng có hành vi nguy cơ. Hoạt động điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế cũng đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ nhưng cũng giống như việc tổ chức hoạt động can thiệp này cũng còn gặp nhiều khó khăn mà một trong số các nguyên nhân đó chính là sự thiếu đồng bộ hoặc chưa phù hợp của hệ thống pháp luật.


CHƯƠNG V: KIẾN NGHỊ

1. Về hoàn thiện hệ thống pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV

Trong giai đoạn tới, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV, trong đó cần tập trung vào một số vấn đề sau:

1.1. Chính thức hóa và cụ thể hóa các quy định về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV trong Luật phòng, chống HIV/AIDS để tạo hành lang pháp lý mạnh hơn cho việc tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV mà cụ thể là cần bổ sung một chương riêng quy định về các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV, trong đó cần tập trung làm rõ một số nội dung sau:

a) Nội dung của các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV;

b) Trách nhiệm của các chủ thể pháp luật bao gồm chính quyền các cấp, cơ sở y tế, ngành công an, ngành lao động - thương binh và xã hội cũng như của các đối tượng thụ hưởng chính sách trong việc tổ chức triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV;

c) Các điều kiện bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.

1.2. Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy và phòng, chống mại dâm nhằm tạo sự đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản pháp luật, trong đó cần tập trung vào các vấn đề sau:

a) Đối với pháp luật về phòng, chống ma túy:

- Cần sớm có các quy định về các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong phòng, chống ma túy để tạo sự thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS;

- Sửa đổi, bổ sung các quy định về cai nghiện ma túy theo hướng loại trừ các đối tượng đang tham gia chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ra khỏi đối tượng bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, trừ trường hợp các đối tượng đó vẫn tiếp tục sử dụng ma túy trong quá trình điều trị;

- Thống nhất việc sử dụng các từ ngữ "nghiện chất dạng thuốc phiện" và "nghiện ma túy" để tránh tình trạng áp dụng hai hệ thống pháp luật trên cùng một chủ thể pháp luật là người nghiện.

b) Đối với pháp luật về phòng, chống mại dâm:

Cần có các quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của các chủ thể pháp luật như chủ nhà hàng, khách sạn, các địa điểm vui chơi, giải trí... trong việc tổ chức biện pháp can thiệp giảm tác hại bằng bao cao su để tạo sự thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS cũng như nâng cao hiệu quả của các hoạt động can thiệp.
2. Về tổ chức triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV

2.1. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV, trong đó tập trung vào việc xây dựng kỹ năng cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về can thiệp giảm tác hại.

2. 2. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về can thiệp giảm tác hại trong đó cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng của các thông điệp, tài liệu truyền thông; tiếp tục đa dạng hóa các hình thức truyền thông bảo đảm tính phù hợp với từng nhóm đối tượng.

2. 3. Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các mô hình tổ chức triển khai các hoạt động cung cấp bao cao su và bơm kim tiêm sạch bảo đảm tính phù hợp với từng nhóm đối tượng.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt:

  1. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2011), “Báo cáo công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam thời gian qua”, Hà Nội.

  2. Bộ Y tế (2004), Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS.

  3. Bộ Y tế (2011), Báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu

năm 2012”, Hà Nội.

  1. Chính phủ (2007), Nghị định số 108/2007/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chi tiết thi thành một số điều của Luật phòng, chống Virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), Hà Nội

5. Trường Đại học Y khoa Hà Nội (1995), Nhiễm HIV/AIDS: Y học cơ sở,

lâm sàng và phòng chống, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.32-178.



  1. UNODC (2009) “Báo cáo hoạt động phòng chống ma túy trên toàn cầu

năm 2008”, Hà Nội.
Tài liệu tiếng Anh:

7. Asamoah-Odei E, Garcia-Calleja JM & Boerma T (2004). “HIV

prevalence and trends in sub-Saharan: no decline and large subregional

Differences” Lancet, 364:35-40.

8. AIDS Center of the South-Kazakhstan Oblast (2007). Presentation to the

national meeting on universal access to ART treatment and testing services.

3-4 September.Astana.

9. AIDS Foundation East- West (2007), Officially registered HIV cases by

region of the Russian Federation – 1 January 1987

10. Booth RE, Kwiatkowski CF, Brewster JT (2006). Predictors of HIV sero-

status among drug injectors at three Ukraine sites.AIDS, 20(17): 2217-

2223


11. Choi KH et al.(2007).The influence of social and sexual networks in the

spread of HIV and syphilis among men who have sex with men in

Shanghai, China.Journal of Acquired Immune Deficiency Syndromes,

45(1):77-84

12. Dourado I et al.(2007).HIV-1 seroprevalence in the general population of Salvador, Bahia State, Northeast Brazil.Cadernos de Sausde Pusblica, 23 (1): 25-32.

13. Emmanuel F, Archibald C, Altaf A (2006). What drives the HIV epidemic among injecting drug users in Pakistan: a risk factor analysis.Abstract MOPE0524.XVI International AIDS conference.13-18 August.Toronto.

14. Euro HIV (2007).HIV/AIDS surveillance in Europe:end-year report

2006, No.75.Saint-Maurice, Institut de Veille Sanitaire

15. Hallett TB et al.(2006). Declines in HIV prevalence can be associated

with changing sexual behaviour in Uganda, urban Kenya, Zimbabwe, and urban Haiti.Sexually Transmitted Infections, 82 (Suppl.I): il-i8.

16. Hamers F.F. (2006), HIV/AIDS in Europe : trends in EU-wide

priorities, Eurosurveillance, 11 (11)

17. Health Protection (2007) HIV and AIDS in the United Kingdom

update: data to the end of March 2007. Health Protection Report, 1 (17).

18. Inciardi JA, Syvertsen JL, Surratt HL (2005). HIV/AIDS in the

Caribbean Basin. AIDS Care, 17 (Suppl.1): S9- S25.

19. Kumar R et al (2005). HIV-1 trends, risk factors and growth in India.

National Commission on Macroeconomics and Health (NCMH) Background Papers – Burden of Disease in India. September. New Delhi, Ministry of Health & Family Welfare.

20. Ladnaya NN (2007). The national HIV and AIDS epidemic and HIV

surveillance in the Russian Federation. Presentation to “Mapping the AIDS Pandemic” meeting. 30 June. Moscow.

21. Ministry of Health and Sanitation. Sierra Leone (2007). Antenatal HIV

and syphilis sentinel surveillance (2006). Freetown.

22. Ministry of Health China (2006). 2005 update on the HIV/AIDS

epidemic and response in China. Beijing, Ministry of Health China, UNAIDS, WHO.

23. Ministry of Health Pakistan (2005). National study of reproductive

tract and sexually transmitted infections: Survey of high risk groups in Lahore and Karachi, March-August 2004. Islamabad.

24. Ministry of Health Belarus (2007). HIV epidemic situation in the

Republic of Belarus in 2006. Information Bulletin, 24 Minks.

25. Ministry of Health Kazakhstan et al.(2005). Rusults of investigation

of the real situation with drug abuse in Kazakhstan. Almaty (in

Russian).

26. Ministry of Health New Zealand (2007). AIDS in New Zealand. Issue 59. Auckland. Available at http://moh.govt.nz/moh.nsf/indexmh/aids-nzissue 59

27. National AIDS Programme Myanmar (2007). Sentinel Survey Data for March-April 2006. Yangon.

28. National AIDS Program Argentina (2005). Epidemiological surveillance report. . December. Buenos Aires.

29. National Center for HIV/AIDS, Dermatology and STIs (2007). HIV

Sentinel surveillance (HSS) 2006/2007: reslts, trends and estimates. Phnom Penh.

30. National Centre in HIV HIV Epidemiology and Clinical Research

(2006). HIV/AIDS, viral hepatitis and sexually transmissible infections in Australia; annual surveillance report 2006, Sydney.

31. National Centre in HIV Epidemiology and Clinical Research (2007).

Australian HIV Surveillance Report, 23 (1). January.

32. PAHO (2007). AIDS in the Americas: the evolving epidemic, response

and challenges ahead. Washington, DC.

33. Public Health Agency of Canada (2006). HIV and AIDS in Canada:

surveillance report to June 30,2006. Ottawa. Available at: www.phac-aspc.gc.ca/aids-sida/publiccation/index.html surveillance.

34. Prestage G et al.(2006). Trends in unprotected anal intercourse among

Sydney gay men. Abstract WEPE0721. XVI. Internationl AIDS

Conference. 13-18 August. Toronto.

35. Russian Federal AIDS Centre (2007), Officially registered HIV cases

in Russian Federation: 1 January 1987 – 31 December 2006, 14

Febreuary, Moscow, AIDS Foundation East West.

36. Soto RJ et al. (2007). Sentnel surveillance of sexually transmitted

infection/HIV and risk behaviours in velnerable population in five Central American countries. Journa of Acquired Immune Deficiency Syndromes. Ahead of print.

37. UNAIDS (2007). Comparing adult antenatal-clinic based HIV

prevalence with prevalence from national population based surveys in

sub-Saharan Africa. UNAIDS presentation. Accessed 17 November 2007 at http://data.unaids.org/pub/Presentation/2007/surey_anc_2007_en.pdf.

38. UNAIDS/WHO (2006). AIDS epidemic update: December 2006.

UNAIDS, Geneva 2006. UNAIDS/06.29E. ISBN9291735426.

39. UNAIDS (2008). Report on the global AIDS epidemic. Geneva.

40. US Centers for Disease Control and Prevention (2007a). HIV/AIDS

surveillance report: cases of HIV infection and AIDS in the United

States and dependent areas, 2005. Vol.17.Revised June 2007. Atlanta.

41. UNAIDS (2007). Report on the global AIDS epidemic. Geneva.

42. Van Griensven F et al. (2006).HIV prevalence among populations of

men who have sex with men – Thailand, 2003 and 2005. Morbidity and Mortality Weekly Report, 55 (31): 844-8.August 11.

43. WHO (2007). HIV/AIDS in the South-East Asia region.March. New

Delhi, WHO Regional Office for South-East Asia. http://www.searo.who.int/hiv-aids



  1. WHO, UNAIDS, UNICEF (2007). Towards universal access: scaling up priority HIV/AIDS interventions in the health sector: progress report. April.Geneva.



1 IBBS 2009 thực hiện tại 10 tỉnh trên nhóm TCMT và GMD và 4 tỉnh với nhóm MSM


1   2   3   4   5   6   7   8


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương