BÀi thuyết trình cách xáC ĐỊnh và chế ĐỘ pháp lý CỦa các vùng biển theo công ưỚc của liên hiệp quốc về luật biển năM 19821



tải về 262.64 Kb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu06.07.2016
Kích262.64 Kb.
1   2   3

II. CÁC VÙNG BIỂN THUỘC QUYỀN CHỦ QUYỀN QUỐC GIA

1. Vùng tiếp giáp lãnh hải


1.1. Khái niệm và cách xác định vùng tiếp giáp lãnh lải

Trong quá trình hoạch định biển, các nước ven biển không thể mở rộng vô hạn độ các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia (nội thủy - lãnh hải). Tuy nhiên, với việc thiết lập các vùng biển này tương đối hẹp, nhất là trước đây lãnh hải chỉ được phép mở rộng trong phạm vi 3 hải lý nên các nước ven biển nhận thấy quyền và lợi ích của họ thường xuyên bị đe dọa về nhiều mặt từ phía biển cả (biển quốc tế). Chính vì vậy, dần dần nhiều quốc gia ven biển đã lập ra những vùng đặc biệt, tiếp giáp với lãnh hải nhằm bảo vệ lợi ích của họ trong các lĩnh vực như thuế quan, y tế, nhập cư, bảo vệ tài nguyên và nhất là an ninh quốc phòng của quốc gia trên biển. Từ đó, cộng đồng quốc tế đã đi đến thảo luận và hình thành dần vùng tiếp giáp trong Luật biển từ Hội nghị La Hay năm 1930 và chính thức được ghi nhận trong Công ước Giơnevơ năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải40.

Việc thiết lập vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng của nhiều nước ven biển trong việc bảo vệ lợi ích của họ về các mặt trên và đồng thời cũng là để thỏa mãn phần nào khuynh hướng đòi mở rộng lãnh hải nhưng không được chấp nhận.

Theo khoản 2, Điều 33 Công ước 1982: “Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải”.

Như vậy, muốn xác định được vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển phải xác định đường cơ sở và chiều rộng của lãnh hải. Đối với những quốc gia quy định lãnh hải rộng 12 hải lý thì vùng tiếp giáp lãnh hải của họ có chiều rộng thực tế tối đa là 12 hải lý và hợp với lãnh hải thành vùng biển có chiều rộng 24 hải lý. Và ngược lại, vùng tiếp giáp lãnh hải có thể rộng hơn 12 hải lý nếu nước ven biển quy định chiều rộng của lãnh hải rộng hơn 12 hải lý.

Theo Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam quy định: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam41 ”(đoạn 1, điểm 2).



1.2 Chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải

Vùng tiếp giáp lãnh hải không phải là lãnh thổ của quốc gia ven biển cũng không phải là một bộ phận của biển quốc tế. Chính vì vậy, vùng tiếp giáp lãnh hải khác về bản chất so với lãnh hải. Nếu như lãnh hải là một bộ phận cấu thành của lãnh thổ quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của quốc gia thì vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển.



Về quyền tài phán, quốc gia ven biển được thực hiện trong một số lĩnh vực nhất định được pháp luật quốc tế thừa nhận nhằm:

- Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình.

- Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình42.

Xuất phát từ các quy định nói trên của Công ước 1982, thẩm quyền của quốc gia ven biển trên vùng tiếp giáp lãnh hải được coi là quyền mang tính “cảnh sát” nhằm bảo vệ lãnh hải và nội thủy quốc gia ven biển. Mặt khác, theo quy định tại Điều 303 Công ước 1982, quốc gia ven biển sẽ có quyền đối với các hiện vật khảo cổ và lịch sử được phát hiện ở vùng tiếp giáp lãnh hải, theo đó “quốc gia ven biển có thể coi việc lấy các hiện vật đó từ đáy biển trong vùng nói tại điều đó mà không có sự thỏa thuận của mình là sự vi phạm các luật và quy định của quốc gia ven biển ở trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình, đã được nêu tại Điều 33” (khoản 2).

Theo Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam quy định: “Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam”(đoạn 2, điểm 2).

Nghị định 30-CP ngày 29-1-1980 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về chế độ hoạt động của tàu thuyền nước ngoài tại các vùng biển của Việt Nam quy định: “Tàu thuyền quân sự (bao gồm cả tàu chiến và tàu bổ trợ) muốn vào vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam phải xin phép Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (qua đường ngoại giao) ít nhất 30 ngày trước, và sau khi được phép vào, phải thông báo cho nhà đương cục quân sự Việt Nam (qua Bộ Giao thông vận tải nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) 48 giờ trước khi bắt đầu đi vào vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam” (điểm c, Điều 3).



Về quyền chủ quyền kinh tế, trong vùng tiếp giáp lãnh hải. Xuất phát từ vị trí của vùng tiếp giáp lãnh hải, khi xác định chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế đã bao trùm luôn cả vùng biển này. Mặt khác, bên cạnh chế độ pháp lý mà Công ước 1982 đã quy định tại Điều 33, thì toàn bộ chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế, đặc biệt là quyền chủ quyền về kinh tế của quốc gia ven biển cũng được áp dụng cho vùng tiếp giáp lãnh hải mà không có bất kỳ ngoại lệ nào. Chính vì vậy, có thể nói rằng, vùng tiếp giáp lãnh hải là một bộ phận của vùng đặc quyền kinh tế. Các quyền chủ quyền của quốc gia ven biển về kinh tế chúng tôi sẽ đề cập trong vùng đặc quyền kinh tế.

2. Vùng đặc quyền kinh tế


2.1 Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế

Vùng đặc quyền kinh tế là một vấn đề mới được đặt ra trong thực tiễn pháp lý quốc tế từ những năm 70 của thế kỷ XX tại Hội nghị về Luật biển quốc tế lần thứ III. Vùng biển này ra đời xuất phát từ lợi ích, nhu cầu của các nước đang phát triển có biển đấu tranh nhằm mở rộng quyền của mình trong lĩnh vực kinh tế, về bảo tồn, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Trái lại, các nước công nghiệp phát triển lại tỏ ra chống đối khuynh hướng này vì việc thiết lập vùng đặc quyền kinh tế thì lợi ích của các quốc gia này bị giảm xuống do biển quốc tế sẽ bị thu hẹp lại.

Về phương diện lịch sử, có thể nói rằng, sau Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Truman ngày 28-9-1945 đơn phương xác lập thềm lục địa để giành quyền khai thác tài nguyên trên vùng biển đó, nhiều nước Mỹ La tinh (Nam Mỹ), đặc biệt là các nước ở ven Thái Bình Dương, do không có điều kiện xác lập thềm lục địa hoàn chỉnh (thềm lục địa của các quốc gia này rất hẹp), đã phản ứng lại bằng cách thiết lập một vùng biển mới gọi là “vùng biển tài sản quốc gia43” để thiết lập chủ quyền và quyền tài phán của mình trên vùng biển này. Từ năm 1947, ba nước ven Thái Bình Dương là Pêru, Êcuađo, Chilê đã ban hành luật quốc gia đơn phương thiết lập quyền tài phán của họ trên vùng biển này. Khuynh hướng này tiếp tục được mở rộng đến các quốc gia Mỹ La tinh khác (Vênêxuêla, Argentina, Brazil..,) cũng như các nước Á Phi (như Êtiôpia, Xômali, Kênia...) với tham vọng thiết lập một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở là lãnh thổ trên biển của quốc gia44.

Theo quy định tại Điều 55 và Điều 57 của Công ước 1982, vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm bên ngoài lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng. Vùng đặc quyền kinh tế không được mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải.

Cũng như các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia khác, muốn xác định được chiều rộng pháp lý45 và chiều rộng thực tế46 của vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển phải xác định đường cơ sở và chiều rộng của lãnh hải.

Đối với Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định chính thức trong Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, theo đó: “Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam47” (đoạn 1, điểm 3).

Với Tuyên bố này, Việt Nam cùng với Kenya, Myanma, Cuba, Yemen, Dominic, Guatemala, Ấn Độ, Pakixtan, Mêhicô, Seychelles được coi là những quốc gia tiên phong trong việc đưa khái niệm vùng đặc quyền kinh tế trở thành khái niệm có giá trị tập quán trước khi Công ước được ký kết và có hiệu lực. Đồng thời, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á tuyên bố thiết lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý48.

2.2 Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế

Nghiên cứu các quy định của Công ước 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế tồn tại hai nhóm quyền của hai nhóm quốc gia khác nhau đó là quốc gia ven biển và các quốc gia khác, kể cả quốc gia không có biển và quốc gia bất lợi về địa lý. Đặc điểm này của vùng đặc quyền kinh tế đã được quy định cụ thể tại Công ước 1982: Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh49”.



a) Quyền của quốc gia ven biển

* Quyền chủ quyền

Theo quy định tại Điều 56 Công ước 1982, quốc gia ven biển có các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hay không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển50, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió51.

Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển về tài nguyên sinh vật52 được thực hiện thông qua các quyền sau đây:

- Quyền ấn định khối lượng đánh bắt có thể chấp nhận đối với tài nguyên sinh vật (khoản 1, Điều 61);

- Thi hành các biện pháp thích hợp để bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật53 (khoản 2, Điều 61);

- Xác định khả năng đánh bắt của mình để ấn định số dư của khối lượng cho phép đánh bắt (khoản 2, Điều 62);

Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền về kinh tế của Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền về kinh tế nhằm mục đích kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền về kinh tế của Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam” (đoạn 2, điểm 3).

* Quyền tài phán

Theo quy định của Công ước 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền tài phán về:

- Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị công trình;

- Nghiên cứu khoa học về biển;

- Bảo vệ và giữ gìn môi trường biển;

- Các quyền và các nghĩa vụ khác do Công ước quy định (điểm b, c, khoản 1, Điều 56).

Các quyền tài phán trong các lĩnh trên đây của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế được cụ thể hóa trong các điều khoản tiếp theo của Công ước 1982.

Ngoài ra, Công ước 1982 cũng quy định, khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo Công ước 1982, quốc gia phải tính đến các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác và hành động phù hợp với Công ước (khoản 2, Điều 56).



- Quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế

Theo quy định tại Điều 58 Công ước 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, bên cạnh thừa nhận và xác lập các quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia ven biển, Công ước còn dành cho tất cả các quốc gia có biển hay không có biển được hưởng một số quyền sau đây:

+ Tự do hàng hải

+ Tự do hàng không

+ Đặt dây cáp và ống dẫn ngầm.

+ Sử dụng biển vào những mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước, nhất là trong khuôn khổ việc khai thác các tàu thuyền, phương tiện bay và dây cáp, ống dẫn ngầm.

Các quốc gia khác muốn nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển phải được sự đồng ý của quốc gia ven biển. Đồng thời, khi hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế các quốc gia khác phải tôn trọng luật pháp của quốc gia ven biển và những quy định của luật pháp quốc tế.

Đặc biệt, Công ước 1982 đã dành cho các quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý54 được quyền tham gia vào việc khai thác số cá dư trong các vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển cùng phân khu vực hoặc khu vực. Tuy nhiên, quyền này chỉ được thực hiện khi quốc gia ven biển không có khả năng khai thác hết sản lượng cá, và cho phép nước ngoài vào đánh bắt số cá thừa theo những điều kiện được các bên hữu quan thỏa thuận.

Như vậy, các quốc gia muốn vào khai thác số cá dư trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ven biển nếu đáp ứng được bốn điều kiện sau:

- Quốc gia đó là quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý;

- Quốc gia đó phải có vị trí địa lý trong cùng phân khu vực hoặc khu vực với quốc gia ven biển;

- Quốc gia ven biển không có khả năng đánh bắt hết sản lượng cá có thể đánh bắt (có cá dư);

- Được quốc gia ven biển chấp nhận thông qua việc ký kết điều ước quốc tế hoặc các thỏa thuận khác55.

Phù hợp với Công ước 1982, quốc gia ven biển có quyền đề ra trong các luật và quy định về các vấn đề sau đây được quy định chi tiết tại Điều 62.

a) Cấp giấy phép cho ngư dân hay tàu thuyền và phương tiện đánh bắt, kể cả việc nộp thuế hay mọi khoản phải trả khác liên quan đến đánh bắt hải sản (điểm a, khoản 4);

b) Quy định chủng loại cho phép đánh bắt và ấn định tỷ lệ phần trăm, hoặc là đối với đàn cá (stocks) hay các nhóm đàn hải sản riêng biệt hoặc đối với số lượng đánh bắt của từng chiếc tàu trong một khoảng thời gian nhất định, hoặc là đối với số lượng đánh bắt của các công dân của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (điểm b, khoản 4);

c) Quy định các mùa vụ và các khu vực đánh bắt, kiểu, cỡ và số lượng các phương tiện đánh bắt, cũng như kiểu, cỡ và số lượng tàu thuyền đánh bắt có thể được sử dụng (điểm c, khoản 4);

d) Ấn định tuổi, cỡ cá và các sinh vật khác có thể được đánh bắt (điểm d, khoản 4);

e) Các thông tin mà tàu thuyền đánh bắt phải báo cáo, đặc biệt là những số liệu thống kê liên quan đến việc đánh bắt và sức đánh bắt và thông báo vị trí của các tàu thuyền (điểm e, khoản 4);

f) Nghĩa vụ tiến hành, với sự cho phép và dưới sự kiểm soát của quốc gia ven biển, các chương trình nghiên cứu nhất định về đánh bắt và việc quy định cách thức tiến hành các chương trình nghiên cứu này, kể cả việc lấy mẫu cách thức đánh bắt được, nơi nhận các mẫu và việc thông báo các số liệu khoa học có liên quan (điểm f, khoản 4);

g) Việc quốc gia ven biển đặt các quan sát viên hay thực tập sinh trên các tàu thuyền đó (điểm g, khoản 4);

h) Bốc dỡ toàn bộ hay một phần các sản phẩm đánh bắt được của tàu thuyền đó ở các cảng của quốc gia ven biển (điểm h, khoản 4);

i) Các thể thức và điều kiện liên quan đến các xí nghiệp liên doanh hoặc các hình thức hợp tác khác (điểm i, khoản 4);

j) Các điều kiện cần thiết về mặt đào tạo nhân viên, về chuyển giao kỹ thuật trong lĩnh vực đánh bắt hải sản, kể cả việc đẩy mạnh khả năng nghiên cứu nghề cá của quốc gia ven biển (điểm j, khoản 4);

k. Các biện pháp thi hành và các biện pháp khác (điểm k, khoản 4).

3. Thềm lục địa


3.1. Khái niệm và cách xác định thềm lục địa

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nhu cầu về năng lượng phục vụ cho sự phát triển của các quốc gia sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Chính vì vậy, vấn đề khai thác tài nguyên ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển tiếp giáp bờ biển được rất nhiều quốc gia quan tâm. Từ nhu cầu đó, vấn đề về thềm lục địa được đặt ra và được trở thành một chế định quan trọng trong Luật biển quốc tế.

Thềm lục địa đã được ghi nhận trong Hội nghị về Luật biển tại Giơnevơ lần thứ nhất năm 1958. Hội nghi này đã thông qua Công ước về thềm lục địa và đến Hội nghị Luật biển lần thứ ba, thềm lục địa lại một lần nữa được ghi nhận trong Công ước năm 1982. Theo khoản 1, Điều 76 Công ước 1982 thềm lục địa được định nghĩa như sau:

Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần đất kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn”.

Đối với Việt Nam, là một quốc gia có bờ biển dài hơn 3.200km chính vì vậy chúng ta cũng có một thềm lục địa tương ứng với địa hình của bờ biển. Theo Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977 về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam quy định: “Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó” (đoạn 1, điểm 4). Đối với các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam ở ngoài vùng lãnh hải đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng như đã quy định trong Tuyên bố này (điểm 5).

Theo định nghĩa được quy định tại khoản 1, Điều 76 Công ước 1982, chiều rộng của thềm lục địa có thể được xác lập theo hai giới hạn sau đây:

- Thứ nhất, nếu thềm lục địa của quốc gia ven biển có chiều rộng hẹp hơn hoặc bằng 200 hải lý tính từ đường cơ sở để đo chiều rộng của lãnh hải thì quốc gia ven biển tuyên bố thềm lục địa của mình rộng 200 hải lý;

- Thứ hai, nếu thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng hơn 200 hải lý, đến bờ ngoài của rìa lục địa. Trong trường hợp này, quốc gia ven biển xác định bờ ngoài của rìa lục địa bằng những cách sau đây theo khoản 3 của Điều 76:

- Một đường nối liền các điểm cố định ngoài cùng mà ở đó độ dày của lớp trầm tích bằng ít nhất 1% khoảng cách giữa điểm đó với chân dốc thềm lục địa;

- Một đường nối liền các điểm cố định cách chân dốc lục địa nhiều nhất là 60 hải lý;

Theo khoản 5, Điều 76, các điểm cố định xác định trên đáy biển, đường ranh giới ngoài của thềm lục địa, nằm cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải một khoảng cách không vượt quá 350 hải lý hoặc nằm cách đường đẳng sâu 2500m là đường nối liền các điểm có độ sâu trung bình 2500m, một khoảng cách không quá 100 hải lý.

Tóm lại, theo quy định tại Điều 76 Công ước 1982 nếu thềm lục địa không rộng (nhỏ hơn hoặc bằng 200 hải lý) thì các quốc gia có quyền tuyên chiều rộng tối đa của thềm lục địa quốc gia mình là 200 hải lý (trong trường hợp này chiều rộng của thềm lục địa sẽ bằng chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế); nếu thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng hơn 200 hải lý thì có thể xác định ranh giới phía ngoài của thềm lục địa bằng hai cách:

- Chiều rộng tối đa của thềm lục địa là 350 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để đo chiều rộng của lãnh hải hoặc;

- Kéo dài thêm 100 hải lý tính từ đường nối những điểm ở độ sâu 2500 m.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, với giải pháp công bằng, Công ước 1982 đã ưu tiên cho những quốc gia có thềm lục địa hẹp (nhỏ hơn 200 hải lý) sẽ được kéo dài thềm lục địa của mình bằng 200 hải lý. Đối với những quốc gia có thềm lục địa rộng (lớn hơn 200 hải lý) thì thềm lục địa của quốc gia đó rộng bao nhiêu sẽ được tuyên bố bấy nhiêu nhưng tối đa không được vượt quá 350 hải lý hoặc không được vượt quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2500m.



3.2 Chế độ pháp lý của thềm lục địa

Cũng như vùng đặc quyền kinh tế, ở thềm lục địa của quốc gia ven biển tồn tại song song quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển và quyền, nghĩa vụ của các quốc gia khác.



a) Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển

Theo Điều 77 Công ước 1982, trong vùng thềm lục địa quốc gia ven biển có các quyền thuộc chủ quyền sau đây:

1. Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình.

2. Các quyền nói ở khoản 1 có tính chất đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa, thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của các quốc gia đó.

3. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào...”

Như vậy, có thể kết luận rằng, đây là các quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa của mình chứ không phải là chủ quyền. Các quyền chủ quyền mà quốc gia ven biển có được trên thềm lục địa của mình xuất phát từ chủ quyền trên lãnh thổ đất liền. Bởi lẽ, thềm lục địa chính là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền. Mặt khác, các quyền chủ quyền này mang tính “đặc quyền”, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm dò, khai thác tài nguyên sinh vật, vi sinh vật trên thềm lục địa của mình thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động đó. Và cuối cùng, các quyền này tồn tại đương nhiên và ngay từ đầu ipso facto and ab initio56đó là quyền không thể chuyển nhượng và không thể mất hiệu lực đối với quốc gia ven biển. Các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào việc thực hiện nó hiệu quả hay không. Nó tồn tại không cần một tuyên bố đơn phương nào. Điều này khác với vùng đặc quyền kinh tế, bắt buộc phải có một tuyên bố đơn phương từ quốc gia ven biển57.



b) Quyền tài phán của quốc gia ven biển

Theo quy định của Công ước 1982, quốc gia ven biển có các quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên thềm lục địa, quyền tài phán về nghiên cứu khoa học biển, quyền tài phán về bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Cụ thể:

- Một là, quyền tiến hành đặt và cho phép đặt các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình thềm lục địa.

Công ước 1982 đã đồng nhất hóa các điểm liên quan giữa các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trong vùng đặc quyền kinh tế tại Điều 60 với các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên thềm lục địa ở Điều 80. Chính vì vậy, Điều 80 Công ước 1982 quy định: “Điều 60 áp dụng mutatis mutandis (với những sửa đổi cần thiết về chi tiết) đối với các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình ở thềm lục địa”. Sự đồng nhất này là cần thiết, bởi vì mối liên hệ không thể tách rời giữa vùng đặc quyền kinh tế với thềm lục địa.

Thực chất, lắp đặt, xây dựng đảo nhân tạo và các thiết bị, công trình khác như dây cáp, ống dẫn ngầm ở vùng đặc quyền kinh tế sẽ liên quan đến thềm lục địa. Mặt khác, quốc gia ven biển có quyền đặt ra các điều kiện đối với đường dây cáp hoặc ống dẫn đi vào lãnh thổ hay lãnh hải của mình, cũng như quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với dây cáp, ống dẫn được đặt hoặc sử dụng trong khuôn khổ thăm dò thềm lục địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình hoặc khai thác các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình thuộc quyền tài phán của quốc gia này58.

- Hai là, quyền tài phán về nghiên cứu khoa học biển

Quốc gia ven biển có quyền quy định, cho phép và tiến hành các công tác nghiên cứu khoa học biển trên thềm lục địa theo đúng các quy định của Công ước trên cơ sở thỏa thuận với quốc gia ven biển59. Thực hiện quyền tài phán này, cũng như ở vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền tùy ý mình không cho phép thực hiện một dự án nghiên cứu khoa học biển trên thềm lục địa của mình:

+ Nếu dự án có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên sinh vật và không sinh vật;

+ Nếu dự án có dự kiến công việc khoan trong thềm lục địa, sử dụng chất nổ hay đưa chất độc hại vào trong môi trường biển;

+ Nếu dự án dự kiến việc xây dựng, khai thác hay sử dụng các đảo nhân tạo, thiết bị công trình nhân tạo;

+ Nếu những thông tin được thông báo về tính chất và mục tiêu của dự án theo Điều 24860 không đúng hoặc nếu quốc gia hay tổ chức quốc tế có thẩm quyền, tác giả của dự án không làm tròn những nghĩa vụ đã cam kết với quốc gia ven biển61.

- Ba là, quyền tài phán về việc khoan ở thềm lục địa

Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và điều chỉnh việc khoan ở thềm lục địa với bất kỳ mục đích nào (Điều 81).

- Bốn là, quyền tài phán trong lĩnh vực bảo vệ và giữ gìn môi trường biển

Quốc gia ven biển có quyền tài phán trong lĩnh vực bảo vệ và giữ gìn môi trường biển ở thềm lục địa tương tự như trong vùng đặc quyền kinh tế nhằm ngăn ngừa, hạn chế, chế ngự ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán quốc gia62.

Bên cạnh việc được hưởng các quyền chủ quyền và quyền tài phán nói trên, quốc gia ven biển phải thực hiện một số nghĩa vụ sau đây:

Thứ nhất, nếu quốc gia ven biển có thềm lục địa rộng hơn 200 hải lý tính từ đường cơ sở phải xác định rõ tọa độ, thông báo các thông tin về các ranh giới ngoài của thềm lục địa cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa.

Theo thời hạn được Công ước 1982 quy định, đến ngày 13-5-2009 nếu quốc gia nào không đăng ký thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì quốc gia đó sẽ không có quyền khai thác thềm lục địa mở rộng của mình.

Việt Nam đã chính thức đăng ký thềm lục địa mở rộng ngoài phạm vi 200 hải lý tính từ đường cơ sở của mình cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa ngày 7-5-2009 với hồ sơ thềm lục địa riêng của Việt Nam khu vực Bắc Bộ (VNM-N). Theo bản đăng ký của Việt Nam, đây chỉ là bản đăng ký một phần, phần Trung Bộ (VNM-C) sẽ được xác định sau. Đây là một hành động pháp lý quan trọng của nhà nước Việt Nam nhằm bảo vệ quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa của mình, dựa trên những cơ sở khoa học cũng như lịch sử và bằng chứng pháp lý lâu đời của nước ta.

Trước đó, ngày 6-5-2009 Việt Nam nộp hồ sơ chung với Malayxia để đăng ký thềm lục địa chung liên quan đến hai nước phía nam biển Đông. Khi chúng ta nộp hồ sơ chung về thềm lục địa mở rộng với Malayxia, Trung Quốc và Philippin là hai nước đã gửi công hàm cho Tổng thư ký Liên hợp quốc để phản đối.



Thứ hai, quốc gia ven biển phải có nghĩa vụ đóng góp bằng tiền hoặc hiện vật về việc khai thác tài nguyên thiên nhiên không sinh vật của thềm lục địa nằm ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải (khoản 1, Điều 82).

Các khoản đóng góp này được nộp hàng năm theo toàn bộ sản phẩm đã thu được ở một điểm khai thác nào đó, sau 5 năm đầu khai thác. Có nghĩa là, trong thời gian 5 năm đầu khai thác, quốc gia sẽ được được miễn đóng góp. Từ năm thứ 6, tỷ lệ đóng góp là 1% của giá trị hay của khối lượng sản phẩm khai thác được, sau đó mỗi năm tăng lên 1% cho đến năm thứ 12 trở đi là 7%. Sản phẩm không bao gồm các tài nguyên được dùng trong khuôn khổ của việc khai thác63. Tuy nhiên, việc đóng góp này có ngoại lệ đối với các quốc gia đang phát triển là nước chuyên nhập khẩu một khoáng sản được khai thác từ thềm lục địa của mình sẽ được miễn các khoản đóng góp đối với loại khoáng sản đó. Các khoản đóng góp này sẽ được thực hiện thông qua cơ quan quyền lực; cơ quan này sẽ phân chia các khoản đó cho các quốc gia thành viên theo tiêu chuẩn công bằng, có tính đến lợi ích và nhu cầu của các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia chậm phát triển nhất hay các quốc gia không có biển64.



Thứ ba, khi thực hiện các quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình, quốc gia ven biển không được:

+ Làm ảnh hưởng đến chế độ pháp lý của vùng nước phía bên trên hay vùng trời bên trên của vùng nước này (nếu thềm lục địa rộng 200 hải lý thì vùng nước bên trên thềm lục địa là vùng đặc quyền kinh tế; nếu thềm lục địa rộng hơn 200 hải lý thì bên trên thềm địa bao gồm cả vùng đặc quyền kinh tế và một phần biển cả);

+ Không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự do khác của các quốc gia khác65 đã được Công ước thừa nhận66.

Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, theo đó “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư ở thềm lục địa Việt Nam” (đoạn 2, điểm 4).

Trong nhiều năm qua, đặt biệt là từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, chúng ta đã tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu, thăm dò, khai thác các loại tài nguyên khoáng sản và đặc biệt là dầu khí, cũng như thành lập các cụm khoa học, kinh tế và dịch vụ trên thềm lục địa Việt Nam, đặt dây cáp, ống dẫn ngầm để chứng minh và khẳng định quyền chủ quyền đối với thềm lục địa Việt Nam với cộng đồng quốc tế.

1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương