BÀI 3: LƯỢc sử VÀ quan đIỂm về ĐỨc phật theo đẠi chúng bộ



tải về 220.29 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu19.04.2018
Kích220.29 Kb.
BÀI 3: LƯỢC SỬ VÀ QUAN ĐIỂM VỀ ĐỨC PHẬT THEO ĐẠI CHÚNG BỘ (MAHĀSAGHIKA) VÀ 3 BỘ PHÁI TRỰC HỆ

(Tiết 7-10)

本 宗 末 宗 同 義 異 義 。 我 今 當 說 。 此 中 大 眾 部 。 一 說 部 。 說 出 世 部 。 雞 胤 部 。 本 宗 同 義 者 。 謂 四 部 同 說 。

Tông gốc và các chi nhánh có chỗ giống và cũng có chỗ khác. Nay tôi sẽ nói. Đại Chúng Bộ là tông gốc cùng với Nhất Thuyết Bộ, Thuyết Xuất Thế Bộ, Kê Dận Bộ có cùng quan điểm. Bốn bộ phái có quan điểm như vầy:

1. Sơ lược về các bộ phái:

- Đại Chúng Bộ và 3 chi phái có tất cả 48 quan điểm giống nhau trong 4 nhóm như đã nói ở bài 1.



- Đại Chúng Bộ:

Theo Thập Bát Bộ Luận, bộ này sở dĩ có tên như vậy, vì 2 lý do:

一 摩 訶 僧 祇 (此 言 大 眾 老 小 同 會 共 集 律 部 也) 。 二 體 毘 履 (此 言 老 宿 唯 老 宿 人 同 會 共 出 律 部 也). Một là Ma-ha Tăng-kỳ (Bộ này nói rằng đại chúng có già trẻ đã từng cùng nhau kiết tập bộ luật này); hai là Vinaya (Bộ luật này nói chỉ có những bậc kỳ túc trưởng lão từng đồng tham gia kiết tập và ban hành bộ luật này).

- Bộ Chấp Dị Luận cho rằng sau PNB 116 năm. Bhavya (Thanh Biện) trong Dị Bộ Tông Tinh Thích cho rằng sau 137 năm PNB (bản dịch của Nguyên Hồng). Xem thêm CBPPGTT, tr. 54.

* Xem Đại Chúng Bộ trong CBPPGTT, tr. 98-102).

Giáo điển: Họ cũng có đủ 3 tạng: Kinh, Luật và Luận. Sau này (sớm nhất là khoảng thế kỷ thứ V sau CN), tạng Chú được thêm vào thành 4 tạng. Kinh tạng được chia thành 5 bộ: Trường, Trung, Tạp, Tăng nhất và Tiểu. Hiện nay các kinh, luận không còn. Kinh Tăng Nhất A-hàm (Ekottarikāgama / Ekottara Āgama) trong Đại tạng chữ Hán hiện nay được cho là thuộc Đại Chúng Bộ.

- Kinh luật luận hiện còn:

(1) Ma-ha Tăng-kỳ Luật (Đại Tạng No. 1425, Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-bạt-đà-la (Buddhabhadra, Giác Hiền) cùng Sa-môn Pháp Hiển (337 – 442), đời Đông Tấn, Trung Quốc dịch sang Hán văn. Việt dịch: HT. Phước Sơn, 4 tập, 2000). Tăng gồm 218 giới, Ni gồm 290 giới. Hiện nay bộ luật này chỉ để tham khảo, không được giới Phật giáo ứng dụng trong thanh quy tự viện.

(2) Tăng Nhất A-hàm, lời tựa, CBPPGTH, tr. 100).

A-nan tự trình bày ý nghĩ:

Người ngu không tin hạnh Bồ-tát;

Trừ các La-hán tín giải thoát

Mới có tín tâm không do dự.

Bốn chúng đệ tử, phát đạo ý,

Cùng tất cả mọi loài chúng sanh;

Có lòng tin vững không hồ nghi.”

Di-lặc tán thán: “Khéo thuyết thay!

Phát tâm Đại thừa, ý quảng đại.”

Hoặc có các pháp, đoạn kết sử;

Hoặc có các pháp, thành quả đạo.”

(3) Kinh Xá Lợi Phất vấn kinh (T. 1465), (4) Kinh Phổ Diệu (Lalitavistara) là hai trong 9 kinh1 thuộc hệ Phương Đẳng được cho là thuộc bộ phái này.

5) Phật giáo sử (Taranatha – người Tây Tạng) do Ngài Thanh Biện kể lại.



- Đạo sư: (a) Bà-la-môn tên là Ca-diếp (Kaśyapa). (b) Lãnh tụ: Mahàdeva (Đại Thiên). Có lẽ Đại Thiên cũng chỉ là người thừa kế, nhưng 5 quan điểm của ông đã ảnh hưởng lớn lao đến bộ phái và sự phân hóa tư tưởng Phật giáo lúc bấy giờ.

- Huy hiệu: Cái tù và.

- Y: Được ghép từ 23-27 mảnh.

- Ngôn ngữ: Prakrit2 và Hybrid Sanskrit (Sanskrit lai tạo).

- Địa bàn hoạt động: Trú xứ đầu tiên ở miền Đông Magadha, tức là Pataliputra, sau mở rộng ở Mathura3, Karle, Kaboul (Afganistan ngày nay), rộng ra cả Nam Ấn Độ, và có cả đại biểu ở Sơn Tây – Trung Quốc.

- Thời gian hưng khởi và phát triển nhất : Từ thế kỷ thứ 2 sau PNB đến khoảng thế kỷ thứ 7 TL (Dựa theo Đại Đường Tây Vức ký của Ngài Huyền Trang và Phật Quốc ký của Ngài Pháp Hiển).

- Thời gian tồn tại: Sau Đức Phật nhập NB 100 năm, kéo dài đến thế kỷ thứ IX TL.

- Nhất Thuyết Bộ 一 說 部 (Ekavyāvahārikaḥ):

Dựa theo DBTLL do HT. Trí Quang dịch và khảo cứu (tr. 65) và Lịch sử Phật giáo Ấn Độ của HT. Thánh Nghiêm (tr. 183), tên của bộ này y vào tông nghĩa mà thành lập, cho rằng các pháp (Eka = nhất) thế gian và xuất thế gian đều là giả danh, không thực thể (thuyết).



Thập Bát Bộ Luận gọi bộ này là “Chấp Nhất Ngữ Ngôn Bộ” 執 一 語 言 部 bởi vì nó cùng với Đại Chúng Bộ có cùng quan điểm về cái « một » (Eka = nhất) .(所 執 與 僧 祇 同 故 言 一 也)

Theo CBPPGTT, tr. 147, cho rằng quan điểm 13 -14 là quan điểm để khẳng định tông chỉ của bộ phái này.

Quan điểm 13. 一 剎 那 心 了 一 切 法 。

[Chư Phật] trong một sát na tâm (ekasanikacitta) liễu tri tất cả các pháp (sarvadharma).

BCDL: 如 來 一 心 能 通 一 切 境 界 。

Quan điểm 14. 一 剎 那 心 相 應 般 若 知 一 切 法 。

[Chư Phật] trong một sát na tâm tương ưng với bát-nhã (prajñā), biết được tất cả các pháp.

BCDL: 如 來 一 剎 那 相 應 般 若 。 能 解 一 切 法。

- Theo Tāranātha4, Nhất Thuyết Bộ mất dần vị trí từ thế kỷ thứ 4 - 9 TL.

- Thuyết Xuất Thế Bộ (Lokottaravāda):

Thập Bát Bộ Luận gọi bộ này là Xuất Thế Gian Ngữ Ngôn Bộ 出 世 間 語 言 部. Sở dĩ [bộ này] gọi như vậy là vì [bộ này] ca ngợi Đức Phật như là bậc xuất thế (稱 讚 辭 也).

- Luận thư hiện còn: Mahāvastu (Đại sự) – một tập hợp truyện tiền thân của đức Phật (Jataka) viết bằng tiếng Sanskrit biến thể (Hybrid - Sanskrit).

- Những luận điểm trong DBTLL xác nhận đức Phật là một bậc siêu thế như luận điểm 1 đến 23, rất gần với quan điểm của một số kinh trong Phật giáo Đại thừa. Rõ ràng, tư tưởng của bộ phái này có thể được xem là nền tảng để Phật giáo Đại thừa hưng khởi, phát triển sau này.

- Ngài Huyền Trang cho chúng ta biết trú xứ của phái này nằm ở vùng Bamiyan ở Afganistan (nơi có những pho tượng Phật khổng lồ bị nhóm khủng bố Taliban dùng đại bác bắn nát vào năm 2001). Xem Đại Đường Tây Vức Ký.



- Kê Dận Bộ 雞 胤 部 (Gokulika, thuộc loại bò; Kaukkutika, quan hệ với loại gà (Kê Túc Sơn); Kukkutika, liên hệ đến tro): Ngài Buddhaghosa cho rằng đó là tên riêng của một Bà-la-môn.

Theo Thập Bát Bộ Luận, bộ này còn gọi là Cao câu lợi bộ (高 拘 梨 部). Sở dĩ nó có tên như vậy là vì dựa vào tên của vị sáng lập tông này (是 出 律 主 姓 也). Bộ Chấp Dị Luận cho rằng bộ này có tên là  "Khôi Sơn Trụ Bộ"  (灰 山 住 部).

Ngài Chân Đế trong Bộ Chấp Dị Luận Dị Bộ Tông Luân Luận Thuật Ký của ngài Khuy Cơ nói rằng bộ phái này đặt nặng Luận tạng hơn là Luật tạng và Kinh tạng, vì Luận trình bày thắng nghĩa của Phật, còn Kinh và Luật chỉ là phương tiện (upàya). Như vậy, bộ phái này có tư tưởng giống như những người theo khuynh hướng luận thư của Phật giáo Myanmar.

Bộ phái này biến mất vào khoảng thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ IX TL và có lẽ sát nhập vào Đại thừa.



2. Quan điểm về Đức Phật (1-15)

1. 諸 佛 世 尊 皆 是 出 世 。

Chư Phật Thế Tôn đều là những bậc siêu xuất thế gian.

Buddhas are all supramundane (lokottara)

TBBL: 佛 世 尊 一 切 出 世 間。

BCDL: 一 切 佛 世 尊 出 世 。

2. 一 切 如 來 無 有 漏 法 。

Tất cả các đức Như Lai không còn pháp hữu lậu.

There are no sàsrava-dharmas in all the Tathàgatas.

TBBL: 無 有 如 來 是 世 間 法。

BCDL: 無 有 如 來 一 法 而 是 有 漏 。

3. 諸 如 來 語 皆 轉 法 輪 。

Lời nói của chư Như Lai đều là chuyển pháp luân.

All the speeches of the Tathàgatas are preaching the righteous law.

TBBL: 如 來 一 切 說。 皆 是 轉 法 輪。

BCDL: 如 來 所 出 語 皆 為 轉 法 輪 。

Trên thật tế, lời nói của chư Như Lai có khi chuyển pháp luân, có khi thì không. Những thường ngữ của chư Như Lai trong đời sống hàng ngày như khi trao đổi hay hỏi thăm các vị đệ tử, ví dụ, “Sao ngoài kia lại ồn vậy?” , “Ta bị đau lưng, ông hãy vì đại chúng thuyết giảng pháp hữu học”, “hãy nhân danh ta, mời ông/ Tỳ-kheo... lên gặp..” v.v... không nhất thiết là “chuyển pháp luân”.

4. 佛 以 一 音 說 一 切 法 。

Đức Phật dùng một âm thanh nói tất cả pháp.



The Buddha expounds all doctrines with a single utterance.

TBBL: 盡 說 一 切 事 一 切 相 一 切 義。

BCDL: 如 來 一 音 能 說 一 切 法 。

* Đại Trí Độ Luận (HT. Thích Quảng Độ dịch), Phật Quang Đại Từ Điển, NXB. Hà Nội, Hội VHGD Linh Sơn, Đài Bắc, 2000) quyển 4, Phạm âm vi diệu của Phật có 5 đặc tính sau:


  1. Thứ nhất là rền vang như sấm, nghĩa là âm thanh của Phật phát ra vang dội rất xa.

  2. Thứ hai là trong suốt vang xa, người nghe đều vui mừng.

  3. Thứ ba là khiến người nghe sanh tâm kính ái.

  4. Thứ tư là rõ ràng dễ hiểu.

  5. Thứ năm là người muốn nghe mãi, không cảm thấy chán.

* Tướng giọng nói của đức Thế Tôn có 8 đặc tính như sau: 1) Rõ ràng, 2) Dễ nghe, 3) Êm ái, 4) Khả ái, 5) Tròn, 6) Gọn vừa, 7) Sâu lắng, 8) Vang dội.

5. 世 尊 所 說 無 不 如 義 。

Không có lời nói nào của Thế Tôn đều không thật nghĩa.

There is nothing, what is not in conformity with the truth, in which has been preached by the World- Honourned One.

TBBL: không có.

BCDL: 如 來 語 無 不 如 義

Điều này ngược lại một số lời trong kinh điển Đại thừa cho rằng, lời nói của Phật có khi liễu nghĩa (Đại thừa) và có khi không liễu nghĩa (A-hàm/ kinh điển Tiểu thừa). Liễu nghĩa là nghĩa rốt ráo, chúng ta có thể hiểu là tương đương với danh từ “chân đế” (paramartha-satya/ paramattha sacca), và bất liễu nghĩa tương đương với danh từ “tục đế”  (samvrti-satya / sammutti Sacca) trong văn hệ Sanskrit và Pali.

6. 如 來 色 身 實 無 邊 際 。

Sắc thân của Như Lai không có giới hạn.



The Rùpakàya of the Tathàgatas is indeed limitless.

TBBL: 說 如 來 色 無 邊。

BCDL: 如 來 色 身 無 邊 。

Thật ra, sắc thân thì phải có giới hạn. Vì sắc thân là pháp hữu vi, dầu là nơi tụ hội của vô lượng phước báu với 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp (báo thân) nhưng vẫn nằm trong vòng sanh diệt, nên vẫn bị chi phối bởi bệnh, lão, tử. Kinh điển Nikaya thể hiện rõ điều này. Ngài vẫn bị đau lưng, đau kiết lị, vẫn bị đá của Devadatta xô làm trầy xước.

Cách lý giải của THB trong Chú giải Dị Bộ Tông Luân Luận (tr. 37) không sát với nội dung quan điểm trong DBTLL. Rằng: “Chư Phật và Bồ-tát vì sự nghiệp độ sanh, cho nên thân tướng của Ngài được thị hiện nhiều thân tướng khác nhau”. Cách lý giải trên có vấn đề, vì Sắc thân (rùpakàya) là thân hình tướng con người và ứng hóa thân (nirmāṇakāya) là thân ứng hóa thị hiện của chư Phật.

7. 如 來 威 力 亦 無 邊 際 。

Oai lực của Như Lai cũng không có giới hạn.

The divine power of the Tathàgatas is also limitless.

TBBL: 光 明 無 量

BCDL: 如 來 威 德 勢 力 無 減 。

Câu chuyện đức Phật và dạ-xoa Avalaka trong Kinh Avalaka (Si, 218) thuộc Tương ưng X.12. Kinh này mô tả oai lực của Như Lai vô cùng tận, dù cho các hội chúng Sa-môn, Bà-la-môn, Phạm thiên, Ma vương... cũng không thể nào so bì với đức Phật, dù cho họ có muốn hãm hại đức Phật cũng không thể.

8. 諸 佛 壽 量 亦 無 邊 際 。

Thọ lượng của Như Lai cũng không có giới hạn.



The longevity of the Buddhas is also limitless.

TBBL: 壽 命 無 量。

BCDL: 如 來 壽 量 無 邊 。

Kinh Đại Bát-niết-bàn (16) thuộc Trường Bộ Kinh, đoạn đức Phật nói về tứ thần túc và thọ mạng vô lượng.Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc5, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc [dục, tinh tấn, định và tuệ], tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”.  



Kinh Tứ thập nhị chương, đức Phật nói: “Vị chứng quả A-la-hán có thể phi hành, biến hóa, kéo dài mạng sống ở đời, động cả đất trời”. (A-la-hán giả, năng phi hành biến hóa, khoáng kiếp thọ mạng, trụ động thiên địa).

9. 佛 化 有 情 令 生 淨 信 無 厭 足 心 。

Phật hóa độ các loài hữu tình khiến sanh lòng tịnh tín, [đức Phật] không có tâm chán ngán hoặc cảm thấy đủ.

The Buddha is never tired of enlightening sentient beings and awakening pure faith in them. (bản tiếng Anh không có cụm từ “cảm thấy đủ”).

HT.TQ: Đức Như Lai không có tâm lý thấy chán, thấy đủ trong sự giáo hóa chúng sanh cho họ có đức tin trong sáng.

TT.HB: Phật vì mục đích giáo hóa loài hữu tình khiến cho họ khởi lòng tin trong sạch (tịnh tín), và không sanh tâm nhàm chán (đối với Phật pháp).

TBBL: 念 信 樂 生 無 有 厭 足。

BCDL: 如 來 教 化 眾 生 。 令 生 樂 信 無 厭 足 心 。


  • Như vậy, căn cứ trên 3 bản dịch, người viết cho rằng, bản dịch của HT. Trí Quang và bản dịch của HT. Nhất Hạnh khả tín hơn.

10. 佛 無 睡 夢 。

Đức Phật không có ngủ và nằm mộng.



The Buddha doesn’t sleep or dream.

TBBL: 佛 不 睡 眠。

BCDL: 如 來 常 無 睡 眠 。

THB: Trong khi ngủ Phật không có mộng mị (svapna).



  • Đối chiếu bản dịch của HT. Trí Quang và bản tiếng Anh, chúng ta nên chọn nghĩa là “Phật không có ngủ và nằm mộng” hơn là “Phật không có nằm mộng trong khi ngủ”.

  • Trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy, khi nói đến thời khóa biểu của đức Phật, cho chúng ta thông tin rằng, ban ngày đức Phật không có ngủ, ban đêm vào giờ khuya còn trả lời vấn đáp chư Thiên, và sau đó nằm xuống an tĩnh chánh niệm hướng về lúc thức dậy, không thấy mô tả đức Phật ngủ.

  • Trong kinh Vacchagotta Tam minh (71) thuộc Trung Bộ Kinh, có đề cập đến Đức Phật có ngủ.

11. 如 來 答 問 不 待 思 惟 。

Như Lai vấn đáp không cần phải đợi suy nghĩ.



The Tathagata answers questions without thingking.

TBBL: 無 問 思 答。

BCDL: 如 來 答 問 無 思 惟 。

THB: Khi Như Lai vấn đáp không cần phải tư duy.

(không cần chữ “khi” ở đây).

=> Điều này hợp với Nam truyền và Bắc truyền Phật giáo, vì đức Phật có Tứ vô ngại biện và Tứ vô sở úy.

12. 佛 一 切 時 不 說 名 等 。常 在 定 故 。 然 諸 有 情 。謂 說 名 等 歡 喜 踊 躍 。

Đức Phật không bao giờ nói về danh [cú, văn] v.v… vì Ngài luôn ở trong định, tuy nhiên các loài hữu tình cho rằng Ngài có nói danh [cú, văn] v.v… liền sanh tâm vui vẻ phấn khởi.

At no time does the Buddha preach with words and so on because he is always in Samàdhi. But the people rejoice, considering the Buddha preaches words, nouns and so on.

TBBL: 無 所 言 說。常 一 其 心。 群 生 無 種 種 無 數。 皆 從 如 來 聞 說 解。

BCDL: 如 來 心 恒 在 觀 寂 靜 不 動 。如 來 所 出 語 。皆 令 眾 生 生 愛 樂 心 。

THB: Tất cả thời gian Phật không nói danh (nàma)... thường ở trong định, nhưng các loài hữu tình lại ưa thích nói về danh tướng.

=> Bản dịch của THB chưa rõ nghĩa và đầy đủ như bản tiếng Hoa.

13. 一 剎 那 心 了 一 切 法 。

[Chư Phật] trong một sát na tâm (ekasanikacitta) liễu tri tất cả các pháp (sarvadharma).

The Blessed One is able to understand all things within a moment of conciousness.

TBBL: Không có.

BCDL: 如 來 一 心 能 通 一 切 境 界 。

14. 一 剎 那 心 相 應 般 若 知 一 切 法 。

[Chư Phật] trong một sát na tâm tương ưng với bát nhã (prajñā) biết được tất cả các pháp.

Within a moment of conciousness, the Blessed One is able to adapt to the insight of Prajna and is able to understand all things.

TBBL: 如 來 一 心 知 一 切 法。

BCDL: 如 來 一 剎 那 相 應 般 若 。能 解 一 切 法。

15. 諸 佛 世 尊 盡 智 無 生 智 恒 常 隨 轉 。 乃 至 般 涅 槃。

Lậu tận trí (Ksayajñāa) và Vô sanh trí (Anupadayañāa) của Phật Thế Tôn thường luôn hiện hữu (tùy chuyển) cho đến lúc nhập Đại bát-niết-bàn.

The Ksayajñāa, the knowledge of extinction and the anupadayañāa, the knowlege of non-rebirth are always present in the Buddhas and they continue to be so till the Parinirvàna.

TBBL: 一 念 相 應 慧 覺 一 切 法。 如 來 一 切 時。 盡 智 無 生 智 常 現 在 前。 乃 至 涅 槃。

BCDL: 如 來 盡 智 無 生 智 。 恒 平 等 隨 心 而 行 。 乃 至 無 餘 涅 槃。

Theo HT. Nhất Hạnh, các bậc A-la-hán có Lậu tận trí (Ksayajñāa), chỉ có Phật mới có Vô sanh trí (Anutpadayañāa).

Lậu tận trí (Ksayajñāa): Là trí tuệ phát sanh sau khi đoạn tận tất cả phiền não.

Vô sanh trí (Anutpadayañāṇa): Theo THB là trí thứ 10 trong 10 trí, tức là Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực (zh. 知永斷習氣智力, sa. āsravakṣayajñāna, pi. āsavakkhaya-ñāṇa): Biết các lậu hoặc (sa. āsrava) sẽ chấm dứt như thế nào. Tuy vậy, vẫn cần phải nghiên cứu kỹ lại hơn về vấn đề này.



Nhận xét: Quan điểm về sắc thân, oai lực, âm thanh, thọ lượng, định lực, trí tuệ của Phật là những vấn đề tế nhị, siêu việt, ít khi được bàn tới giữa các Thánh đệ tử của đức Phật khi Ngài còn tại thế. Sau khi Ngài nhập Niết-bàn, một số người đã đem những vấn đề này ra thảo luận và thể hiện quan điểm của mình, dẫn đến tình trạng phân phái.

Muốn học bài này tốt, chúng ta nên đối chiếu với Thập lực và Tứ vô sở úy của Đức Phật trong Đại Kinh Sư Tử Hống (số 12) thuộc Trung Bộ Kinh hoặc tham khảo Thập bát bất cộng pháp trong truyền thống Phật giáo Đại thừa.



Câu hỏi ôn tập: 1. Tăng Ni sinh hãy trình bày các pháp bất cộng của Đức Phật trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy và 18 pháp bất cộng của Phật giáo Hữu Bộ và Đại Thừa để làm sáng tỏ oai đức, trí tuệ, thọ mạng của Đức Phật theo truyền thống Đại Chúng Bộ.

2. Hãy tìm hiểu trí tuệ của Đức Phật qua Tứ Vô Ngại Giải trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy để so sánh với quan niệm của Đại Chúng Bộ về trí tuệ của Đức Phật.



1 Chín kinh thuộc hệ Phương Đẳng/ Phương Quảng (Vaipulya), còn gọi là Quyền giáo Đại thừa. Phương là vuông vức ngay thẳng, Đẳng là bình đẳng, Quảng là rộng. Nghĩa bóng của “Phương Đẳng/ Phương Quảng” là hoàn thiện, rộng lớn. Đây là giai đoạn tiền Đại thừa, nhằm đả phá các hệ tư tưởng tu tập nhằm đạt Thánh quả Thanh Văn. Nếu theo cách phân chia của ngài Trí Khải/ Trí Giả (538 – 597) thì 9 kinh Phương Đẳng được đức Phật giảng vào giai đoạn thứ 3. “Hoa Nghiêm tối sơ... Phương đẳng bát....”. Cách phân chia ngũ thời bát giáo (Bốn giáo hóa nghi: đốn, tiệm, bí mật, bất định; bốn Giáo hóa pháp: tạng, thông, biệt, viên) của ngài Trí Giả không hợp lý. Căn cứ vào đức Phật lịch sử, thì Ngài tùy thuận nhân duyên thuyết pháp. Chín kinh Phương Đẳng / Phương Quảng: Kinh Bảo Tích, Kinh Duy-ma-cật, Kinh Thắng-man, Kinh Tư Ích, Kinh Kim Quang Minh, Kinh Lăng-già, Kinh Lăng-nghiêm, Kinh Phổ Diệu, Xá-lợi-phất vấn kinh.

2 Kinh Na-tiên Tỳ-kheo được viết bởi ngôn ngữ này.

3 Nơi sinh trưởng của thần Krishna thuộc Ấn giáo, là một trong 7 thành phố Thánh thiện (holy) của Ấn giáo. Nơi này là một trong những trung tâm nghệ thuật Phật giáo trong thời kỳ đầu.

4 Tāranātha (1575–1634) sinh ở xứ Drong, Tây Tạng. Ngài được cho là sinh vào ngày ra đời của Padmasambhava (Liên Hoa Sanh). Ngài là một sử gia lớn và nhà văn lỗi lạc của Tây Tạng. Tên gốc của ngài là Kun-dga'-snying-po, tương đương với tiếng Sanskrit là Anandagarbha (Khánh Hỷ Tạng). Tác phẩm nổi tiếng của ngài được mọi người biết đến đã dịch sang tiếng Anh là History of Buddhism in India (Lịch sử Phật giáo Ấn Độ). Sau này ngài qua Mông Cổ, thành lập một số tu viện và tịch ở đó.


5 Bốn thần túc này còn được gọi là “Tứ như ý túc”.






Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương