Ban chỉ ĐẠo công nghệ thông tin của cơ quan đẢng giáo trình thiết kế, XÂy dựng và quản trị CƠ SỞ DỮ liệu hà NỘI, 2004



tải về 1.04 Mb.
trang5/29
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích1.04 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29

3.Con người trong hệ cơ sở dữ liệu


Với các cơ sở dữ liệu nhỏ, nói chung chỉ có một người định nghĩa, xây dựng, và thao tác cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên, với một cơ sở dữ liệu lớn, rất nhiều người tham gia vào việc thiết kế, sử dụng và bảo trì cơ sở dữ liệu. Phần này chúng ta giới thiệu những người liên quan đến một hệ cơ sở dữ liệu và vai trò của họ.

Những người liên quan đến cơ sở dữ liệu được chia làm hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất gồm những người mà công việc của họ liên quan hàng ngày đến cơ sở dữ liệu; đó là những người quản trị cơ sở dữ liệu, thiết kế cơ sở dữ liệu, sử dụng cơ sở dữ liệu, phân tích hệ thống và lập trình ứng dụng. Nhóm



thứ hai gồm những người làm việc để duy trì môi trường hệ cơ sở dữ liệu nhưng không quan tâm nhiều đến bản thân cơ sở dữ liệu; đó là những người thiết kế và cài đặt hệ quản trị cơ sở dữ liệu, phát triển công cụ, thao tác viên và bảo trì.
  1. Người quản trị hệ cơ sở dữ liệu (Database Administrator-DBA)


Trong một tổ chức có nhiều người cùng sử dụng các tài nguyên cần phải có một người giám sát và quản trị các tài nguyên đó. Trong môi trường hệ cơ sở dữ liệu, các tài nguyên là cơ sở dữ liệu, hệ quản trị cơ sở dữ liệu và các phần mềm liên quan. Người quản trị hệ cơ sở dữ liệu là người chịu trách nhiệm quản lý các tài nguyên đó. Người này chịu trách nhiệm về việc cho phép truy cập cơ sở dữ liệu, tổ chức và hướng dẫn việc sử dụng cơ sở dữ liệu, cấp các phần mềm và phần cứng theo yêu cầu.
      • Người thiết kế cơ sở dữ liệu (Database Designer)


Người này chịu trách nhiệm xác định các dữ liệu sẽ được lưu giữ trong cơ sở, chọn các cấu trúc thích hợp để biểu diễn và lưu giữ các dữ liệu đó. Những nhiệm vụ này được thực hiện trước khi cơ sở dữ liệu được cái đặt và phổ biến. Người thiết kế có trách nhiệm giao thiệp với tất cả những người sử dụng tương lai để hiểu được các đòi hỏi của họ và đưa ra một thiết kế thoả mãn các yêu cầu đó. Anh ta cũng có nhiệm vụ giao tiếp với các nhóm người sử dụng và có khả năng hỗ trợ các yêu cầu của các nhóm.
      • Những người sử dụng (End User)


Những người sử dụng là những người mà công việc của họ đòi hỏi truy cập đến cơ sở dữ liệu để truy vấn, cập nhật và sinh ra các thông tin. Có nhiều loại người sử dụng:

Người sử dụng không thường xuyên: Những người này không thường xuyên truy cập đến cơ sở dữ liệu, nhưng mỗi một lần truy cập họ có thể cần nhiều thông tin. Họ sử dụng một ngôn ngữ truy vấn cơ sở dữ liệu để chỉ ra các yêu cầu của mình. Đây là những người quản lý bậc trung bình hoặc bậc cao.

Người sử dụng ngây thơ: Những người này chiếm phần lớn các người sử dụng. Chức năng công việc của họ gắn liền với việc truy vấn và cập nhật thường xuyên cơ sở dữ liệu bằng cách sử dụng các câu hỏi và các cập nhật đã được lập trình và kiểm tra cẩn thận (gọi là các giao dịch định sẵn).

Người sử dụng tinh tế: Đó là các kỹ sư, các nhà khoa học, các nhà phân tích thương mại,….. Những người này hiểu biết các tiện ích của hệ quản trị cơ sở dữ liệu và biết sử dụng để cài đặt các chương trình ứng dụng nhằm thoả mãn các yêu cầu phức tạp của họ.

Người sử dụng độc lập: Là những người duy trì các cơ sở dữ liệu cá nhân bằng cách sử dụng các chương trình đóng gói lập sẵn cung cấp các bảng chọn dễ sử dụng hoặc các giao diện đồ hoạ
      • Những người phân tích hệ thống và những người lập trình ứng dụng


Những người phân tích hệ thống xác định các yêu cầu của những người sử dụng, chủ yếu là những người sử dụng ngây thơ, để dặc tả các chương trình phù hợp với yêu cầu của họ.

Những người viết chương trình ứng dụng thể hiện các đặc tả của những người phân tích thành chương trình; sau đó kiểm thử, gỡ rối, làm tài liệu, và bảo trì các giao dịch định sẵn.


      • Những người thiết kế và cài đặt hệ quản trị cơ sở dữ liêu


Đó là những người thiết kế và cài đặt các mô đul và giao diện của hệ quản trị cơ sở dữ liệu thành các phần mềm đóng gói. Một hệ quản trj cơ sở dữ liệu là một hệ thống phần mềm phức tạp bao gồm nhiều thành phần (module). Đó là các module cài đặt từ điển dữ liệu, ngôn ngữ truy vấn, bộ xử lý giao diện, truy cập dữ liệu, kiểm tra cạnh tranh, phục hồi và an toàn. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu phải giao diện với các hệ thống phần mềm khác như hệ điều hành và các chương trình dịch cho nhiều ngôn ngữ khác nhau.
      • Những người phát triển công cụ


Là những người thiết kế và cài đặt các công cụ (tool); đó là các phần mềm đóng gói làm dễ việc thiết kế và sử dụng cơ sở dữ liệu.
      • Các thao tác viên và những người bảo trì


Là những người quản trị hệ thống; họ chịu trách nhiệm về việc chạy và bảo trì môi trường phần cứng và phần mềm của hệ cơ sở dữ liệu.

Chương 2 : Mô hình thỰc thỂ-liên kẾt

Trong chương này chúng ta sẽ làm quên với mô hình thực thể-liên kết (Entity-Relationship model), gọi tắt là mô hình ER. Đó là một mô hình dữ liệu quan niệm bậc cao phổ biến, tập trung vào các cấu trúc cơ sở dữ liệu và các ràng buộc.

Mô hình này thường được áp dụng để thiết kế khái niệm các áp dụng cơ sở dữ liệu và nhiều công cụ thiết kế cơ sở dữ liệu sử dụng các khái niệm của nó.

I.SỬ DỤNG MÔ HÌNH KHÁI NIỆM BẬC CAO CHO VIỆC THIẾT KẾ CƠ SỞ DỮ LIỆU


Quá trình thiết kế một cơ sở dữ liệu bằng hình vẽ 2.1. Bước đầu tiên là tập hợp các yêu cầu và phân tích. Trong bước này, người thiết kế cơ sở dữ liệu phỏng vấn những người sử dụng cơ sở dữ liệu để hiểu và làm tài liệu về các đòi hỏi về dữ liệu của họ. Kết quả của bước này là một tập hợp ghi chép súc tích về các đòi hỏi của những người sử dụng. Những đòi hỏi này sẽ được đặc tả dưới một dạng càng đầy đủ và càng chi tiết càng tốt. Song song với việc đặc tả các yêu cầu dữ liệu, cần phải đặc tả các yêu cầu về chức năng của ứng dụng; đó là các thao tác do người dùng định nghĩa sẽ được áp dụng đối với cơ sở dữ liệu.

Mỗi khi tất cả các yêu cầu đã được thu thập và đã được phân tích, bước tiếp theo là tạo ra lược đồ quan niệm cho cơ sở dữ liệu bằng cách sử dụng mô hình dữ liệu quan niệm mức cao. Bước này được gọi là thiết kế khái niệm. Lược đồ khái niệm là một mô tả súc tích về các yêu cầu dữ liệu của các người sử dụng, nó bao gồm các mô tả chi tiết của các kiểu thực thể, các kiểu liên kết và các ràng buộc ; chúng được biểu diễn bằng các khái niệm do các mô hình dữ liệu bậc cao cung cấp. Vì những khái niệm này không chứa các chi tiết cài đặt (thể hiện), chúng thường dễ hiểu và có thể sử dụng để giao lưu với các người sử dụng. Lược đồ quan niệm mức cao cũng có thể được sử dụng như một dẫn chứng để đảm bảo rằng tất cả các đòi hỏi của người sử dụng đều thoả mãn và các đòi hỏi này không chứa các mâu thuẫn. Giải pháp này cho phép những người thiết kế cơ sở dữ liệu tập trung vào việc đặc tả các tính chất của dữ liệu mà không cần quan tâm đến các chi tiết lưu trữ. Một thiết kế cơ sở dữ liệu quan niệm tốt làm dễ cho công việc của những người thiết kế cơ sở dữ liệu.

Trong quá trình (hoặc sau khi) thiết kế lược đồ quan niệm, ta có thể sử dụng các phép toán mô hình dữ liệu cơ bản để đặc tả các thao tác của người sử dụng được xác định trong khi phân tích chức năng. Điều đó cũng giúp khẳng định rằng lược đồ quan niệm thoả mãn mọi yêu cầu chức năng được xác định. Nếu có một số yêu cầu chức năng không thể chỉ ra trong lược đồ ban đầu thì ở bước này có thể có sự sửa đổi lược đồ khái niệm cho phù hợp.

Bước tiếp theo trong thiết kế cơ sở dữ liệu là việc thể hiện (cài đặt) cơ sở dữ liệu bằng cách sử dụng một hệ quản trị cơ sở dữ liệu có sẵn. Hầu hết các hệ quản trị cơ sở dữ liệu sử dụng một mô hình dữ liệu thể hiện (chẳng hạn như mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ hoặc đối tượng) vì vậy lược đồ quan niệm được chuyển đổi từ mô hình dữ liệu bậc cao thành mô hình dữ liệu thể hiện. Bước này gọi là thiết kế lô gic hoặc là ánh xạ mô hình dữ liệu. Kết quả của bước này là một lược đồ cơ sở dữ liệu dưới dạng một mô hình dữ liệu thể hiện của hệ quản trị cơ sở dữ liệu.

Bước cuối cùng trong thiết kế cơ sở dữ liệu là thiết kế vật lý. Trong bước này ta phải chỉ ra các cấu trúc lưu trữ bên trong, các đường dẫn truy cập, tổ chức tệp cho các tệp cơ sở dữ liệu. Song song với các hoạt động đó, các chương trình áp dụng cũng được thiết kế và cài đặt như là các giao dịch cơ sở dữ liệu tương ứng với các đặc tả giao dịch mức cao.



Hình 2.1 Sơ đồ mô tả các bước chính của việc thiết kế cơ sở dữ liệu


1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương