BỘ NÔng nghiệP & phát triển nông thôn cục trồng trọt giới Thiệu



tải về 0.59 Mb.
trang3/6
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.59 Mb.
1   2   3   4   5   6

GIỐNG LÚA VNĐ 95-20


1. Nguồn gốc

Tác giả và cơ quan tác giả: Đỗ Khắc Thịnh, Hùng Phi Oanh, Nguyễn Thị Cúc, Đào Minh Sô, Nguyễn Ngọc Oanh – Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam.

Phương pháp chọn tạo: Đột biến phóng xạ gamma Co60, trên giống IR64 và chọn lọc phả hệ.

Được công nhận giống quốc gia năm 1999 theo Quyết định số 3493 QĐ/BNN-KHCN ngày 9/9/1999. Hiện nay là một trong những giống có diện tích lớn nhất trong sản xuất.



2. Những đặc tính chủ yếu

Thời gian sinh trưởng vụ Đông Xuân 90 – 95 ngày, vụ Hè Thu 95 – 102 ngày.

Chiều cao cây 85 - 90 cm, cứng cây, đẻ nhánh trung bình, lá đòng thẳng, khối lượng 1.000 hạt 25 – 27g. Hạt gạo dài 7,2 – 7,4 mm, không bạc bụng (hạt gạo trong, sáng, đẹp, thích hợp xuất khẩu); độ hóa kiềm cấp 5 – 6, amyloza 20 – 22 %, cơm mềm, dẻo. Năng suất trung bình vụ Đông Xuân 6 – 8 tấn/ha, Hè Thu 5 – 7 tấn/ha.

Kháng rầy nâu, ít nhiễm bệnh đạo ôn, ít nhiễm vàng lá, đốm, chịu phèn, chịu gió khá tốt.



3. Hướng dẫn sử dụng và yêu cầu kỹ thuật

Thời vụ thích hợp: Hè Thu, Mùa, Đông Xuân trên nhiều chân đất khác nhau.

Các lưu ý trong sản xuất: Là một trong 5 giống chủ lực cho xuất khẩu ở các tỉnh phía Nam, giống có tính ổn định cao, trong điều kiện thâm canh có thể đạt 9 tấn/ ha/ vụ.
GIỐNG LÚA OM 576

1. Nguồn gốc

Tác giả và cơ quan tác giả: Viện lúa ĐBSCL.

Giống OM 576 được chọn lọc từ tổ hợp lai Hungary/ IR 48 từ năm 1982 và được công nhận chính thức từ năm 1990.

2. Những đặc điểm chủ yếu

Thời gian sinh trưởng cực ngắn, khoảng 90 ngày trong điều kiện sạ thẳng, 95 ngày khi gieo mạ cấy; chiều cao cây trung bình 90 – 95 cm. Năng suất trung bình đạt 4,5 – 5,5 tấn/ ha; thâm canh cao có thể đạt 7,0 – 7,5 tấn/ ha. OM 576 có hạt gạo hơi ngắn, chiều dài hạt gạo trung bình 6,5 mm; khối lượng 1000 hạt 24 gram; tỉ lệ bạc bụng thấp, cơm mềm, ngon.

Kháng rầy nâu trung bình (3-5), hơi nhiễm bệnh đạo ôn, nhiễm nhẹ bệnh khô vằn; giống rất dai hạt.

3. Hướng sử dụng và yêu cầu kỹ thuật

Giống OM 576 thích nghi rộng, hiện là 10 giống lúa chủ lực có diện tích sản xuất rất rộng ở ĐBSCL. Trong thực tế, OM 576 nhiễm nhẹ rầu nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá. OM 576 có thể trồng cả trong 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu, phù hợp vùng sản xuất lúa gạo chất lượng trung bình sử dụng giống ngắn ngày.



Lưu ý: Cần phục tráng, làm thuần giống để phát huy tốt tiềm năng của giống.
GIỐNG LÚA OMCS 2000

1. Nguồn gốc

Tác giả và cơ quan tác giả: Nguyễn Văn Loãn, Lê Thị Dự, Huỳnh Thị Phương Loan, Trần Minh Tuấn, Phạm Thị Mùi, Lưu Văn Quỳnh, Nguyễn Hữu Hà Linh, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu – Viện lúa ĐBSCL.

Nguồn gốc: Được tạo ra từ tổ hợp lai OM1723/ MRC19399.

Phương pháp chọn tạo: Lai cổ truyền năm 1996, chọn lọc theo phương pháp phả hệ và đưa vào khảo nghiệm từ năm 1999.

Được khu vực hóa theo Quyết định số 5218 BNN-KHCN/QĐ ngày 16/11/2000 và công nhận chính thức là giống quốc gia năm 2002 theo Quyết định số 5310 QĐ/BNN-KHCN ngày 29/11/2002.

2. Những đặc tính chủ yếu

Thời gian sinh trưởng 90 - 95 ngày trong điều kiện sạ thẳng.

Chiều cao cây 95 – 110 cm, thân rạ cứng trung bình, đẻ nhánh khá. Có phẩm chất gạo tốt, tương đương với OM 997-6 và cao hơn OM 1490; hạt gạo dài 7,3 mm; tỉ lệ dài/rộng 3,3; ít bạc bụng; tỉ lệ amyloza 25,6%; cơm mềm và đậm. Năng suất vụ Đông Xuân 6 – 8 tấn/ ha và Hè Thu 4,0 – 5,5 tấn/ ha tương đương và cao hơn giống lúa OM 997-6 và OM 1490.

Trong điều kiện thử nghiệm nhân tạo, OMCS 2000 nhiễm bệnh đạo ôn (cấp 7) và hơi nhiễm rầy nâu (cấp 5), chịu phèn khá.



3. Hướng dẫn sử dụng và yêu cầu kỹ thuật

Thích hợp ở vụ Đông Xuân và Hè Thu trên đất phù sa và đất phèn nhẹ đền trung bình.



Các lưu ý trong sản xuất: chịu thâm canh trung bình, không bón lượng đạm qúa cao, không cân đối dễ dẫn đến đổ ngã.
GIỐNG LÚA IR64 (OM89)

1. Nguồn gốc

Tác giả và cơ quan tác giả: Viện lúa ĐBSCL.

Nguồn gốc và phương pháp: Giống lúa IR 64 được tuyển chọn từ giống nhập nội IR18348 – 36-3-3 của Viện lúa quốc tế IRRI.

IR 64 được tuyển chọn từ năm 1983 và được công nhận chính thức năm 1989. Hiện là giống lúa chủ lực trong sản xuất ở Nam bộ, Tây Nguyên.



2. Những đặc tính chủ yếu

Thời gian sinh trưởng 105 – 115 ngày trong điều kiện gieo mạ cấy và 95 – 100 ngày khi sạ thẳng.

Chiều cao cây trung bình 95 – 105 cm. Dạng hạt thon dài (7,5 mm), khối lượng 1000 hạt 26 – 27g. Tỉ lệ gạo trên 70%, bạc bụng thấp (cấp 1), gạo trắng, cơm dẻo, ngon, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, được nhiều nước ưu chuộng. Năng suất bình quân, vụ Hè Thu 4 – 5 tấn/ ha, vụ Đông Xuân 6,0 – 6,5 tấn/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt 7,0 – 8,0 tấn/ha.

Kháng rầy nâu (cấp 3-5), rất kháng đạo ôn (cấp 1), hơi kháng bạc lá (cấp 3-5), nhiễm khô vằn (cấp 5-7).



3. Hướng dẫn sử dụng và yêu cầu kỹ thuật

Khả năng thích ứng rộng, có thể gieo cấy trên chân đất phù sa cổ có Glây hóa. Trên đất phù sa phèn nhẹ cho năng suất cao hơn các giống đang sử dụng. Trồng được cả 2 vụ: Đông Xuân gieo mạ tháng 11 – 12, vụ Hè Thu gieo mạ tháng 4 – 5. Cấy khi mạ khoảng 20 – 25 ngày. Có thể đưa vào sản xuất gạo xuất khẩu. Ở các tỉnh phía Bắc trong vụ Xuân muộn hoặc vụ Mùa sớm, vụ Hè Thu ở miền Trung.

Mật độ cấy 44 – 50 khóm/m2 hoặc gieo sạ với lượng hạt giống khoảng 180 kg/ha. Giống chịu thâm canh khá cao, có thể bón 80 – 100 N/ha.

Lưu ý: IR 64 có ưu thế cao hơn trong vụ Đông Xuân; vụ Hè Thu dễ bị lép, đổ nếu bón đạm thiếu cân đối với lân và kali.
GIỐNG LÚA OM 3536 (OMCS 21)

1. Nguồn gốc

Tác giả và cơ quan tác giả: Nguyễn Văn Loãn và CTV: Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu – Viện lúa ĐBSCL.

Nguồn gốc và phương pháp: Giống lúa OM3536 có nguồn gốc từ tổ hợp lai TĐ8/ OM1738.

Giống đã được công nhận giống quốc gia năm 2004 theo Quyết định số 2182 QĐ/ BNN-KHCN ngày 29 tháng 7 năm 2004.



2. Những đặc tính chủ yếu

Giống có thời gian sinh trưởng 95 – 100 ngày trong điều kiện cấy và 85 - 90 ngày khi gieo sạ.

Chiều cao cây 90 – 100 cm, khả năng đẻ nhánh khá, số bông/m2 khoảng 312 bông. Khối lượng 1000 hạt đạt 26,2 g, hàm lượng amyloza 22 – 23%, có mùi thơm trung bình, độ bạc bụng cấp 0, chiều dài hạt gạo 7,1 – 7,5mm. Năng suất trung bình của giống đạt 4,0 tấn/ ha vụ Hè Thu và vụ Đông Xuân 6,0 tấn/ ha.

Giống hơi nhiễm rầy nâu (cấp 5) và hơi kháng bệnh đạo ôn (cấp 3).



3. Hướng dẫn sử dụng và yêu cầu kỹ thuật

OM 3536 có thể trồng được cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu. Giống thích nghi rộng, dễ canh tác, gạo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, hiện đang là một trong 5 giống chủ lực dùng xuất khẩu và đang được trồng nhiều ở các địa phương như An Giang, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng.



Lưu ý: OM 3536 hơi yếu cây và không chịu thâm canh cao. Chú ý bón phân đạm vừa phải và cân đối.
GIỐNG LÚA IR 50404

1. Nguồn gốc

Giống lúa IR 50404 có nguồn gốc từ Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) được nhập vào Việt Nam đầu năm 1990. Giống IR 50404 do Bộ môn Cây lương thực – Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam chọn lọc và phát triển. Giống IR 50404 được công nhận chính thức vào năm 1992.



2. Đặc điểm nông học

Giống IR 50404 có thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 90 ngày trong điều kiện sạ thẳng; chiều cao cây thấp (85 – 90 cm), đẻ nhánh khá, số hạt/bông trung bình (65 – 70 ), tỉ lệ hạt chắc cao.

IR 50404 chịu phèn mặn khá, dễ tính, thích ứng rộng có thể gieo trồng và đạt năng suất cao trong cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu. Ở thời điểm công nhận giống IR 50404 kháng cao rầy nâu và nhiễm nhẹ bệnh đạo ôn và khô vằn. Hiện nay IR 50404 vẫn được gieo trồng trên diện tích rất rộng ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL; giống nhiễm rầy cục bộ ở một số địa phương.

Nhược điểm cơ bản của IR 50404 là chất lượng gạo thấp (hạt hơi ngắn và tỉ lệ bạc bụng khá cao).



3. Hướng sử dụng và yêu cầu kỹ thuật

IR 50404 có thể gieo trồng trong cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu, đặc biệt thích hợp ở vùng đất nhiễm phèn nhẹ đến trung bình, và những vùng cần giống cực ngắn ngày để tránh mặn trong vụ Đông Xuân và né lũ trong vụ Hè Thu. Tuy nhiên IR 50404 có chất lượng gạo thấp, không nên bố trí sản xuất ở những vùng lúa cao sản chất lượng cao cho xuất khẩu.



Lưu ý: Cần phục tráng, làm thuần giống để phát huy tốt tiềm năng của giống.

1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương