BỘ trưỞng bộ giao thông vận tải căn cứ Bộ luật Hàng hải Việt Nam ngày 14 tháng 6 năm 2005



tải về 274.03 Kb.
trang3/3
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích274.03 Kb.
1   2   3

d. Khi tàu thuyền nhìn thấy nhau bằng mắt thường và đang tiến lại gần nhau, vì một lý do nào đó mà tàu thuyền không hiểu ý định hoặc hành động của tàu thuyền kia, hoặc nghi ngờ tàu thuyền kia có biện pháp điều động đủ để tránh đâm va hay không, thì tàu thuyền đó phải tức khắc biểu thị sự nghi ngờ bằng cách phát ít nhất 5 tiếng còi ngắn nhanh, liên tiếp. Cùng với tín hiệu này có thể phát kèm thêm tín hiệu đèn, ít nhất là 5 chớp ngắn, nhanh, liên tục.
e. Tàu thuyền đi đến gần chỗ ngoặt hoặc một khúc sông hoặc một đoạn luồng mà ở đó tàu thuyền khác có thể bị các vật chướng ngại che khuất, phải phát một tiếng còi dài. Tàu thuyền ở bên kia chỗ ngoặt hay ở phía sau chướng ngại đang che khuất nghe thấy âm hiệu phải đáp cùng một tiếng còi dài như thế.
f. Nếu tàu thuyền có trang bị nhiều còi, bố trí cái nọ cách cái kia trên 100m, thì chỉ cẩn sử dụng một còi khi phát những tín hiệu điều động và tín hiệu cảnh báo.

Điều 35. Tín hiệu âm thanh khi tầm nhìn xa bị hạn chế
Khi ở trong hoặc gần khu vực tầm nhìn xa bị hạn chế, ban ngày cũng như ban đêm, các tín hiệu quy định tại Điều này phải được sử dụng như sau:
a. Tàu thuyền máy đang còn trớn, cứ cách không quá 2 phút phải phát một tiếng còi dài.
b. Tàu thuyền máy đang hành trình, nhưng đã dừng máy và hết trớn, cứ không quá 2 phút phải phát hai tiếng còi dài liên tiếp, tiếng này cách tiếng kia chừng 2 giây.
c. Tàu thuyền mất khả năng điều động, tàu thuyền bị hạn chế khả năng điều động, tàu thuyền bị mớn nước không chế, tàu thuyền buồm, tàu thuyền đang đánh cá và tàu thuyền đang lai kéo hoặc đẩy một tàu thuyền khác, cứ cách không quá hai phút phải phát ba tiếng còi liên tiếp gồm 1 tiếng còi dài tiếp theo là 2 tiếng còi ngắn, thay cho những tín hiệu quy định tại khoản (a) hoặc (b) Điều này.
d. Tàu thuyền đánh cá khi neo và tàu thuyền bị hạn chế khả năng điều động đang làm nhiệm vụ của mình khi neo, phải phát tín hiệu quy định tại khoản (c) Điều này thay cho tín hiệu quy định tại khoản (g) Điều này.
e. Tàu thuyền bị lai, nếu số lượng nhiều hơn 1 thì tàu thuyền bị lai cuối cùng của đoàn nếu có thuyền viên ở trên đó thì cứ cách không quá 2 phút phải phát 4 tiếng còi liên tiếp gồm 1 tiếng dài tiếp theo là 3 tiếng còi ngắn (-…). Nếu có thể được, tín hiệu này phải được phát tiếp ngay sau tín hiệu của tàu thuyền lai.
f. Tàu thuyền đang lai đẩy và tàu thuyền bị đẩy phía trước liên kết vững chắc thành một khối thì được coi như tàu thuyền máy và phải phát các tín hiệu như quy định tại khoản (a) hoặc (b) Điều này.
g. Tàu thuyền neo cứ cách không quá 1 phút phải khua nhanh một hồi chuông trong khoảng thời gian chừng 5 giây. Tàu thuyền có chiều dài từ 100m trở lên tín hiệu chuông nói trên phải được phát ra ở phía mũi tàu và tiếp ngay sau đó phải gõ nhanh một hồi cồng khoảng 5 giây ở phía lái. Tàu thuyền neo có thể phát thêm tín hiệu gồm ba tiếng còi liên tiếp: 1 tiếng ngắn, 1 tiếng dài và 1 tiếng ngắn (.-.) để báo vị trí của tàu thuyền mình và khả năng xảy ra nguy cơ đâm va cho những tàu thuyền khác đang đền gần biết.
h. Tàu thuyền bị mắc cạn, ngoài việc phát tín hiệu bằng chuông và nếu được yêu cầu, phải đánh cồng theo quy định tại khoản (g) Điều này, còn phải đánh thêm 3 tiếng chuông riêng biệt ngay trước và sau mỗi hồi chuông. Tàu thuyền bị mắc cạn còn có thể phát thêm tín hiệu thích hợp bằng còi.
i. Tàu thuyền có chiều dài từ 12m đến dưới 20m không bắt buộc phải phát các tín hiệu chuông như quy định tại các khoản (g) và (h) Điều này. Tuy nhiên, nếu không phát tín hiệu chuông thì phải phát các tín hiệu âm thanh khác thích hợp trong khoảng thời gian không quá 2 giây.
j. Tàu thuyền có chiều dài dưới 12m không bắt buộc phải phát tín hiệu âm thanh nói trên, nhưng nếu không phát tín hiệu đó thì cứ cách không quá 2 phút phải phát 1 tín hiệu âm thanh khác có hiệu quả.
k. Tàu thuyền hoa tiêu đang làm nhiệm vụ hoa tiêu, ngoài những tín hiệu quy định tại các khoản (a), (b) hoặc (g) Điều này, còn có thể phát thêm tín hiệu để nhận dạng gồm 4 tiếng còi ngắn.

Điều 36. Tín hiệu kêu gọi sự chú ý
Bất cứ tàu thuyền nào, nếu xét thấy cần phải kêu gọi sự chú ý của tàu thuyền khác, thì có thể phát những tín hiệu âm thanh hoặc tín hiệu ánh sáng không lẫn với bất kỳ một tín hiệu nào đã quy định tại các điều của bản Quy tắc này, hoặc có thể chiếu đèn pha về phía có nguy cơ đe doạ, nhưng không được gây trở ngại cho tàu thuyền khác. Bất kỳ đèn nào sử dụng để kêu gọi sự chú ý của tàu thuyền khác đều không được gây nhầm lẫn với bất kì thiết bị trợ giúp hàng hải nào.Với mục đích của điều này cần phải tránh sử dụng đèn chiếu sáng gián đoạn hoặc đèn chiếu sáng quay vòng với cường độ ánh sáng cực mạnh (như các đèn xung lượng).

Điều 37. Tín hiệu cấp cứu
Tàu thuyền bị tai nạn và yêu cầu sự giúp đỡ phải sử dụng hoặc phát ra những tín hiệu quy định tại phụ lục IV bản Quy tắc này.

PHẦN E

MIỄN TRỪ

Điều 38. Miễn trừ
Mọi tàu thuyền (hoặc loại tàu thuyền) đã đáp ứng đầy đủ các quy định của Quy tắc quốc tế phòng ngừa đâm va trên biển năm 1960 mà sống đáy của nó đã đặt hoặc đang ở trong quá trình thi công trước ngày bản Quy tắc này có hiệu lực thì có thể miễn trừ thi hành bản Quy tắc này ở những điểm dưới đây:
a. Cách bố trí các đèn hiệu với độ chiếu sáng được quy định tại Điều 22, thời hạn là 4 năm kể từ ngày bản Quy tắc có hiệu lực.
b. Cách bố trí các đèn hiệu với những đặc tính về màu sắc được quy định tại điểm 7 phụ lục 1 bản Quy tắc này, thời hạn 4 năm kể từ ngày bản Quy tắc này có hiệu lực.
c. Thay đổi cách bố trí có liên quan đến việc chuyển các đơn vị đo lường của ánh sáng hệ đơn vị tính bằng mét và quy tròn các số đó, được miễn trừ vĩnh viễn.
d.i. Thay đổi cách bố trí các đèn cột thêm những tàu thuyền có chiều dài dưới 150m được quy định tại điểm 3 (a) Phụ lục I bản Quy tắc này, được miễn trừ vĩnh viễn;
ii. Thay đổi cách bố trí các đèn cột trên những tàu thuyền có chiều dài từ 150m trở lên cho phù hợp với các quy định tại điểm 3 (a) Phụ lục I, thời hạn là 9 năm kể từ ngày bản Quy tắc này có hiệu lực.
e. Thay đổi cách bố trí các đèn cột cho phù hợp với những quy định tại điểm 2 (b) Phụ lục I của bản Quy tắc này, thời hạn là 9 năm kể từ ngày bản Quy tắc này có hiệu lực.
f. Thay đổi cách bố trí các đèn mạn cho phù hợp với những quy định tại điểm 2 (g) và 3 (b) Phụ lục I của bản Quy tắc này, thời hạn là 9 năm kể từ ngày bản Quy tắc này có hiệu lực.
g. Những yêu cầu đối với các thiết bị phát tín hiệu âm thanh đã quy định tại Phụ lục III bản Quy tắc này, thời hạn là 9 năm kể từ ngày bản Quy tắc này có hiệu lực.
h. Sụ chuyển chỗ các đèn chiếu sáng khắp bốn phía theo quy định tại điểm 9 (b) Phụ lục I bản Quy tắc này được miễn trừ vĩnh viễn.

Phụ lục I
VỊ TRÍ VÀ ĐẶC TÍNH KỸ THUẬT

CỦA CÁC ĐÈN VÀ DẤU HIỆU

1. Định nghĩa
Độ cao trên thân tàu” là chiều cao trên mặt boong cao nhất chạy liên tục từ mũi đến lái. Chiều cao này cần phải tính từ điểm đặt các đèn theo chiều thẳng đứng.
2. Vị trí và khoảng cách của các đèn theo mặt phẳng thẳng đứng
a. Trên tàu thuyền máy có chiều dài từ 20m trở lên các đèn cột phải được bố trí như sau:
i. Đèn cột phía trước hoặc đối với tàu thuyền chỉ có duy nhất một đèn cột, thì đèn này phải đặt ở độ cao trên thân tàu ít nhất là 6m và nếu chiều rộng của tàu thuyền không quá 6m thì đèn phải đặt ở độ cao trên thân tàu tối thiểu bằng chiều rộng, nhưng không nhất thiết phải đặt đèn ở độ cao quá 12m trên thân tàu;
ii. Nếu tàu thuyền có hai đèn cột thì phải đặt đèn phía sau cao hơn đèn phía trước ít nhất là 4,5m.
b. Khoảng cách theo chiều thẳng đứng giữa các đèn cột của tàu thuyền máy, phải sao cho trong mọi điều kiện bình thường của độ chênh mớn nước đèn sau luôn luôn phải được nhìn thấy cao hơn và phân biệt được với đèn trước ở khoảng cách 1000m tính từ mũi tàu đến mực nước biển.
c. Đèn cột của tàu thuyền máy có chiều dài từ 12m trở lên nhưng không quá 20m phải đặt ở độ cao trên thân tàu ít nhất là 2,5m.
d. Tàu thuyền máy có chiều dài dưới 12m có thể bố trí đèn cao nhất không quá 2,5m trên mép mạn. Nhưng nếu tàu thuyền này trưng đèn cột, các đèn mạn và đèn lái hoặc đèn chiếu sáng khắp bốn phía được quy định tại Điều 23 (c), (i) thì đèn cột hoặc đèn chiếu sáng khắp bốn phía phải được bố trí cao hơn các đèn mạn ít nhất là 1m.
e. Một trong số 2 hoặc 3 đèn cột quy định cho tàu thuyền máy đang làm nhiệm vụ lai kéo hoặc lai đẩy một tàu thuyền khác phải bố trí ở cùng một nơi đặt đèn cột trước hoặc đèn cột sau của tàu thuyền máy. Trong trường hợp nếu tàu thuyền lai dắt bố trí ở đèn cột sau thì đèn thấp nhất trong các đèn cột sau phải bố trí cao hơn 4,5m theo chiều thẳng đứng so với đèn cột trước.
f.i. Đèn cột hoặc đèn quy định tại khoản (a) Điều 23 cần phải bố trí sao cho ở trên và cách xa các đèn khác và vật cản, trừ trường hợp nêu tại điểm (ii) dưới đây:
ii. Khi các đèn chiếu sáng khắp bốn phía quy định tại Điều 27 (b) (i) hoặc tại Điều 28 thực tế không thể bố trí ở dưới các cột đèn cột, thì có thể đặt chúng trên các đèn cột (các đèn) hoặc đặt ở vị trí giữa đèn/các đèn cột trước và đèn/các đèn cột sau theo chiều thẳng đứng. Trong trường hợp này cần phải bảo đảm việc thực hiện các yêu cầu tại điểm (3) (c) Phụ lục này.
g. Các đèn mạn của một tàu thuyền máy phải được đặt ở độ cao trên thân tàu không vượt quá 3/4 chiều cao của cột đèn trước. Các đèn này không được đặt quá thấp để tránh nhầm lẫn với ánh sáng của các đèn trên boong.
h. Các đèn mạn, nếu được ghép thành một đèn hai màu và trên thuyền máy có chiều dài dưới 20m thì phải được bố trí tháp hơn đèn cột ít nhất 1m.
i. Khi chấp hành các điều khoản quy định phải trưng 2 hoặc 3 đèn trên một đường thẳng đứng thì khoảng cách giữa các đèn đó phải được bố trí như sau:
i. Tàu thuyền có chiều dài từ 20m trở lên các đèn phải đặt cách nhau ít nhất là 2m và thấp nhất trong số các đèn ở đó phải đặt ở độ cao ít nhất 4m trên sàn tàu, trừ đèn lai dắt và tàu thuyền phải trưng:
ii. Tàu thuyền có chiều dài dưới 20m các đèn phải đặt cách nhau ít nhất là 1m và đèn thấp nhất trong số các đèn đó phải đặt ở độ cao ít nhất là 2m trên mét mạn, trừ đèn lai dắt thep quy định;
iii. Nếu tàu thuyền phải trưng 3 đèn thì các đèn đó phải được đặt cách đều nhau;
j. Đèn thấp nhất trong số hai đèn chiếu sáng khắp bốn phía quy định cho tàu thuyền đang đánh cá phải đặt cao hơn các đèn mạng ít nhất bằng hai lần khoảng cách giữa hai đèn đó theo chiều thẳng đứng.
k. Khi tàu thuyền trưng hai đèn neo thì đèn neo phía mũi như quy định tại Điều 30 (a) (1) phải đặt cao hơn đèn neo phía lái ít nhất là 4,5m. Tàu thuyền có chiều dài từ 50m trở lên, đèn neo phía mũi đặt ở độ cao trên thân tàu tối thiểu là 6m.
3. Vị trí và khoảng cách giữa các đèn theo mặt phẳng nằm ngang
a. Đối với tàu thuyền máy theo quy định phải trưng 2 đèn cột thì khoảng cách theo mặt phẳng nằm ngang giữa hai đèn ít nhất bằng một nửa chiều dài của tàu thuyền đó nhưng không nhất thiết phải lớn hơn 100m. Đèn cột trước không được đặt cách xa sống mũi tàu quá 1/4 chiều dài của tàu thuyền đó.
b. Tàu thuyền máy có chiều dài từ 20m trở lên, các đèn mạng không được đặt phía trước đèn cột trước mà phải bố trí ở hai bên mạn hoặc gần hai bên mạn của tàu thuyền.
c. Khi các đèn quy định tại Điều 27 (b) (i) hoặc tại Điều 28 đặt ở giữa đèn cột trước/các đèn cột trước và đèn cột sau/các đèn cột sau thì những đèn chiếu sáng khắp bốn phía cần phải đặt theo chiều ngang cách đường mũi lái của tàu không quá 2m.
d. Khi chỉ một đèn cột được quy định cho tàu thuyền máy, thì đèn này phải được trưng phía trước sườn giữa của tàu, trừ trường hợp tàu có chiều dài nhỏ hơn 20m không nhất thiết phải trưng đèn này ở phía trước sườn giữa của tàu, nhưng phải trưng nó càng xa về phía trước sườn của tàu càng tốt.
4. Những chi tiết liên quan đến các đèn chỉ hướng trên tàu thuyền đánh cá, tàu thuyền làm công tác nạo vét luồng lạch và tàu thuyền làm công việc ngầm dưới nước.
a. Đèn chỉ hướng dụng cụ đánh cá quy định tại Điều 26 (c) (ii) cho tàu thuyền đang đánh cá, theo phương ngang phải đặt cách xa đèn đỏ và đèn trắng chiếu sáng khắp bốn phía ít nhất là 2m và nhiều nhất là 6m. Đèn chỉ hướng này phải ở vị trí sao cho không cao hơn đèn trắng chiếu sáng khắp bốn phía như quy định tại Điều 26 (c) (i) mà cũng không được thấp hơn các đèn mạn.
b. Các đèn và dấu hiệu của tàu thuyền đang làm công tác nạo vét luồng lạch hoặc đang tiến hành các công việc ngầm dưới nước chỉ phía có chướng ngại và (hoặc) chỉ phía để tàu thuyền qua lại an toàn như quy định tại Điều 27 (d) (i) và (ii) phải được đặt ở khoảng cách tối đa theo phương ngang và trong mọi trường hợp, không được nhỏ hơn 2m tính từ đèn hoặc dấu hiệu quy định tại Điều 27 (b) (i) và (ii). Trong mọi trường hợp, đèn hoặc dấu hiệu trên cùng của các đèn hoặc dấu hiệu này không được đặt cao hơn đèn hay dấu hiệu thấp nhất trong 3 đèn hoặc dấu hiệu quy định tại Điều 27 (b) (i) và (ii).
5. Tấm chắn của các đèn mạn
Những đèn mạn trên tàu thuyền có chiều dài từ 20m trở lên phải có những tấm chắn sơn màu đen nhạt và thoả mãn những quy định tại điểm 9 của Phụ lục này. Trên các tàu thuyền có chiều dài dưới 20m, các đèn mạn cần phải có những tấm chắn sơn màu đen nhạt ngăn cách với phía mặt phẳng trục dọc tàu để phù hợp với quy định tại điểm 9 của Phụ lục này. Trong trường hợp sử dụng đèn kép hai màu có một vách ngăn rất hẹp giữa cung ánh sáng màu xanh lục và màu đỏ thì không cần thiết phải bố trí tấm chắn bên ngoài.
6. Các dấu hiệu
a. Các dấu hiệu phải là màu đen và có kích thước như sau:
i. Đường kính tối thiểu của dấu hiệu hình cầu là 0,6m;
ii. Đường kính đáy của dấu hiệu hình chóp nón tối thiểu là 0,6m và có chiều cao bằng đường kính đáy;
iii. Đường kính của dấu hiệu hình trụ tối thiểu là 0,6m và có chiều cao bằng 2 lần đường kính;
iv. Dấu hiệu hình thoi phải gồm 2 hình nón đã định nghĩa tại điểm (2) trên đây và có chung một đáy.
b. Khoảng cách thẳng đứng giữa các dấu hiệu tối thiểu là 1,5m.
c. Tàu thuyền có chiều dài dưới 20m, kích thước của các dấu hiệu có thể nhỏ hơn, nhưng phải cân đối với kích thước của tàu thuyền và khoảng cách giữa các dấu hiệu cũng có thể giảm bớt cho thích hợp.
7. Đặc tính màu sắc của các đèn
Đặc tính màu sắc của tất cả các đèn hành trình phải phù hợp với các tiêu chuẩn sau đây nằm trong phạm vi giới hạn của biểu đồ được quy định cho từng loại màu sắc do Uỷ ban quốc tế về chiếu sáng đã thông qua.
Vùng giới hạn của màu sắc khác nhau được xác định bằng những toạ độ gốc :
i. Màu trắng:
X 0,525 0,525 0,452 0,310 0,310 0,443
Y 0,382 0,440 0,440 0,348 0,283 0,382
ii. Màu xanh lục:
X 0.028 0.009 0,300 0,203
Y 0,385 0,723 0,511 0,356
iii. Màu đỏ:
X 0,680 0,660 0,735 0,721
Y 0,320 0,320 0,265 0,259
iv. Màu vàng:
X 0,612 0,618 0,575 0,575
Y 0,382 0,382 0,425 0,406
8. Cường độ ánh sáng của các đèn
a. Cường độ ánh sáng tối thiểu của các đèn phải được tính toán theo công thức:
I = 3,43,106.T.Đ2.K-D
Trong đó :
I: Cưòng độ ánh sáng tính bằng Can-de-la trong điều kiện làm việc
T: Ngưỡng chiếu sáng 2,107 lux (Đơn vị độ rọi)
D: Tầm nhìn thấy đèn (Tâm chiếu sáng) tính bằng hải lý
K: Hệ số truyền qua khí quyển. Đối với các đèn quy định hệ số K bằng 0,8 là trị số tương ứng với tầm xa khí tượng khoảng 13 hải lý.
b. Bảng sau đây giới thiệu một vài trị số đã tính toán theo công thức trên :


Tâm chiếu sáng của đèn tính bằng hải lý (D)

Cường độ ánh sáng của đèn tính bằng Can-de-la (I)

1

2

0,9

3,4

Tâm chiếu sáng của đèn tính bằng hải lý (D)

Cường độ ánh sáng của đền tính bằng Can-đề nghị-la (1)
3
4
5
6


12,0
27,0
52,0
94,0


Ghi chú: Cường độ ánh sáng tối đa của các đèn hành trình phải được giới hạn để tránh những phản chiếu gây trở ngại. Việc này không nhất thiết phải lắp đặt các thiết bị để điều chỉnh cường độ ánh sáng.
9. Cung theo mặt phẳng ngang
a. i. Các đèn mạn được bố trí trên tàu thuyền phải đảm bảo yêu cầu cường độ ánh sáng tối thiểu ở hướng mũi tàu. Cường độ ánh sáng phải giảm dần trong phạm vi từ 10 đến 30 ngoài cung chiếu sáng theo qui định thì không thể nhìn thấy ánh sáng nữa;
ii. Đối với đèn lái và các đèn cột và ở 22,50 sau trục ngang đối với các đèn mạn, cường độ ánh sáng yêu cầu tối thiểu phải được duy trì cho tới 50 bên trong phạm vi cung chiếu sáng quy định ở Điều 21. Từ 50 bên trong phạm vi cung chiếu sáng cho đến giới hạn của cung chiếu sáng quy định cường độ ánh sáng có thể giảm đi 50%. Sau đó cường độ ánh sáng phải giảm dần cho đến 50 bên ngoài giới hạn của cung chiếu sáng quy định thì không còn ánh sáng nữa.
b. i. Loại trừ các đèn neo không cần thiết phải đặt quá cao bên trên thân tàu ra, các đèn chiếu sáng khắp bốn phía phải bố trí ở vị trí sao cho không bị các cột buồm, xà ngang cột buồm hoặc các cấu trúc khác che khuất trong phạm vi một cung lớn hơn 60;
ii. Trường hợp không thể tuân thủ quy định tại điểm (i) Mục này bằng cách chỉ trưng một đèn chiếu sáng khắp bốn phía, thì phải sử dụng hai đèn chiếu sáng khắp bốn phía bố trí và che chắn một cách phù hợp để chúng có thể nhìn thấy như là một đèn ở khoảng cách 01 hải lý.
10. Cung theo mặt phẳng thẳng đứng
a. Cung theo mặt phẳng thẳng đứng của đèn điện đã quy định, trừ các đèn trên tàu thuyền buồm đang chạy phải bảo đảm:
i. Duy trì được cường độ ánh sáng yêu cầu tối thiểu trong phạm vi nhỏ nhất là 50 bên trên đến 50 bên dưới của mặt phẳng ngang ở tất cả các góc;
ii. Duy trì ít nhất 60% cường độ ánh sáng yêu cầu tối thiểu trong phạm vi từ 7,50 bên trên đến 7,50 bên dưới mặt phẳng ngang ở tất cả các góc;
b. Trường hợp tàu thuyền buồm đang chạy, cung thẳng đứng của các đèn điện qui định phải bảo đảm:
i. Duy trì cường độ ánh sáng yêu cầu tối thiểu trong phạm vi từ từ 50 bên trên đến 50 bên dưới mặt phẳng ngang;
ii. Duy trì ít nhất 50% cường độ ánh sáng yêu cầu tối thiểu trong phạm vi từ 250 bên trên đến 250 bên dưới mặt phẳng nằm ngang;
c. Đối với các loại đèn không phải là đèn điện thì những chi tiết về đặc tính kỹ thuật càng gần với qui định trên càng tốt.
11. Cường độ ánh sáng của các đèn không phải là đèn điện
Cường độ ánh sáng của đèn không phải là đèn điện trong chừng mực có thể được phải phù hợp với những hệ số đã ghi rõ trong bảng nêu ở điểm 3 của Phụ lục này.
12. Đèn điều động
Không phụ thuộc vào những qui định tại điểm (2) (j) của bản Phụ lục này, tín hiệu đèn điều động nêu tại Điều 34 (b) phải được đặt trong cùng mặt phẳng dọc như đèn cột hoặc các đèn cột và nếu thực tế cho phép đèn điều động này phải đặt cao hơn đèn cột trước ít nhất là 2m theo chiều thẳng đứng. Trường hợp tàu thuyền chỉ phải mang một đèn cột thì đèn điều động nếu có phải đặt ở nơi có thể nhìn thấy rõ nhất cách đèn cột theo chiều thẳng đứng một khoảng ít nhất là 2m.
13. Tàu cao tốc
a. Đèn cột của tàu cao tốc, trong mối tương quan với chiều rộng tàu, có thể bố trí ở độ cao thấp hơn qui định tại mục 2 (a) (i) Phụ lục này, miễn rằng góc đáy của tam giác cân được hình thành bởi các đèn mạn và đèn cột không nhỏ hơn 270 khi nhìn từ đỉnh.
b. Trên tàu cao tốc có chiều dài từ 50m trở lên, khoảng cách thẳng đứng giữa đèn cột trước và đèn cột chính (đèn cột sau) là 4,5m như qui định tại điểm 2 (a) (ii) Phụ lục này có thể được thay đổi miễn rằng, khoảng cách đó không nhỏ hơn giá trị được tính theo công thức sau:
(a + 17 Ψ) C
y = + 2
1000

Ở đây: y - Độ cao của đèn cột chính so với đèn cột trước, mét
a - Độ cao của đèn cột trước so với đường nước đầy tải, mét
Ψ - Độ chúi tại mớn nước đầy tải, độ
c - Khoảng cách ngang giữa các đèn cột, mét
14. Sự chấp thuận
Cấu tạo các đèn và các dấu hiệu cũng như sự bố trí các đèn trên tàu thuyền phải thoả mãn yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Quốc gia mà tàu thuyền mang cờ quốc tịch.

Phụ lục II
NHỮNG TÍN HIỆU BỔ SUNG CHO TÀU THUYỀN ĐÁNH CÁ ĐANG ĐÁNH CÁ Ở GẦN NHAU

1. Tổng quát
Các đèn hiệu nêu trong Phụ lục này, nếu được áp dụng theo qui định tại Điều 26 (d) phải được đặt ở nơi nhìn thấy rõ nhất. Các đèn này phải thấp hơn các đèn qui định tại Điều 26 (b) (i) và (c) (i) và cách các đèn ấy ít nhất là 0,9m. Các đèn này phải được nhìn thấy từ khắp bốn phía và có tầm chiếu sáng ít nhất là 1 hải lý, nhưng phải nhỏ hơn tầm xa của các đèn qui định trong Quy tắc này cho tàu thuyền đánh cá.
2. Tín hiệu cho tàu thuyền đánh cá bằng lưới vét
a. Tàu thuyền đang đánh cá bằng lưới vét có chiều dài từ 20m trở lên, dù sử dụng hay không sử dụng dụng cụ đánh cá chìm dưới đáy hoặc dụng cụ đánh cá voi phải trưng:
i. Khi thả lưới mang hai đèn trắng đặt trên dưới theo chiều thẳng đứng;
ii. Khi kéo lưới mang đèn trắng trên, đèn đỏ dưới theo chiều thẳng đứng;
iii. Khi lưới bị vướng mắc vào chướng ngại vật mang hai đèn đỏ đặt trên dưới theo chiều thẳng đứng.
b. Mỗi tàu, thuyền đang rà kéo lưới đôi có chiều dài từ 20m trở lên phải trưng:
i. Ban đêm, dọi đèn pha về phía trước và hướng về tàu thuyền kia đang cùng rà kéo lưới đôi với mình;
ii. Khi thả lưới, kéo lưới bị vướng chướng ngại vật, mang các đèn qui định tại điểm (2) (a) nói trên đây.
c. Tàu thuyền đang đánh cá bằng lưới vét có chiều dài nhỏ hơn 20m, dù sử dụng hay không sử dụng dụng cụ đánh cá chìm dưới đáy hoặc dụng cụ đánh cá voi hoặc đang rà kéo lưới đôi có thể trưng các đèn qui định tại (a) hoặc (b) tương ứng của mục này.
3. Tín hiệu cho tàu thuyền đang đánh cá bằng lưới nổi.
Tàu thuyền đang đánh cá bằng lưới nổi có thể trưng hai đèn vàng đặt trên dưới theo chiều thẳng đứng. Những đèn này mỗi giây phải luân phiên nhau chớp, khoảng thời gian sáng, tối bằng nhau và có thể chỉ mang những đèn kể trên khi tàu thuyền di chuyển khó khăn do các dụng cụ đánh cá gây nên.

Phụ lục III
ĐẶC TÍNH KỸ THUẬT CỦA CÁC THIẾT BỊ PHÁT ÂM HIỆU

1. Còi:
a. Tần số và cự ly nghe rõ:
Tần số cơ bản của tín hiệu phải nằm trong dải tần 70 - 700Hz. Cự ly nghe rõ tín hiệu của các còi được xác định bởi các tần số bao gồm tần số cơ bản và hoặc một hay nhiều tần số cao hơn nằm trong dải tần 180 - 700Hz (+1%) đối với tàu thuyền có chiều dài từ 20m trở lên hoặc trong dải tần 180 – 2.100Hz (+1%) đối với tàu thuyền có chiều dài dưới 20m và đảm bảo mức độ áp lực âm thanh qui định tại điểm (1) (c) dưới đây của Phụ lục này.
b. Giới hạn của tần số cơ bản: Để bảo đảm còi trên tàu thuyền có đặc tính đa dạng, tần số cơ bản của các tín hiệu còi phải ở trong các giới hạn sau đây:
70 - 200Hz đối với tàu thuyền có chiều dài từ 200m trở lên
130 - 350Hz đối với tàu thuyền có chiều dài từ 75m trở lên nhưng nhỏ hơn 200m.
250 - 700Hz đối với tàu thuyền có chiều dài nhỏ hơn 75m
c. Cường độ âm thanh và cự ly nghe rõ tín hiệu:
Còi lắp đặt trên tàu thuyền phải đảm bảo ở trên hướng phát ra cường độ âm thanh cực đại và ở cách còi 1m thì mức độ áp lực âm thanh phát ra trong một dải tối thiểu 1/3 ốc-ta-vơ trong dải tần số 180 - 700Hz (+1%) đối với tàu thuyền có chiều dài từ 20m trở lên hoặc trong phạm vi 180 – 2.100Hz (+1%) đối với tàu thuyền có chiều dài dưới 20m, không được nhỏ hơn trị số quy định, tương ứng trong bảng dưới đây:

Chiều dài tàu thuyền tính bằng mét

Mức độ áp lực âm thanh ở cự ly 1 mét trong dải 1/3 ốc ta vơ tính bằng đề xin ben tương đương với 2.105 N/m2

Cự ly nghe rõ tính bằng hải lý

Từ 200m trở lên

143

2,0

Từ 75m trở lên nhưng dưới 200m

138

1,5

Từ 20m trở lên nhưng dưới 75m

130

1,0

Dưới 20m

120*


0,5

115**

111***


* Khi tần số đo được nằm trong khoảng 180 - 450 Hz
** Khi tần số đo được nằm trong khoảng 450 - 800 Hz
* ** Khi tần số đo được nằm trong khoảng 800 - 2100 Hz
d. Đặc tính định hướng:
Ở tất cả các hướng của mặt phẳng ngang, trong phạm vi hình quạt +450 so với hướng trục còi, mức độ áp lực âm thanh của một còi định hướng không được thấp hơn 4dB so với mức độ áp lực âm thanh quy định trên hướng trục. Ở những hướng khác còn lại trong mặt phẳng ngang mức độ áp lực âm thanh không được thấp quá 10dB so với mức độ áp lực âm thanh qui định trên hướng trục, sao cho cự ly nghe rõ ở bất kỳ hướng nào cũng không được nhỏ hơn 1/2 cự ly nghe rõ trên hướng trục. Mức độ áp lực âm thanh phải được đo trong dải 1/3 ốc-ta-vơ để xác định cự ly nghe rõ của còi.
e. Vị trí lắp đặt còi:
Khi trên tàu thuyền chỉ sử dụng duy nhất một còi định hướng, còi này phải được bố trí sao cho cường độ âm thanh tối đa hướng về phía trước mũi tàu.
Còi trên tàu thuyền phải đặt càng cao càng tốt để hạn chế các chướng vật chắn âm thanh phát ra và để hạn chế tới mức thấp nhất nguy cơ làm giảm thính giác của thuyền viên. Mức độ áp lực âm thanh của tín hiệu do chính bản thân tàu phát ra không được vượt quá 110dB(A) tại các vị trí nghe và nếu có thể không vượt qua 100dB(A).
f. Bố trí nhiều còi:
Nếu trên tàu thuyền các còi bố trí cách nhau trên 100m thì phải có biện pháp xử lý sao cho các còi không được hoạt động đồng thời.
g. Hệ thống còi kết hợp:
Nếu do có những chướng ngại vật mà trường âm thanh của một còi duy nhất hoặc của một trong các còi nêu ở điểm (f) trên đây có một vùng mà mức độ âm thanh giảm đi rõ rệt thì cần phải sử dụng một hệ thống còi kết hợp để khắc phục tình trạng đó. Vận dụng cho mục đích của Quy tắc này, hệ thống còi kết hợp phải coi như một còi duy nhất. Những còi trong hệ thống kết hợp không được bố trí cách nhau quá 100m và phải sao cho có thể hoạt động đồng thời. Tần số của các còi này phải khác nhau ít nhất là 10Hz.
2. Chuông hoặc cồng.
a. Cường độ của tín hiệu:
Chuông hoặc cồng hoặc bất cứ thiết bị nào khác có những đặc tính âm thanh tương tự, phải bảo đảm mức độ áp lực âm thanh ít nhất là 110dB ở khoảng cách 1m tính từ chuông hoặc cồng.
b. Cấu tạo:
Chuông và cồng phải được chế tạo bằng vật liệu chống ăn mòn và phát ra một âm thanh trong trẻo. Đường kính miệng chuông không được nhỏ hơn 300mm đối với tàu thuyền có chiều dài từ 20m trở lên. Nếu thực tế cho phép có thể bố trí đánh chuông bằng máy để đảm bảo cường độ âm thanh không thay đổi, nhưng vẫn phải đảm bảo được cho trường hợp đánh chuông bằng tay. Khối lượng dùi đánh chuông không nhỏ hơn 3% khối lượng của chuông.
3. Sự chấp thuận:
Cấu tạo của những thiết bị phát âm hiệu, đặc tính và cách bố trí chúng trên tàu thuyền phải thoả mãn yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Quốc gia mà tàu thuyền mang cờ quốc tịch.

Phụ lục IV
NHỮNG TÍN HIỆU CẤP CỨU

1. Những tín hiệu sau đây sử dụng hoặc trưng ra cùng một lúc hay riêng rẽ, báo hiệu tàu thuyền bị nạn và cần trợ giúp.
a. Cứ cách khoảng 1 phút cho nổ một phát súng hoặc tiếng nổ nào khác.
b. Dùng bất kỳ một thiết bị phát tín hiệu sa mù nào đó để phát ra âm thanh liên tục.
c. Từng thời gian ngắn bắn một pháo hoa hoặc bắn đạn có tín hiệu hình sao màu đỏ.
d. Dùng vô tuyến điện báo hoặc phương tiện thông tin khác phát ra tín hiệu moóc sơ … --- … (SOS).
e. Dùng vô tuyến điện thoại phát ra tiếng MAYDAY.
f. Tín hiệu cấp cứu NC theo luật tín hiệu quốc tế.
g. Treo một tín hiệu gồm 1 cờ hình vuông ở bên trên hay bên dưới một quả cầu hoặc một vật có dạng hình cầu.
h. Đốt lửa trên tàu thuyền (như đốt thùng nhựa, thùng dầu…)
i. Pháo sáng có dù hay pháo cầm tay phát ra ánh sáng màu đỏ.
j. Phát tín hiệu có các đám khói màu da cam.
k. Dang hai cánh tay ra và từ từ giơ lên hạ xuống nhiều lần.
l. Phát tín hiệu báo động bằng vô tuyến điện báo.
m. Phát tín hiệu báo động bằng vô tuyến điện thoại.
n. Phát tín hiệu bằng vô tuyến điện định vị chỉ báo vị trí tàu bị nạn (EPIRB).
o. Phát tín hiệu đã được chấp thuận bằng hệ thống thông tin liên lạc vô tuyến điện, kể cả bằng thiết bị phát báo radar của phương tiện cứu sinh.
2. Cấm sử dụng hoặc trưng ra một trong số các tín hiệu trên vào mục đích khác, ngoài trường hợp bị nạn xin cấp cứu. Cấm sử dụng những tín hiệu khác có thể nhầm lẫn với những tín hiệu kể trên.
3. Cần lưu ý đến những Chương có liên quan trong Bộ luật về tín hiệu quốc tế, Sổ tay về tìm kiếm và cứu nạn dùng cho các thương thuyền và sử dụng các tín hiệu sau đây.
a. Giơ ra một mảnh vải màu da cam với hoặc một hình vuông và một hình tròn màu đen hoặc một dấu hiệu tượng trưng khác thích hợp (để dễ nhận biết được từ trên không).
b. Tạo ra vệt màu trên mặt nước
1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương