BỘ TƯ pháp số: 151 /bc-btp cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 0.53 Mb.
trang4/5
Chuyển đổi dữ liệu09.07.2016
Kích0.53 Mb.
1   2   3   4   5

ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NHỮNG MẶT ĐƯỢC,

CHƯA ĐƯỢC CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005



I. Những mặt được


BLDS được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đã có kinh nghiệm gần 20 năm đổi mới, xây dựng nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế (năm 2005 thực hiện các hoạt động chuẩn bị trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới, năm 2007 trở thành thành viên chính thức).

Nhiều nội dung quan trọng trong BLDS năm 1995 đã được sửa đổi, bổ sung cơ bản trong BLDS năm 2005, trong đó:

- Thứ nhất, phạm vi điều chỉnh của BLDS đã được quy định rộng hơn, theo hướng là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động;

- Thứ hai, BLDS đã thừa nhận nguyên tắc các chủ thể trong quan hệ dân sự “được làm những gì mà pháp luật không cấm” thay vì “được làm những gì phù hợp với quy định của pháp luật” được quy định trong BLDS năm 1995;

- Thứ ba, bổ sung nhiều quyền nhân thân quan trọng như: Quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33); Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết (Điều 34); Quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35); Quyền xác định lại giới tính (Điều 36); bãi bỏ các quy định về đăng ký hộ tịch;

- Thứ tư, bổ sung thêm một số quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản;

- Thứ năm, quy định về hình thức của giao dịch thông thoáng hơn trong việc hạn chế khả năng giao dịch bị tuyên bố vô hiệu chỉ vì vi phạm hình thức giao dịch trong mọi trường hợp;

- Thứ sáu, sửa đổi, bổ sung các quy định về bảo đảm nghĩa vụ dân sự cho phù hợp với thực tiễn giao dịch (không quy định phạt vi phạm là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ, quy định đối tượng của cầm cố, thế chấp đều có thể là động sản hoặc bất động sản);

- Thứ bảy, quy định về hợp đồng trong BLDS là quy định chung cho tất cả các hợp đồng trong quan hệ dân sự, thương mại. Các quy định về hình thức hợp đồng, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, một số hợp đồng thông dụng được sửa đổi, bổ sung... Pháp lệnh hợp đồng kinh tế bị bãi bỏ;

- Thứ tám, sửa đổi một số vấn đề khác về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ...


II. Những mặt chưa được


Bên cạnh những mặt đã đạt được nêu trên, BLDS cũng đã tồn tại nhiều mặt chưa được, trong đó:

- Thứ nhất, BLDS và hệ thống văn bản luật trong hệ thống luật tư còn chưa thể hiện đầy đủ các yêu cầu đối với hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền: (1) tính ổn định, (2) tính khái quát, (3) tính hệ thống, (4) tính dự báo, (5) tính minh bạch. Đặc biệt trong việc đáp ứng sự phát triển thường xuyên, liên tục của các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự;

- Thứ hai, trong bối cảnh hệ thống luật tư của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, với rất nhiều các luật chuyên ngành điều chỉnh trong các lĩnh vực cụ thể về dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình, thì BLDS chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu là nền tảng pháp lý cơ bản (luật chung) của hệ thống luật tư. Tuy Điều 1 của BLDS có quy định về phạm vi điều chỉnh bao gồm tất cả những quan hệ thuộc lĩnh vực luật tư nhưng các quy định trong Bộ luật này chưa thể hiện rõ là các quy định mang tính nguyên tắc của các quan hệ chuyên ngành.

Đồng thời, BLDS với vai trò là nền tảng pháp lý của hệ thống luật tư cần bảo đảm tính ổn định trong quy định của mình và không quy định những quan hệ đặc thù cần được điều chỉnh ở các luật chuyên ngành. Tuy nhiên, Bộ luật hiện hành vẫn còn một số quy định chưa đáp ứng được yêu cầu trên;

- Thứ ba, BLDS còn thiếu vắng những quan điểm lý luận có tính hệ thống về việc phân định quyền tài sản theo nguyên lý vật quyền và trái quyền. Quyền của người không phải là chủ sở hữu chưa được quy định đúng với vai trò của họ trong nền kinh tế thị trường và trong việc phát huy giá trị hàng hóa của tài sản;

- Thứ tư, quy định về chủ thể, giao dịch, đại diện, tài sản và quyền sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng, thừa kế còn có những quy định khó áp dụng trong thực tiễn; có thể tạo nguy cơ cao cho giao dịch bị tuyên bố vô hiệu hoặc bị hủy bỏ; chưa thực sự có cơ chế pháp lý hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích của bên thứ ba ngay tình, của bên thiện chí trong quan hệ dân sự…;

- Thứ năm, BLDS chưa có sự đồng bộ trong kết cấu và quy định về nội dung giữa các phần, chế định của Bộ luật: (1) BLDS được cấu trúc theo phần chung và phần riêng, có nghĩa là những quy định tại phần chung sẽ áp dụng chung và những quy định tại phần riêng chỉ quy định về những vấn đề đặc thù chưa được quy định tại phần chung. Tuy nhiên, trong các phần cụ thể, một số quy định lại lặp lại nội dung được quy định tại phần chung, tạo ra những quy định không cần thiết; một số trường hợp lặp lại không đầy đủ, gây ra những cách hiểu khác nhau. Bên cạnh đó, cũng là quy định về cùng một vấn đề nhưng có những trường hợp điều luật rất đầy đủ và chi tiết, điều luật khác thì lại chung chung…



Phần thứ tư

MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN

TRONG XÂY DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)

I. Mục tiêu

Việc sửa đổi, bổ sung lần này là nhằm xây dựng BLDS trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; góp phần ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của tổ chức, cá nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.



II. Các quan điểm xây dựng dự án Luật

BLDS là một đạo luật có ý nghĩa lớn không chỉ về mặt kinh tế - xã hội mà còn về mặt thứ bậc trong hệ thống pháp luật, luật chung của hệ thống luật tư. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật này cần phải quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau đây:

Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ các quan điểm mới của Đảng đã được ghi nhận tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 và Cương lĩnh xây dựng Đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); cụ thể hoá những tư tưởng, nguyên tắc cơ bản của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được ghi nhận trong sửa đổi Hiến pháp về quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu và thành phần kinh tế...; tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực của đời sống dân sự;

Thứ hai, xây dựng BLDS là luật chung của hệ thống luật tư, phải có tính khái quát và tính dự báo cao để một mặt bảo đảm tính ổn định của Bộ luật, mặt khác, không làm thay các đạo luật chuyên ngành, đáp ứng được kịp thời sự phát triển thường xuyên, liên tục của các quan hệ xã hội vốn rất năng động thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự;

Thứ ba, đảm bảo BLDS thực sự trở thành Bộ luật của quan hệ thị trường thông qua việc ghi nhận một cách nhất quán nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của bên yếu thế; hạn chế đến mức tối đa sự can thiệp của cơ quan công quyền vào việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ dân sự; đáp ứng tốt hơn yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam;

Thứ tư, Bộ luật phải đảm bảo tính kế thừa và phát triển các quy định còn phù hợp với thực tiễn của pháp luật dân sự, cũng như các giá trị văn hóa, tập quán, truyền thống đạo đức tốt đẹp của Việt Nam; tham khảo kinh nghiệm xây dựng BLDS của nước ngoài, nhất là các nước có điều kiện kinh tế xã hội tương đồng với Việt Nam.



III. Phạm vi sửa đổi, bổ sung và một số định hướng cơ bản trong việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự

1. Phạm vi sửa đổi

Căn cứ vào thực trạng quy định của BLDS, mục tiêu và quan điểm trong xây dựng dự án Luật như đã báo cáo ở trên, phạm vi sửa đổi, bổ sung BLDS là cơ bản, toàn diện.



2. Một số định hướng cơ bản trong việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự

Để sửa đổi cơ bản BLDS thì tất cả các phần, chế định của Bộ luật sẽ được xem xét nghiên cứu một cách nghiêm túc để tìm ra định hướng cũng như các giải pháp cụ thể để hoàn thiện Bộ luật này. Tuy nhiên, trong phạm vi Báo cáo này, cơ quan chủ trì soạn thảo xin đề xuất một số định hướng cơ bản, những vấn đề khác sẽ được xem xét nghiêm túc để đưa ra định hướng sửa đổi, bổ sung cụ thể trong quá trình thực hiện dự án Luật.



a) Về vị trí, vai trò của BLDS

Xác định rõ và nhất quán vị trí, vai trò của BLDS với tư cách là luật chung của hệ thống pháp luật tư. Theo đó, BLDS (sửa đổi) cần có điều, khoản quy định cụ thể về việc ghi nhận được một cách chính thức vị trí của BLDS trong hệ thống pháp luật tư và mối quan hệ giữa Bộ luật này với các luật chuyên ngành theo hướng: Bộ luật này đưa ra những quy định cơ bản liên quan đến quan hệ pháp luật dân sự. Trong trường hợp không có quy định khác trong các luật chuyên ngành thì những quy định của Bộ luật này được áp dụng.



b) Về chủ thể quan hệ pháp luật dân sự

Cần hoàn thiện hơn nữa địa vị pháp lý của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, nhất là đối với hộ gia đình và tổ hợp tác. Qua thực tiễn thi hành, hiện có ý kiến cho rằng, BLDS không nên tiếp tục ghi nhận hộ gia đình và tổ hợp tác với tư cách là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự mà thay vào đó cần điều chỉnh bằng chế định khác trong BLDS cho phù hợp với bản chất pháp lý của chúng, như: điều chỉnh hộ gia đình bằng chế định sở hữu chung, đại diện và các chế định khác có liên quan; điều chỉnh tổ hợp tác bằng chế định hợp đồng hợp tác (dự kiến được bổ sung trong phần Nghĩa vụ và hợp đồng - trái quyền).

Tuy nhiên, việc BLDS tiếp tục quy định hay không quy định 2 loại chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự nêu trên có tác động to lớn, không chỉ thuần túy về mặt học thuật mà còn trên cả phương diện chính trị, xã hội. Vì vậy, vấn đề này sẽ được tiếp tục nghiên cứu một cách cẩn trọng, khách quan, nghiêm túc để tìm ra cơ sở vững chắc hơn nữa trước khi trình Chính phủ và Quốc hội theo định hướng không tiếp tục ghi nhận hộ gia đình và tổ hợp tác là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự mà quy định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của hộ gia đình, tổ hợp tác thông qua các chế định sở hữu chung, đại diện, chế định hợp đồng hợp tác và các chế định khác có liên quan.

c) Về quyền của người không phải là chủ sở hữu

BLDS cần quy định đầy đủ và rõ ràng hơn về quyền của người không phải chủ sở hữu (hay còn gọi là các loại vật quyền khác).

BLDS hiện hành chỉ tập trung quy định về quyền sở hữu, còn quyền của người không phải là chủ sở hữu chỉ được quy định như là một nội dung của quyền sở hữu, “mờ nhạt” và không đầy đủ. Trong thực tiễn, các quan hệ dân sự liên quan đến người không phải là chủ sở hữu đã và đang rất phổ biến như là một tất yếu của nền kinh tế thị trường. Do đó, phần thứ hai của BLDS hiện hành cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng, bên cạnh quy định về quyền sở hữu thì cần quy định cụ thể hơn về quyền của người không phải là chủ sở hữu, phát huy cao nhất vai trò của họ trong nền kinh tế thị trường và trong việc phát huy giá trị hàng hóa của tài sản. Tên gọi của phần này cũng cần được đổi thành Phần quyền sở hữu và quyền của người không phải là chủ sở hữu (vật quyền khác). Trong đó quy định cụ thể các nguyên tắc chung về quyền sở hữu và quyền của người không phải là chủ sở hữu; bổ sung các quyền của người không phải là chủ sở hữu như quyền hưởng dụng, quyền của bên nhận cầm cố, nhận thế chấp, quyền ưu tiên, quyền địa dịch...

d) Về hình thức sở hữu

Cần xác định lại các hình thức sở hữu trong BLDS theo nguyên tắc phân loại dựa trên sự khác biệt về nội dung quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt). Theo đó, BLDS (sửa đổi) cần cân nhắc hai phương án quy định về hình thức sở hữu như sau: (1) BLDS chỉ nên quy định hai hình thức sở hữu trong giao lưu dân sự là sở hữu riêng và sở hữu chung. Trong đó, sở hữu riêng là sở hữu của một chủ thể, bao gồm cá nhân, pháp nhân; sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể. Trong hai hình thức sở hữu này đã bao gồm tài sản thuộc chế độ sở hữu tư nhân, chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu Nhà nước. Việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản công theo các quyết định hành chính không quy định trong Bộ luật dân sự mà được thực hiện theo quy định của Hiến pháp và các luật khác có liên quan (các luật chuyên ngành); (2) ngoài quy định sở hữu chung và riêng thì Bộ luật dân sự cần quy định cả sở hữu toàn dân (có ý kiến đề nghị sở hữu nhà nước).

Với định hướng như trên thì hình thức sở hữu đối với tài sản của các tổ chức chính trị; tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp; tổ chức xã hội; tổ chức xã hội - nghề nghiệp có thể thuộc hình thức sở hữu riêng nhưng cũng có thể thuộc hình thức sở hữu chung (trong trường hợp các tổ chức này đồng sở hữu với các chủ thể khác về một tài sản).

đ) Bổ sung chế định chiếm hữu

Theo quy định hiện hành, quyền chiếm hữu chỉ được quy định như là một quyền năng của chủ sở hữu mà không xây dựng thành một chế định độc lập với chế định sở hữu và cũng không quy định hệ thống các biện pháp pháp lý nhằm bảo vệ tình trạng chiếm hữu có phân biệt với hệ thống bảo vệ quyền sở hữu.

Để bảo đảm quy định phù hợp với bản chất pháp lý của chiếm hữu, BLDS (sửa đổi) cần quy định chế định này như là một tình trạng pháp lý độc lập và là căn cứ xác lập quyền sở hữu, quyền của người không phải là chủ sở hữu (vật quyền khác).

e) Về nghĩa vụ và hợp đồng

BLDS cần tạo cơ chế pháp lý đầy đủ, rõ ràng hơn để bảo đảm tính ổn định cao của quan hệ thị trường; khắc phục tình trạng nhiều quan hệ hợp đồng bị các bên chấm dứt một cách tùy tiện hoặc bị Tòa án tuyên bố vô hiệu một cách cứng nhắc. Một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu của kinh tế thị trường là phải bảo đảm tính ổn định của các quan hệ phát sinh trong lưu thông hàng hóa. Vì vậy việc bảo đảm cho các quan hệ này không bị tùy tiện thay đổi hoặc hủy bỏ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của pháp luật tư nói chung và của BLDS nói riêng. BLDS hiện hành chưa thực hiện tốt được yêu cầu này.

Trước yêu cầu trên, một số vấn đề quan trọng sau đây cần được xem xét sửa đổi, bổ sung:

Một là, quy định về việc “vi phạm nghiêm trọng” hợp đồng, theo đó, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì chỉ khi nào một bên có hành vi vi phạm nghiêm trọng hợp đồng thì bên kia mới có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ hợp đồng. Sự bổ sung này là hết sức cần thiết để giảm thiểu thực trạng hợp đồng có thể dễ dàng bị hủy bỏ chỉ vì một bên hoặc cả hai bên vi phạm một điều khoản bất kỳ nào đó mà không phụ thuộc vào mục đích giao kết hợp đồng của các bên đã đạt được hay chưa. Như vậy, “vi phạm nghiêm trọng” không chỉ là một khái niệm khoa học mà là căn cứ pháp lý góp phần quan trọng vào việc ổn định các quan hệ hợp đồng, ổn định giao lưu dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể - một yêu cầu khách quan của bất cứ nền kinh tế thị trường nào;

Hai là, hoàn thiện hơn nữa các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo hướng giảm thiểu tối đa các trường hợp hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu. Ví dụ: quy định của BLDS về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng liên quan đến nội dung, mục đích của hợp đồng đã không có sự đồng bộ, thống nhất. Về nguyên tắc, hợp đồng sẽ không bị vô hiệu nếu mục đích, nội dung của nó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội (Điều 4 và Điều 122). Tuy nhiên, theo Điều 389 của Bộ luật này thì một hợp đồng vẫn có thể bị vô hiệu nếu có mục đích và nội dung trái pháp luật. Xét về bản chất pháp lý, “vi phạm điều cấm”“trái pháp luật” là hai vấn đề khác nhau, nếu không có sự phân biệt một cách rạch ròi giữa hai khái niệm này thì có thể là nguyên nhân dẫn tới sự mở rộng khả năng vô hiệu của hợp đồng, gây ảnh hưởng xấu đến tính ổn định của quan hệ thị trường. BLDS cần quy định thống nhất nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nếu không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

Ba là, hoàn thiện hơn nữa các quy định liên quan đến hình thức của hợp đồng và cách thức xử lý đối với hợp đồng có vi phạm về hình thức.

Để hạn chế việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức của hợp đồng, BLDS hiện hành quy định đối với một số hợp đồng nhất định thì hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (khoản 2 Điều 122; khoản 2 Điều 124; Điều 401). Trong trường hợp có vi phạm quy định về hình thức của hợp đồng thì Tòa án, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác có quyền buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn, quá thời hạn đó mà các bên không thực hiện nhiệm vụ này thì hợp đồng sẽ bị tuyên bố là vô hiệu (Điều 134). Quy định này có nội dung tiến bộ so với trước vì đã tạo cho các bên có thêm cơ hội để sửa chữa sai sót của mình về hình thức hợp đồng nhưng nhìn chung, vẫn chưa giúp khắc phục được tình trạng rất phổ biến hiện nay là nhiều hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức. Vì vậy, cần quy định về vấn đề này theo hướng, trong trường hợp có vi phạm về hình thức nhưng hợp đồng đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ, mục đích của hợp đồng đã đạt được thì hợp đồng được coi là có hiệu lực pháp luật.

g) Về cơ chế bảo vệ các quyền dân sự

BLDS cần tăng cường cơ chế để bảo vệ tốt hơn các quyền dân sự, nhất là quyền được bồi thường thiệt hại. Quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hợp đồng nói riêng chỉ có thể phát triển, mở rộng nếu các quyền và lợi ích phát sinh từ các quan hệ này được pháp luật ghi nhận và bảo hộ bằng các cơ chế pháp lý hữu hiệu. Vì vậy, một định hướng quan trọng trong sửa đổi, bổ sung BLDS là hoàn thiện hơn nữa các cơ chế pháp lý này, như:

Thứ nhất, xây dựng chế độ bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không cần phải chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại và bên gây thiệt hại chỉ được loại trừ trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng hoặc do lỗi hoàn toàn của bên bị thiệt hại trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

BLDS hiện hành mặc dù cũng đã quy định một số trường hợp chịu trách nhiệm tài sản mà không cần lỗi, nhưng về cơ bản, lỗi vẫn là điều kiện ràng buộc để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong khi Luật lại không quy định cụ thể người gây thiệt hại hay người bị thiệt hại có trách nhiệm chứng minh về lỗi. Trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, nghĩa vụ chứng minh thường thuộc về người có yêu cầu giải quyết việc bồi thường. Điều đó đã tạo ra một gánh nặng pháp lý rất lớn, rất khó thực hiện cho người bị thiệt hại. Vì vậy, để bảo vệ tốt hơn quyền của các bên trong giao lưu dân sự, cần sửa đổi, bổ sung BLDS theo hướng thay thế chế độ trách nhiệm tài sản cần có lỗi bằng chế độ trách nhiệm tài sản mà bên bị thiệt hại không cần phải chứng minh lỗi. Đây là một việc làm cần thiết vì các lý do chủ yếu sau đây:

Một là, chế độ trách nhiệm này bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong giao lưu dân sự, qua đó thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các quan hệ thị trường;

Hai là, pháp luật hiện hành trong một số lĩnh vực cũng đã được xây dựng theo xu hướng này. Ví dụ, theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì người bị thiệt hại không cần phải chứng minh lỗi của công chức đã gây thiệt hại vì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường các thiệt hại do công chức của mình gây ra khi thi hành công vụ ngay cả trong trường hợp công chức không có lỗi (Điều 6);

Ba là, phù hợp với xu hướng chung trên thế giới hiện nay là ngày càng mở rộng hơn phạm vi áp dụng, nguyên tắc trách nhiệm dân sự mà theo đó bên bị thiệt hại không cần phải chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại.

Thứ hai, để tăng cường cơ chế bảo vệ quyền dân sự thì cách tính thời hiệu cũng phải có sự thay đổi cho phù hợp thực tiễn. BLDS hiện hành quy định nguyên tắc chung là thời hiệu được tính từ thời điểm xảy ra hành vi vi phạm mà không phụ thuộc bên bị vi phạm biết hay không biết về việc quyền của mình bị xâm phạm. Trên thực tế, vì nhiều lý do chính đáng khác nhau mà bên bị vi phạm không biết hoặc không thể biết về việc bên kia đã xâm phạm quyền hoặc vi phạm nghĩa vụ đối với mình. Cách xác định như Luật hiện hành là không phù hợp với thực tiễn, không bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của người bị vi phạm. Theo thông lệ quốc tế, thời hiệu được tính từ ngày người bị thiệt hại biết hoặc phải biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.



h) Về cấu trúc của Bộ luật dân sự

Trên cơ sở một số định hướng cơ bản được báo cáo ở trên và qua tham khảo ý kiến của các Bộ, ngành, tổ chức ở Trung ương, các địa phương, các nhà khoa học thì cấu trúc của BLDS và kỹ thuật lập pháp trong xây dựng BLDS cần được sửa đổi cho phù hợp. Theo đó, BLDS cần được kết cấu lại thành 5 phần thay vì 7 phần như hiện hành, cụ thể như sau:

- Phần thứ nhất. Những quy định chung;

- Phần thứ hai. Quyền sở hữu và các loại vật quyền khác;



- Phần thứ ba. Nghĩa vụ và hợp đồng (cách gọi khác là Trái quyền);

- Phần thứ tư. Thừa kế;

- Phần thứ năm. Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

Kết cấu này tương tự với kết cấu của BLDS nhiều nước trên thế giới (Đức, Thụy Sỹ, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan...).

Phần thứ năm (Quy định về chuyển quyền sử dụng đất) và Phần thứ sáu (Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ) của BLDS không nên tái kết cấu vào trong BLDS (sửa đổi). Tuy nhiên, những nội dung lớn có liên quan sẽ được quy định phù hợp ở các chế định tài sản, quyền sở hữu, quyền của người không phải là chủ sở hữu, nghĩa vụ, hợp đồng và thừa kế; những quy định điều chỉnh các quan hệ đặc thù thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật chuyên ngành thì sẽ quy định ở luật chuyên ngành có liên quan, ví dụ: Luật đất đai, Luật sở hữu trí tuệ...

Đồng thời, BLDS cũng cần được xây dựng đồng bộ, thống nhất giữa kết cấu và nội dung theo nguyên tắc: những quy định tại phần chung sẽ áp dụng chung và các phần riêng quy định về những nội dung pháp lý đặc thù chưa được quy định tại phần chung. Qua đó, khắc phục được những bất cập trong việc quy định không đồng bộ, còn lặp lại ở nhiều nội dung giữa phần chung và các phần riêng, cũng như trong mỗi phần của BLDS hiện hành; tạo ra những quy định không cần thiết; một số quy định lặp lại không đầy đủ, không thống nhất gây ra những cách hiểu khác nhau trong áp dụng pháp luật.

1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương